Tro Than (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 1

Tro Than (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 1

TRO THAN
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Đồng Nai xuất bản (Sài Gòn – 1972)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I & II 2014)

CHƯƠNG MỘT

Trả tiền cuốc xe xong, Hóa xách vội chiếc va-ly cắm cúi bước vào trong ngõ. Trên lối đi lổn nhổn gạch đá, đất đỏ ướt, mưa còn để lại từng vũng nước trên các chỗ trũng. Trên mặt tường loang lổ kéo dài sâu theo lối ngõ, Hóa vẫn nhìn thấy những khẩu hiệu cổ động cho một cuôc bầu cử đã xa, những ngày Hóa đang còn học Trung Học, được quét lên một lần vôi, và trên lần vôi mới đó, lại có những hàng chữ cổ động cho một cuộc bầu cử vào tháng tám sắp tới. Người ta đã chồng chất các công việc  lên nhau và đã tạo ra những tình thế tương tự, càng ngày lại càng có vẻ nặng nề hơn.

Tránh một vũng lầy trên lối đi, lúc đó Hóa mới ngước lên nhìn lại khu xóm cũ. Chỉ trong có mấy năm, từ một xóm nghèo nàn, thưa thớt, nhà cửa bỗng mọc lên như nấm. Cái Tết Mậu Thân quả thật đã ảnh hưởng lớn lao đến mọi người. Cuộc đốt phá, giết tróc không làm người ta giạt đi, còn tụ lại đông hơn nữa…

Nhà cửa cất không hàng lối, bất cần phương hướng, bằng bất cứ vật đột phá, giết chóc đó, không làm giạt người ta đi, lại làm tụ lại đông hơn nữa, trên những vết tích khủng khiếp. Đó là một điều trái ngược, và điều trái ngược ấy có phải có nghĩa như là, một chỗ nào khác hẳn đã tan nát hơn hay đã mất hẳn không còn ai nữa? Bất cứ vật dụng gì có thể che mưa che nắng và làm cho chỗ ở trở thành kín đáo, đều được người ta đem dùng, hiển nhiên là người ta chỉ cần một chỗ ẩn thân. Tuy nhiên xen vào giữa những mái nhà lụp sụp, xiêu vẹo đó, những gì người ta dựng lên để che mưa che nắng, nhưng có thể chẳng che được bao nhiêu kể cả hai thứ đó, vẫn có những căn lầu bảnh chọe được cất lên. Ở đâu và lúc nào cũng vẫn luôn luôn có những kẻ giầu có và may mắn  hơn những người khác một cách khó hiểu như vậy.

Tết Mậu Thân mặc dầu được nghỉ học dài dài và nhận được thư bố cho biết tình cảnh bi đát ở nhà, Hóa nhất định không về. Về làm gì? Tôi có thể làm đuợc gì trong tình cảnh đó? Ngay cái việc tiếp tục học cho hết mấy năm Sư Phạm còn lại đã là một cố gắng hết sức mình rồi. Hóa đã phải vừa đi học vừa đi làm, dạy học, bán hàng, bồi bàn, nghĩa là làm bất cứ việc gì có thể làm, để mong kiếm được tiền trả tiền ăn, ở và may mặc sơ sài. Và nàng đã làm xong được cái việc đôi ba phen tưởng chừng đến phải bỏ dở. Về để giương mắt nhìn cái cảnh khốn khổ đó à?

Trong kỳ thi ra trường, sau khi biết chắc mình đã đậu, Hóa trở về phòng trọ, đóng cửa, khóc trọn một buổi chiều.

Người bạn cùng lớp và ở chung với Hóa trong mấy năm học, thấy vậy, đã ngạc nhiên hỏi :

– Chi vậy, Hóa.

Mãi đến tối, Hóa mới mim cười trả lời câu hỏi của bạn :

– Khóc cho nó hả.

Thực ra, Hóa phải thú thực, làm được đến đó nàng đã mệt lả. Đậu xong được hai cái tú tài, gia đình nàng đã rơi vào tình trạng gần như kiệt quệ. Cha nghiện hút đã nằm bẹp một chỗ từ lâu, tất cả sự chi tiêu trong gia đình trông cậy vào bàn tay người mẹ kế. Hóa đã phải tự kiếm thêm tiền ngay từ lúc mới đậu Trung Học Phổ Thông bằng cách day kèm mấy đứa trẻ trong xóm. Đến lúc hết Trung Học thì chính ông bố đã quyết định bắt nàng phải đi làm.

“Mày không giúp ba thì nhà này còn có ai nữa. Các em nó còn nhỏ cả”.

“Nhưng con còn muốn học thêm mấy năm nữa. Tốt nghiệp Đại Học rồi hy vọng có thể làm được việc gì khá hơn chăng. Chứ bây giờ con ra đi làm thì rồi suốt đời cũng chỉ đến làm một chân thư ký quèn thôi”.

“Mày không đi làm thì nhà này còn ai đi làm. Học được như thế cũng là phúc lắm rồi”.

Hóa muốn nói với bố, không phải chỉ có phúc không đâu. Con đã cố gắng hết sức để được như vậy. Có lẽ ba chẳng khi nào để ý để hiểu, hay ba chỉ hiểu một cách lờ mờ, thế nào là một đứa con gái lớn như con, suốt đời lúc nào cũng  chỉ có hai chiếc áo dài để mặc đi học. Con chỉ nói đến việc đi học thôi. Đi chơi là việc con chẳng cần phải nói ra nữa. Bây giờ nghĩ đến việc đi chơi khi ấy, chắc ba ngạc nhiên nếu nghe con nói, con gần như chẳng hề đi chơi đâu cả [nhưng việc này thì ba biết mà]. Con cũng ít khi nghĩ đến việc đi chơi đến nỗi chả thiết gì đi chơi nữa. Nhưng có lẽ sự thật không phải như vậy. Sự thật là có muốn đi chơi cũng không thể đi được. Đi với ai? Ao sống chẳng có. Những ngày nghỉ học không có một cắc trong túi là thường quá. Con quê mùa thật sự, nên không dám đi. Và, con đã tập cho mình thói quen không nghĩ tới điều đó nữa, lâu dần, ít nhất con đã tránh được cho mình cái khổ không được thỏa mãn một điều thèm muốn. Sự thiếu thốn rõ ràng này, đã tạo con thành một đứa cư xử với bạn bè thẳng cứng như một cái cây khô. Chẳng hạn như, khi có đứa hỏi, chẳng biết chúng mỉa mai hay thành thật: “Sao lúc nào tao cũng chỉ thấy mày mặc một thứ áo trắng vậy?”. “Một cái chứ không phải một thứ”. Con phải nói quá đi một chút như vậy. “Vì tao chẳng còn cái nào khác thì lấy gì mà mặc?”. Có điều kỳ lạ là cái việc con nói quá đi một chút đó, có vẻ như đã làm cho con đỡ ngượng hơn một chút về sự nghèo khó của mình. Nhưng thường những câu trả lời như thế con luôn làm họ mất lòng. Hoặc là chúng không tin con con thể nghèo đến thế, hoặc chúng cho là con làm bộ kiêu ngạo để che giấu một điều gì đó. “Tại sao chẳng bao giờ tao thấy mày đi chơi đâu cả?”.”Nhưng mà chơi cái gì mới được chứ?”. “Thì bát phố, ciné, gặp nhau nói láo”. “Đi phố thì ngày nào chả đi. Bộ đi học tụi mày không không đi qua phố đến trường à? Ciné thì tao ít đi thật. Tán dóc với tụi mày thì tao cũng muốn nhưng không có thì giờ. Ở trường về tao phải làm việc nhiều lắm”… Ba thấy không, con nói toàn những điều gần đúng như sự thật cả. Nhưng cách trả lời của con chẳng bao giờ gây được cảm tình với chúng hết. Con trở thành không có bạn. Con sợ. Sợ chúng biết rõ những điều con nói ra đó… đều là sự thật. Lâu dần con nhận ra việc con không có bạn cũng là điều con muốn. Dĩ nhiên, nếu bây giờ con còn muốn học thêm vài năm nữa, con còn phải chịu đựng thêm cái cảnh đó vài năm nữa.

Đó là việc ngoài đường. Còn việc trong nhà, nếu con không chịu đi làm ngay bây giờ, có vẻ con ích kỷ. Có lẽ con ích kỷ thật. Con nghĩ, con phải cố gắng làm một việc gì đó, bề ngoài trông được được một chút. Ba biết vì sao mà. Ba đã già. Dì còn trẻ. Tất cả mọi việc trong nhà đều do bà lo liệu. Tương lai của cái gia đình này không phải là điều khó đoán. Lại còn mấy đứa nhỏ. Con phải làm nổi một việc gì khả dĩ có thể chống đỡ được phần nào sư suy sụp của gia đình mình sau này, nếu chẳng may nó xẩy ra, nếu không là được cho ba, cho tất cả mọi người trong nhà, thì ít nhất cũng cho một mình con. Con có đi làm bây giờ bất quá cũng chỉ giúp cho gia đình đõ túng thiếu hơn một chút, chứ chăng giải quyết được gì. Cố gắng một chút  nữa, chúng ta sẽ có nhiều hy vọng hơn [con có nhiều hy vọng hơn]. Con đành phải lo lấy tương lai của mình, không còn cách nào khác.

Nhưng không dễ gì tôi có thể nói với ba tôi tất cả những điều đó. Nếu ông nghĩ như tôi, ông đã khuyến khích tôi làm như mong ước. Ông muốn tôi đi làm ngay bây giờ có nghĩa là ông không nghĩ như thế. Hoặc giả đã đến lúc ông cần tiền quá chẳng còn muốn nghĩ tới một điều xa xôi nào nữa. Khi người ta già, người ta mất thói quen nghĩ đến tương lai chăng?

Để trả lời dứt khoát câu hỏi của ông, tôi nói:

– Nhà tuy khó khăn thật, nhưng con thấy dì còn chạy được, ba hãy khoan cho con vài năm nữa.

Đăt cái dọc tẩu xuống bàn, ông nhìn tôi một lát rồi hỏi:

– Con muốn học cái gì?

Tôi đáp:

– Sư Phạm. Con định xin ba cho con lên học trên Đà Lạt.

– Rồi lấy tiền đâu mà học?

– Con sẽ lo liệu lấy.

Tôi cũng nói với ông là gần như từ mấy năm nay, ngoài hai bữa cơm ăn hàng ngày, tôi chẳng được chu cấp một thứ gì hết. Có lẽ ông cũng phải biết như vậy chứ? Nhưng ông chưa hề bao giờ hỏi tôi một lời về điều này. Chừng như ông sợ, ông có biết ông cũng không làm gì cho tôi được, chỉ thêm một điều áy náy. Cũng có thể, ông chẳng biết tí gì về việc ấy. Ông còn mải mê với chút hạnh phúc còn sót trong những ngày cuối đời này với những cơn say đôi lúc làm ông nằm thẳng đơ như một cái xác chếr, và những giờ phút âu yếm với người vợ kế của ông, người đàn bà tôi bây giờ gọi bằng má xưng con, nhưng không lớn hơn tôi bao nhiêu tuổi. Bà đã về ở với ông khi tôi còn nhỏ, một năm sau ngày mẹ tôi chết và bà đã nuôi tôi như con.

Ông cụ nói:

– Độ này dì mày kiếm chẳng được bao nhiêu, nên đưa tiền cho tao không đủ hút. Ba cứ chờ và tưởng con học xong Trung Học sẽ đi làm cho ba nhờ. Bây giờ mày tính như thế thì tao phải chờ đến bao giờ?

Tôi nói:

– Mấy năm cũng chẳng lâu gì.

– Ba cũng hiểu thế. Nhưng con phải biết ngày của ba bây giờ…

Tôi thấy ba tôi nhếch mép cười có vẻ cay đắng:

– Con cũng biết, bà ấy có nghề ngỗng gì đâu. Chạy ngược chạy xuôi thế, bữa đực bữa cái, làm sao đủ? Nếu con không chịu đi làm giúp ba, thì vì thương ba, bà ấy có thể làm liều để kiếm tiền, tới lúc đó tao còn sống làm gì nữa?

Trong bóng tối ủ rũ của buổi chiều mưa, căn nhà vắng hoe, hai đứa trẻ đi học chưa về, người đàn bà tần tảo đâu đó, căn nhà chỉ còn lại có hai cha con. Hóa nhìn  da mặt cha tái nhợt bên ánh vàng của ngọn đèn dầu, tiếng mưa xối trên mái thấp và tuôn chẩy rào rào theo ống máng dẫn xuống phía cống sau nhà. Sự yên lặng buồn bã lẩn quẩn trong từng cơn gió lọt vào trong nhà, xen lẫn tiếng những điếu thuốc cháy réo sôi trên tẩu từng chập làm Hóa sởn tóc gáy. Không phải chỉ có chút nhựa đang phồng rộp lên, dần dần trôi tụt vào trong chiếc nõ nhỏ đó, mà hình như cả đời sống, ngày tháng của ông đều tiêu hao trong đó. Hóa có cảm tưởng không phải bố chỉ đang đốt thuốc mà ông đang nướng máu của ông trên ngọn lửa đỏ. Nhìn mãi vào cái chụp thủy tinh, sức nóng của ngọn lửa đã làm cho cái màu trong suốt đó trở thành hơi xám lại, tựa như lớp khói ám từ ngày này qua ngày khác đã ngấm vào tận bên trong, tự nhiên Hóa ứa nước mắt. Nàng vội quay mặt đi để giấu hai hàng nước mắt vừa chẩy xuống má và tìm cách lau khô trước khi quay trở lại. Con đau lòng lắm, song con không thể để ba đốt nốt đời con thành khói được.

Nhưng tôi phải nói với ông làm sao đây? Ông nói như thế kể như đã hết lời. Và tôi, nói như vậy cũng kể như đã đủ. Tôi không thể nói thêm gì nữa. Tôi chỉ còn có một cách quyết định lấy mọi việc một mình. Liệu tôi có thể kiếm đủ ăn, đủ học, đủ kiên nhẫn làm những việc đó đến cùng? Khi đã lẳng lặng bỏ đi, nếu không làm nổi các việc ấy chắc tôi cũng không còn dám trở về nữa, bởi vì tôi đã thua cuộc. Tôi đã thất bại trong ước muốn làm cho đời mình trở nên quang đãng hơn một chút. Tôi sẽ chẳng còn một hy vọng nào thoát khỏi cuộc chìm đắm chung của cái gia đình này, vào cái cảnh tôi không biết rõ nó sẽ như thế nào, nhưng chắc rằng không tốt đẹp gì. Nói cách khác, điều ấy có nghĩa là tôi không thể vượt thoát khỏi cái đám khói đã phủ kín căn nhà này. Còn điều nữa, tôi cũng không muốn ngồi nhìn mọi người trong nhà, mỗi ngày một rớt sâu xuống sự khó khăn mà chẳng có cách nào cứu vãn.

Dĩ nhiên, không có gì đảm bảo rằng trong cái va-ly nhỏ của lần trở về này, tôi có mang theo một phép lạ, có thể sửa chữa được cái điều ai oán đó. Nhưng dầu sao, tôi đã làm được cái việc tôi muốn làm và biết đâu,  còn có thể làm được vài việc khó khăn hơn không chừng.

Tôi đã làm một cuộc thách đố với gia đình, và tôi đã thắng.

Nhưng có đáng gọi là thắng cuộc không chứ, cái việc tôi đã làm được đó? Và, trong từng ấy năm tôi bỏ đi, trong căn nhà này, những người thua cuộc của tôi, họ đã làm gì để sống? Thật ra, họ thua cuộc chỉ vì họ trông cậy vào tôi và tôi đã làm ngược lại sự trộng cậy đó.

Cũng phải nói rằng, cái việc muốn tôi đi làm do ba tôi nói ra, còn dì tôi, bà không hề đả động tới. Bà có vẻ cay đắng nhưng không hề tỏ ý ngăn cản việc tôi quyết định trái với ý muốn của ba tôi.

Bà nói: “Nếu mày nghĩ rằng tao có bổn phận phải nuôi ông ấy, tao sẽ làm việc đó. Mày muốn làm gì thì làm”.

Tôi chỉ nói được với bà một câu ngắn ngủi: “Con trông cậy ở má”.

Bà nhếch mép cười sau câu nói của tôi. Tôi cũng không dám đối diện với bà lâu hơn nữa. Tôi đi vào nhà sau để giấu sự nghẹn ngào. Tôi biết rằng không khí chúng tôi thở đã nhiễm độc. Chất độc ấy toát ra từ trong lòng tôi, từ trong lòng bà, từ những hơi khói cha tôi thả ra đâu đó, tôi không có cách gì thanh lọc ngoài cách rút đi nơi khác, để đừng nhả thêm chất độc vào đấy nữa.

Và tôi đã đi, đi biệt tăm biệt tích trong mấy năm trời. Nhiều đêm trong những năm đó, chịu không nổi sự thiếu thốn, chịu không nổi sự cô đơn, tôi đã lồng lộn như con thú môt mình, đã đôi ba phen tôi tự nhủ sẽ không bao giờ trở về căn nhà đó nữa. Vì sao? Tôi không biết rõ, nhưng mỗi lần nghĩ tới, tôi có cảm tưởng như da thịt bị cháy rộp khắp người. “Gia đình”, dường như hai tiếng ấy đối với tôi có ý nghĩa khác hẳn với cái ý nghĩa thông thường, là nơi xum vầy, nương tựa, ấm cúng. Tôi, tôi lạc lõng trong đó, đau đớn và lẻ loi, đau đớn không nguyên nhân rõ rệt. Có lẽ vì tôi ghen với người đàn bà trẻ đã chiếm hết tình thương của ba tôi đối với tôi, đáng lẽ phải tăng gấp bội từ khi mẹ tôi mất. Nhưng ngay cả chút tình đối với người đã khuất đó, cha tôi củng chẳng còn, hay ít nhất tôi chẳng bao giờ thấy ông biểu lộ ra. Ông mang tất cả cái tình của một người chồng góa, một đứa con côi, đắp đổi cho người đàn bà vừa vào thay thế chỗ  người chết. Người đàn bà nhan sắc, tươi trẻ, như ngọn đèn rực rỡ làm sáng hẳn lên cái hạnh phúc trầm trầm và u tối trước kia mẹ tôi không muốn hay không biết cách thắp lên trên những cành cây khô của những ngày tháng leo quanh tuổi già đã bắt đầu của ba tôi. Người đàn bà mới, như đóa hoa nở hết cánh, và cha tôi, tôi chắc ông choáng váng trước cái phần hạnh phúc chính ông không ngờ sẽ được hưởng vào cuối đời này. Có lẽ ông cũng thương mẹ tôi, người đã chết. Nhưng có lẽ ông cũng sợ rằng, ngày tháng của ông chẳng còn bao lâu, ông đã lấy cái hạnh phúc đang có trong tay phủ kín khắp người, uống vào như rượu mạnh, không để một khoảng trống nào cho cái chết đang rình rập chụp bắt chính ông. Ông say cùng một lúc cơn say nha phiến và cái phần ăn trần gian đã đến tay ông như một ân sủng cuối cùng, và quên người đàn bà đã chết, quên ông sẽ chết . Và ông quên tôi, như môt con ruồi hay một con ong bay vo ve quanh đóa hoa thơm ngát của ông, chỉ làm cho xáo trộn hương sắc đang kết tụ quanh ông thành một bầu khí và mỗi hơi thở của ông đều chạm tới.

Trên ô gác nhỏ của ông, chỉ gồm có một bàn đèn, một chiếc đèn nhỏ ông dùng để đọc sách báo, từng đống sách, chỉ có một lỗ hổng để leo lên [như cái cửa để nguời ta thường làm để lên trần nhà]. Trong suốt những năm sau cùng này, tôi chẳng bao giờ đuợc ông gọi lên trên đó nữa. Tôi chỉ leo lên để xếp dọn trong những lúc hiếm hoi ông ra ngoài phố làm gì đó. Người đàn bà chiếm trọn khoảng không gian ấy. Khi bà ở trên đó và cái cửa tò vò được đóng lại, nó trở thành một thế giới biệt lập, rắn chắc đối với tôi. Nó làm tôi rung rinh đầu óc, đôi khi se thắt ruột gan. Nó giống như một con tầu, tôi ở dưới này, dưới gầm tầu, chẳng bao giờ được lên đó, lên trên boong, để hóng một cơn gió, ngó nhìn trời, nước. Những gì diễn ra trên ô gác đó đều diễn ra một cách lặng lẽ, kể cả những khi ông gọi hai đứa nhỏ lên chơi, lúc trở xuống chúng cũng có một vẻ gì đó lạ lạ, bí ẩn. Mấy tấm ván sàn gác chuyển động trong đêm khuya, tôi nhìn thấy lờ mờ trong ánh sáng của ngọn đèn ngủ, tiếng nói chuyện rì rầm của hai người ở trên đó, dìm sâu trí tưởng và cảm xúc của tôi vào một nỗi tủi hổ, ai oán, một niềm hiu quạnh cứ mỗi ngày một thắt dần lại quanh tôi, như tấm màn trắng cũ mỗi ngày thêm ố hoen, tôi không thể biết rõ vì sự chật hẹp của căn phòng, vì những sợi chỉ dệt đã quá lâu ngày bị xô ải khít lại với nhau hay vì tưởng tượng đã làm tôi đôi lúc tự nhiên thấy ngộp thở, cái hơi thở bị chặn ngang ngực khiến tôi phải ngồi nhỏm dậy, dựa lưng vào tường, vùng vẫy chân tay để lấy lại nhịp thở bình thường. Tôi chỉ được nhìn thấy cha tôi lúc ông sai tôi thay môt ấm trà, hay lúc ông xuống nhà đi tiểu, đi cầu. Cơm ông cũng ăn trên căn gác đó. Ông đã biến chỗ nằm của ông thành một cái ốc đảo, và có lẽ tôi có thể nói rằng, ông đã thở khói ra làm sương mù. Ở đằng sau đám sương ấy tôi chỉ còn nhìn thấy một ánh đèn le lói.

Có những buổi sáng mùa xuân [trời đất ơi, làm sao tôi vẫn biết được đó là những buổi sáng mùa xuân chứ?] trên đường đi chợ, hay ngày đã lên học trên Đà Lạt, tôi đã phải cố gắng tìm một chỗ trống trải để nhìn thấy bầu trời, nhìn thấy những đám mây, những đám mây giống như đời sống tôi, nhẹ tênh, thay đổi hình thù mãi. Tôi nhìn trời và cầu mong cho mọi ước muốn trong đầu lắng xuống, và trái tim phẳng lặng dường nghe hiểu những lời tôi dỗ dành.

Có những buổi chiều mùa đông, tôi leo lên tận đỉnh một ngọn núi cao, nhìn những đám mây bay tán loạn trên nền trời xám xịt hay vàng ửng, những trận gió cuồng xé rách các cụm mây thành những mảnh nhỏ đem phủ lên những vì sao sớm như những chiếc khăn tay, và chiếc cầu vồng rực rỡ vắt ngang trên rặng núi phía xa, làm chiều và đêm trộn lẫn trong một giấc hôn mê, tôi đứng run rẩy trong giá rét, cầu mong cho mọi ao ước, dự định trong đầu sẽ được những cơn dông hung dữ cuốn sạch đi.

Một đôi lần tôi cũng nhận ra sự bối rối trong mắt ba tôi, dường như ông chợt nhận ra tôi đã lớn, chợt nhận ra đã lâu quá ông không để ý gì đến tôi cả, chợt nhận ra giữa chúng tôi có một người đã chết, tôi làm sao có thể biết chắc ông nghĩ gì. Nhưng tôi nhận ra sự bối rối trong mắt ông. Và chính tôi, tôi cũng cảm thấy chấn động cả tâm thần. Ông tần ngần muốn nói với tôi một điều gì đó, nhưng có lẽ ông không kiếm ra lời. Ông không quen biểu tỏ cảm tình đối với tôi. Ông lúng túng một giây, sau đó chừng ông cảm thấy điều ấy cũng không quan trọng, không cần thiết, hoặc trí óc ông bị cuốn rút bởi cơn mơ ảo của thuốc phiện, ông bỏ tôi đứng đó và lẳng lặng leo lên gác. Thành thật mà nói, ông bỏ đi như thế tôi không khỏi cảm thấy bẽ bàng, tôi tự nhận ra mình là một cái gì thừa thãi, bận bịu. Nhưng giá ông có đứng lại hỏi tôi, chắc tôi cũng sẽ bối rối vì tôi không thể lường trước được ông sẽ hỏi gì. Cả tôi nữa, tôi cũng không quen cách biểu lộ tình cảm với ông. Giữa chúng tôi có một sự tắt lạnh âm thầm, chẳng có tiếng nói nào có thể vượt qua những tháng ngày âm u, buồn tủi đó được. Tôi vừa mừng vì đã không phải nói gì với ông, vừa đau đớn vì điều đó.

Có lẽ tôi có thể nói, tôi cũng không có quyền nói rằng, tôi oán trách ông.

Trong lòng tôi cũng không hề có một tình cảm nào tương tự. Nhưng cái việc ông quên tôi có nghĩa là ông đã quên luôn cả người đã chết, quên một cách mau chóng, tàn nhẫn, như chẳng hề còn một dấu vết nào của mẹ tôi,  và điều này làm tôi sợ hãi ông hơn là oán trách. Không, có lẽ tôi không sợ ông, chứng cớ là đã biết bao lần tôi muốn được gục đầu vào lòng ông mà khóc như  ngày còn bé. Tôi ao ước nhưng chưa lần nào được làm như thế. Biết bao lần tôi ao ước được nằm một đêm trên căn gác như thế giới riêng của ông, để nhìn ông hút, để có thể làm những việc ông sai trực tiếp, chứ không phải cái cách sai truyền qua dì tôi hay nói vọng từ trên gác xuống. Con muốn được xem ba hút, muốn được nhìn ba ngủ, muốn được rót cho ba tách nước và đưa tận tay. Nhưng có bao giờ ba cho con nhập vào cái thế giới của ba, có bao giờ ba cho con làm những việc ấy. Dì đã chiếm hết những chỗ đó, chỗ của người chết và chỗ của người sống. Con sợ những sự thật trong phút chốc chẳng còn là sự thật nào nữa, chẳng còn gì cả. Mẹ đã chết và ba đã quên. Một cái chết không người khóc, không người tưởng nhớ, sẽ trở thành cái gì? Con sợ sự liên lạc giữa ba và con cũng không hơn cái chết đã bị bỏ quên đó. Con sợ sự mất phương hướng sẽ làm con không còn thể nhận ra cả hình dạng của chính mình nữa. Vì thế, con muốn giữ nguyên tình trạng: ba đối với con ra sao con giữ vậy, không kêu than hay trách móc, không đòi hỏi ba một điều gì. Chẳng hạn, ít ra con cũng có quyền hỏi ba một câu: “Tại sao ba không yêu con?”. Con không hỏi vì biết ba không trả lời được. Con cũng không tin ba không thương con. Nhưng tại sao, ba? Tại sao lại có sự lạnh lùng đến thế?

Trong khu xóm nhỏ hẹp này, có nhiều đêm thức học bài khuya, nhìn trăng giãi trên mảnh bãi hoang, nghe tiếng chó sủa không, nhìn những dây hoa đâm bông bên đống rác [cái bãi rác bây giờ đã biến mất, cả cái bãi hoang bây giờ nhà cửa đã mọc lên chi chít] và những chuyến tầu băng qua trước cửa thổi than lửa mù mịt, bụi than văng lên cả sách vở, bàn học, tiếng bánh sắt nghiến trên mặt đường rày, siết chặt hai bên thái dương, đôi khi khiến tôi nghĩ tới cái chết. Ngày còn nhỏ, những chuyến tàu chạy qua đó làm tôi mơ tưởng tới ngày có thể bỏ nhà đi xa, tới một miền thảnh thơi, sung sướng nào đó. Đến lúc tôi nhận ra, chỉ có vài cái đầu máy cứ chạy đi chạy lại trên quãng đường đặt sẵn này, kéo theo dãy toa chở người, chở súc vật, than củi, những thân gỗ nặng nề, nó đã làm cho tôi cảm thấy thêm tù túng, cùng quẫn. Tiếng khói phì, những bụi than đỏ lửa, tiếng còi rúc, bánh sắt lăn, làm rung chuyển nhà cửa, có lúc trong giấc ngủ chập chờn, ngần ấy thứ tiếng động xô đẩy làm tôi hoảng hốt tưởng như đang bị đẩy trôi trên một nước mênh mông nào. Ngay đến khi đã lớn, trong những năm theo học ở Đà Lạt, thỉnh thoảng tôi vẫn nghe ra tiếng chạy rầm rầm của đoàn tầu đó. Và tiếng còi xịt ra cùng với những đám khói trắng đặc  trở thành tiếng kêu gọi của tuổi thơ hắt hủi, của người cha bạc nhược, của lũ em lạc nòi, của người đàn bà xa lạ bỗng trở nên thân thuộc, ở đâu hiện đến, đứng sững trong đời tôi nặng nề như những pho tượng.

Ngày xưa, trước đây, tôi biết cách cư xử với bà, bởi vì tôi biết rõ vị trí của mình trong nhà. Bây giờ có lẽ khó khăn hơn. Trước đây bà đối với tôi sao cũng được. Bây giờ tôi còn phải đối lại với bà nữa. Giữa chúng tôi có môt người thân thiết ngang nhau: đó là cha tôi. Nhưng tôi với bà,  chẳng ra một thứ tình nào cả. Đó là sự thật. Nhưng cái sự thật đó sai. Tôi với bà phải có liên hệ và tôi phải biết sự liên hệ đó như thế nào, mới biết cách đối xử với bà. Trên nguyên tắc, tôi trở về thế này, phải được kể như tôi đã biết rõ những điều ấy. Tôi mở cửa bước vào nhà là tôi chấp nhận những điều đó. Nhưng cả điều này nữa cũng sai. Tôi không sẵn sàng như thế. Tôi cũng không sẵn sàng trong một thế khác. Tôi trở về, giản dị có thế thôi. Và tất cả có lẽ bắt đầu từ đó.

Điều kỳ lạ là ngay trên quãng đường ngắn ngủi về nhà này, càng tới gần, tôi càng thấy tôi chẳng có gì thay đổi cả. Tôi quên hết nhữnng năm cặm cụi làm việc, quên hết những tháng ngày lẻ loi thui thủi một mình, quên những phút lo sợ đến điên cuồng nếu tôi không làm nổi mọi việc sẽ không ai giúp đỡ cả. Tôi trở về như một đứa trẻ bỏ chỗ của mình hơi lâu, tôi thấy chân tay run rẩy vì sợ hãi, vì mừng tủi, vì không biết mọi người sẽ đối xử với tôi như thế nào ? Giá tôi có thể trở về lén lút, khẽ mở cửa, cất bỏ đồ đạc, thay quần áo như ngày nào đi học về, giá tôi có thể được đối đãi như thế.

Nhưng thôi, tôi đã tới trước cửa nhà. Khỏi mất công hồi hộp, tưởng tượng. Hãy mở cửa bước vào rồi biết. Nhưng tôi có nên gõ cửa chăng? Có thể nhà tôi đã bán, mọi người đã đổi chỗ ở. Có thể dì tôi đang làm một việc gì đó tôi không tiện nhìn thấy. Sau hết, có lẽ tôi cũng phải, ít nhất, báo hiệu ngày trở về của mình bằng mấy tiếng gõ cửa đó.

Nhưng phải giơ tay lên gõ cửa nhà mình, có phải tôi đã trở thành một người lạ? Và sự ngần ngại này làm tôi đau đớn.

Tuy nhiên tôi vẫn phải quyết định, phải chọn một việc trong hai việc.

(Hết Chương 1)

Share this post