Tro Than (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 6

Tro Than (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 6

TRO THAN
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Đồng Nai xuất bản (Sài Gòn – 1972)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I & II 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

SÁU

Tôi nhận được lệnh bổ nhiệm về làm việc tại một trường trung học hỗn hợp cách Sài Gòn chừng vài giờ xe hơi, sáng đi sớm, xế trưa về. Những hôm có giờ dậy buổi chiều thì tới tối tôi mới về đến nhà. Tôi di chuyển bằng  xe lam hay xe đò, nhưng cũng có khi đứng đón xe, gặp các người bạn làm việc cùng một chỗ, họ cho đi ké bằng xe hơi hay xe gắn máy.

Tại trường các nam giáo sư bị động viên khá nhiều thành thử thiếu người, những người còn lại chia nhau dậy đủ các môn, các lớp, trong khi chờ đợi các thầy được biệt phái trở lại.

Trường tọa lập trên một khu đất rộng giữa cánh đồng và tuy nằm sát bên trục lộ giao thông giữa Sài Gòn và các tỉnh lỵ, nhưng quãng đường cũng chỉ nhộn nhịp một chút lúc buổi sáng, dân chúng buôn bán đáp xe hàng, xe gắn máy, xe đạp hoặc đi bộ tới chợ. Chợ cách trường chừng hơn một cây số, nơi chúng tôi thường kéo nhau đi ăn bữa trưa tại một cái quán đằng trước chợ vào những hôm có giờ dậy buổi chiều – cơm dĩa, cơm phần, thịt heo kho trứng, sườn ram mặn, gà luộc, canh cải, canh khổ qua. Cái tên “khổ qua” đã hấp dẫn vài người trong bọn chúng tôi, khi tô canh đươc bưng tới, một chị bạn nếm thử và nhận ra đó chỉ là “mướp đắng”, chị cười và từ đó chị gọi là canh “khổ quá”.

Quãng chín mười giờ, khi những đám sương đã tan hết và mặt trời chói lóa khắp nơi, hơi nóng từ trên những miếng fibro-ciment bắt đầu tỏa xuống các lớp học thì quãng đường cũng trở nên vắng vẻ, thỉnh thoảng một chiếc xe đò cũ kỹ xành xạch chạy qua, mầu sơn xe còn nhìn thấy rõ, những chuyến xe buổi chiều, phần nhiều bụi bậm, phủ mờ cả màu sơn. Có bữa cả lớp học nhốn nháo vì bỗng nhiên trên sà nhà có đôi rắn rất lớn vặn vẹo cuốn quanh mấy chiếc kèo nhỏ, thả cái đằu ngòng ngoèo xuống nhìn lũ học trò, lũ trẻ la hoảng, bỏ chạy ra sân, các lớp bên cạnh cũng xôn xao, mấy đứa lớn đi kiến gậy gộc. Rắn chạy lẩn đâu mất rồi thế nào cũng có lúc xuất hiện trở lại và cảnh tán loạn lại diễn ra.

Có bữa các cán bộ “bên kia” đột nhập vào trường tập hợp tất cả các giáo sư, học sinh lại, kêu gọi mọi người “chống Mỹ cưu nước”. Các nam giáo sư bị đe dọa không đươc đi lính cho “ngụy”. Họ nói họ biết “những ai đi lính cho ngụy, những ai thuộc thành phần ngoan cố, có tội với nhân dân”, họ phân phát những tờ truyền đơn, yêu cầu “các đồng chí giáo viên” cũng như học sinh hãy phổ biến rộng rãi “để toàn dân biết rõ đường lối đấu tranh của cách mạng, của Mặt Trận Giải Phóng”. Sau đó họ mau chóng rút lui. Cũng có khi bị lực lượng an ninh địa phương biết, đến vây bắt, họ phải nổ súng chạy trốn. Hai bên bắn nhau, thầy trò nằm la liệt tránh đạn. Đến một cuộc thu nhặt các tài liệu vừa được tung ra, thấy trò lại nghe một cuộc diễn thuyết ngược lại. Sự nghi ngờ người này, người khác được rì rầm bàn tán.

Đôi khi, một xác người bị chặt đầu treo trên một chiếc cọc cắm đâu đó, giữa một thửa ruộng sát lộ giao thông, gần lối đi tới trường để “cảnh cáo”. Nhìn cái đầu bị cắt lìa cắm trên ngọn cọc bên cạnh một cái thây trấn trụi hay chỉ còn một chiếc quần xà lỏn, cái đầu với hai con mắt nhắm nghiền, da mặt đen bầm, nạn nhân có lẽ đã bị giết trong đêm, mùi hôi và tanh lợm của máu thịt đã đông, rữa, hình như còn đọng lại rất lâu trong không khí trên quãng đường. Đó là những người, thường là các nhân viên xã ấp, địa phương quân, bị cán bộ “bên kia” thanh toán. Rồi tới cuộc ruồng bắt trả đũa của quân đội quốc gia. Những người qua lại dần dà dửng dưng với những cái xác ruột gan lòi ra cả đống, môi bị cắt, bể một bên mắt, vỡ sọ… người ta liếc mắt ngó nhìn hoặc xây mặt ra phía khác.

Nhà chức trách địa phương mau chóng dọn dẹp các hiện trường. Chỉ còn lại những dấu vết không rõ rệt, đám cỏ bị dẫm nát, chiếc cọc được nhổ đi để lại một lỗ nhỏ kéo theo một chút đất bị bung lên, vài hôm cỏ mọc lan kín hết. Nhưng cái mùi của máu khô, thịt thối đó còn bám mãi trong hai mũi và cổ họng tôi, một vài ngày sau tôi vẫn còn ngửi thấy lẫn trong miếng ăn, nước uống. Chẳng phải chỉ trong những đêm khuya ngủ một mình mới khiến tôi sợ hãi, nhiều buổi trưa nằm lại trong phòng các giáo sư, trong lúc các người khác tụ tập ở các phòng khác trò chuyện, chấm bài, đánh bài, đi cầu, đi dạo, tôi bỗng nghe ớn lạnh khắp người, một chất nước từ dạ dầy, từ các chân răng ứa lên, ứa ra, làm lợm giọng. Tôi nhắm mắt nằm nghe ngóng sự yên lặng chung quanh, nghe những tiếng bàn tán, cười nói, trêu chọc nhau của các bạn đồng nghiệp trong các phòng bên cạnh, nghe tiếng gió thổi lùa qua các khe cửa, reo rì rào trên mái, cái mái cao ngất ngư chưa đuợc làm trần, chính ở đó mấy con rắn thường xuất hiện, bóng những con chim sẻ nhẩy qua nhẩy lại, đậu trên miếng kính hình chữ nhật lợp trên mái để lấy ánh sáng cho lớp học, những tiếng động, những cảm giác, những gì mắt nhìn thấy có thể rất mơ hồ hay rõ ràng, tùy theo những bữa tôi khoẻ mạnh hay mệt nhọc.

Trong trường không phải chỉ có các thầy đi lính, học trò cũng chẳng thiếu những đứa đang học bỗng nhiên thấy nghỉ hẳn, ít lâu sau trở lại trường với bộ đồ trận trên người, mặt mũi đứa nào đứa nấy sạm nắng, đen thui, tươi cười chào hỏi thầy cô, các bạn. “Bây giờ em vô lính rồi cô, tụi nó còn léo hoánh tới đây em đánh thấy mẹ”. Tôi nói đùa với chúng: “Em nhắm đánh được chúng không?”. “Tụi em bây giờ đâu có rỡn nữa. Không muối nổi nó thì nó muối mình liền, sức mấy nó tha”. Có đứa mang lon chuẩn úy mặt còn non choẹt. “Cô yên trí, trong vòng mười năm nữa em sẽ lên tướng”. “Chắc thế, trông bộ vó em có thể làm tướng được”, tôi nói và nghĩ thầm “sớm hơn chỉ nay mai em sẽ thăng cố thiếu úy”. Chỉ nghĩ vậy thôi mà tôi muốn khóc. Những đứa đã nhập ngũ đó, thường thưòng chỉ trở lại thăm trường rồi khộng thấy đâu nữa, cũng chẳng biết còn hay mất. Có đứa trước khi từ biệt còn nói với tôi “cô cho em một cái gì đó mang theo làm kỷ niệm”. Chắc nó tự cho đã đủ lớn, bây giờ tán cả cô.

Có bữa có đứa trên đường hành quân qua trường, đã ngừng xe chạy vào trong trường thăm thầy cô, súng đạn đầy mình. Chúng cười cợt hỏi thăm người này người khác bằng giọng thành thực hay chế nhạo, nón sắt gỡ ra cầm trong tay, tóc cắt ngằn, mồ hôi nhễ nhại, trông chúng già dặn hẳn lên thật. Không biết các bạn đồng nghiệp nghĩ sao, riêng tôi, nhiều lúc cảm thấy mình thực sự yếu đuối. Những lúc đó, nếu chúng xin ngồi lại trong lớp có lẽ tôi sẽ không nói được gì nữa. Không phải tôi bị chúng loè bởi cái bộ vó anh hùng của chúng, nhưng quả thật chúng đã thoát khỏi môi trường của chúng tôi, giữa chúng và chúng tôi đã có một sự cách biệt, chúng làm những công việc của chúng và chúng tôi làm những công việc của chúng tôi, những công việc chẳng còn liên quan gì đến nhau nữa, đó có phải là dấu hiệu chúng đã trưởng thành?

Chỉ trong vòng một năm, một năm chậm chạp và mau chóng trong sự đổi thay riêng của mỗi người, tôi đã thông thạo hết các công việc, tôi có thể theo dõi sức học của từng học sinh trong lớp, tôi đã thở quen không khí chiến tranh, sự bất trắc, sự mỏi mệt, mùi sương sớm và cỏ non trên lối đi từ thành phố tới trường học, những chuyến xe đò, xe lam. Không phải tôi định nói đến cuộc chiến tranh mênh mông đang diễn ra trên đấy nước đâu. Tôi chỉ muốn nói đến cuộc chiến tranh trên quãng đường từ nhà tới trường học, những gì diễn ra ở ngay trường học, ở chung quanh đó, các người bị cắt đầu, bị mổ bụng cũng bắt đầu ít đi. Có sáng xe chạy lướt trên xa lộ, nhìn xuống hai bên cánh đồng, nhìn các cơ xưởng đang đuợc xây cất, đang hoạt động, những cánh cỏ lúa xanh ngắt, mặt nước đang chói ánh mặt trời sớm mai, tôi vẫn tự hỏi, không biết tôi nên ao ước cho cái quãng trống bao la đó nhà cửa sẽ mọc lên, một thành phố sẽ hình thành hay cứ để các thôn xóm, làng mạc giữ nguyên như thế?  Hiển nhiên đó chỉ là những ý nghĩ vơ vẩn, tưởng tượng cho qua thì giờ trên quãng đường nhàm chán, buồn nản, ngày nào cũng đi qua, cũng trông thấy và chỉ có một nỗi chờ đợi đến trường.

Cũng có khi nhìn thấy những thửa ruộng lúa đang ngả màu vàng, tôi bỗng nhớ những cánh đồng ngày còn bé đã đi qua [chạy loạn qua] nhớ những dòng sông ào ào nước chảy, hai bên bờ không nhà cửa, chỉ nhìn thấy những bãi lau sậy, cát trắng, vài cái chòi mái rạ đã bạc phếch, đã mủn đen. Dường như tháng năm của đời tôi cứ kéo dài trong những nỗi bất định, đe dọa. Một buổi chiều lúc tôi chừng năm sáu tuổi, đi đón mẹ về chợ, bị lạc giữa một quãng đồng, mưa bỗng ập xuống, một trận mưa lớn chưa từng thấy, trời đất đen kịt, sấm chớp vang rền, tôi muốn kiếm một chỗ nấp mà không có, không nhìn thấy rõ một cái gì, đứa trẻ sợ hãi tưởng tượng ra cảnh mẹ chết trên dọc đường đi chợ xa bị bom, chẳng còn ai trông nom. Trời rét, đứa trẻ vấp ngã, gió quật không đứng lên nổi, chân tay lạnh cứng, càng sợ càng ngã hoài, lúc nhìn thấy những hàng trám bên con đê dẫn lối về nhà, sợ đến nỗi không dám cúi nhặt cả mấy quả trám gió quăng tới tận chân. Những hình ảnh, cảm giác đó, có lẽ suốt đời chẳng bao giờ tôi có thể quên. Rồi mẹ chết, đứa trẻ bơ vơ, lạc lõng, theo bố về Hà Nội. Bố mải mê buồn bã, mải mê chơi có khi cả tháng không ngó ngàng gì đến con, giao phó cho người vú già, ngay sau khi vào Nam lấy vợ kế. Mọi chuyện diễn ra như một cơn ác mộng. Tôi muốn quên hết nhưng chẳng thể nào quên được. Có lúc cầm viên phấn viết bài cho lũ trẻ trong lớp, tôi đánh rớt viên phấn xuống đất, tôi bàng hoàng nhiều hơn sợ hãi.

Một bữa, tôi đang dậy bỗng được mời xuống văn phòng trường. Ở đó, một vị trung úy đưa cho tôi một lá thư của một chuẩn úy thuộc đơn vị của ông, nhờ ông trao cho tôi, anh ta hiện bị thương nặng và đang nằm điều trị trong bệnh viện dã chiến. Nhìn tên đề ngoài phong bì, tôi chỉ nhớ mang máng, tuy nhiên tôi có thể chắc chắn một người quen biết lại càng không thể là một người thân nào đó của tôi [tôi làm gì có bạn?]. Tôi hỏi lại ông ta : “Trung úy có chắc không nhầm khi trao thư này cho tôi không?”. Ông ta nói: “Nếu trong trường không có ai trùng tên họ với cô thì tôi chắc đó là thư của cô”. Tôi nói: “Tôi không nhớ tên người gửi này là ai?”. Ông ta bảo: “Cô cứ thử bóc ra xem, nếu không phải thư của cô thì thôi”. Ông ta tiếp: “Thực ra tôi cũng không rõ lắm về việc này, tôi có việc phải về qua đây và đã được yêu cầu chuyển dùm. Tôi nói: “Tên người nhận và địa chỉ thế này, chắc là thư của tôi rồi. Xin cảm ơn trung úy”.

Tôi mở thư ra đọc. Đó là thư của một học sinh lớp đệ nhất, tôi phải cố gợi lại tưởng tượng mới nhớ ra hắn. Hắn học được đâu hai ba tháng gì đó thì bỏ đi lính. Hắn viết một cách mập mờ về những tình cảm của hắn đối với các bạn hữu, với các thầy và với tôi, về quyết định hắn bỏ ngang học. Thực ra tôi không thể biết hắn định nói cái gì. Chỉ có một diều rõ ràng là hắn xin tôi cho hắn gặp tại bệnh viện, nơi hắn đang điều trị. Yêu cầu của hắn làm tôi nóng mặt. Giọng hắn có vẻ muốn chấm dứt sự kiện hắn là học trò trong trường, nhưng lại rụt rè không nói thẳng ra, cũng như hắn không nêu rõ lý do hắn muốn gặp tôi để làm gì? Tôi nhờ người trung úy nhắn lại với hắn, tôi rất tiếc vì quá bận, tôi không thể tới thăm hắn được, chỉ xin gửi lời cầu chúc cho hắn mau bình phục.

Ông ta ra về.

Khoảng hơn một tuần sau, tôi được tin hắn chết. Hắn gửi lại cho tôi một tập nhật ký, một tấm hình tôi hắn chụp lén lúc nào trong lớp được phóng lớn kẹp trong tập nhật ký. Ảnh phóng bị rạn, trông như hình người chết được chụp lại. Đọc tập nhật ký, tôi mới biết là hắn yêu tôi. Hắn yêu tôi? Điều đó, đối với tôi, thật vừa khôi hài vừa thảm thương như cái chết của hắn. Thư từ, kỷ vật của hắn làm tôi bàng hoàng. Tôi tự hỏi, nếu biết trước hắn yêu tôi và sẽ chết như vậy, không biết tôi có vào thăm hắn không? Có lẽ hắn yêu tôi, nhưng đó là thứ tình tôi không hiểu được, nó kỳ quặc như những dòng chữ trên tờ giấy, nó có vẻ một thứ gì khác chứ  không phải là tình yêu được. Tôi băn khoăn mất ít hôm, không biết nên đốt những thứ đó đi hay giữ lại. Tôi chẳng tiếc gì những vật đó, nhưng dầu sao hắn đã chết. Cuối cùng, tôi giữ lại tấm ảnh, còn đem đốt hết. Tình của hắn đối với tôi, nếu có, cũng chẳng khác tấm hình đó. Tôi cũng nghĩ, nếu hắn còn sống chắc tôi cũng không đến thăm hắn đâu. Nhưng bây giờ, nếu có dịp đứng trước mộ hắn, tôi xin sẵn sàng thắp cho hắn vài nén nhang. Tôi không có lỗi gì trong việc này, nhưng hình như lòng tôi có mang một vết thương.

Một năm tôi sống như một cái bóng lẩn lút trong nhà. Ba tôi, dì tôi và tôi đều tránh không gặp mặt nhau, tôi muốn nói gặp nhau cùng một lúc, thực ra thì phải nói, chỉ có tôi và dì tôi không ai muốn đối diện với ai.

Tôi vẫn gặp ba tôi những khi bà không có nhà. Còn bà, tuy đi suốt ngày, nhưng đêm khuya về, bà vẫn rút lên cái “pháo đài” của ba tôi trên gác. Chuyện gia đình vẫn không có gì sáng tỏ cả. Đó là một sự vô lý và chính sự vô lý này càng khiến chúng tôi tìm cách lẩn tránh nhau. Cũng phải nói rằng tôi bắt đầu e ngại cái sự thật mà tôi muốn biết. Sư dè dặt của tôi bây giờ chỉ là sự trì hoãn việc biết cái sự thật đó. Tôi đã muốn làm một thứ đà điểu chúi đầu xuông cát để khỏi thấy gì cả. Cho đến lúc nào mọi việc tự nó, không còn gì che giấu được nữa, lộ ra, chừng đó sẽ hay. Không những tôi với bà tránh gặp nhau mà còn tránh nói với nhau nữa. Đây là một việc khá khổ cực. Khi bà về đến nhà, thường thường là vào lúc tôi đã đi ngủ, nhưng vào những hôm phải soạn bài, chấm bài, giờ đó tôi còn phải ngồi ở bàn. Phiền hà nhất là những hôm tôi phải ra mở cửa cho bà [bà có chìa khóa cửa, nhưng mấy đứa trẻ đã cài chốt bên trong]. Cũng may công việc này hầu hết là do con nhỏ giúp việc trong nhà làm. Nếu tôi phải mở cửa, không thể tránh được phải nói với bà vài ba câu gì đó, chẳng hạn chào hỏi “dì mới về”, bà lí nhí trả lời, rồi đi vội vào trong nhà. Tôi trở lại bàn làm việc, nhưng ngay cả khi không còn việc gì để làm nữa, đã nằm trong màn, tôi cũng chưa ngủ được, yên lặng nghe ngóng tiếng chân bà đi lại, có khi bà mở trạn lấy đồ ăn mang ra bàn khách ngồi ăn một mình, chắc bà cũng thừa biết tôi chưa ngủ, thừa biết tôi đang chú ý xem bà đang làm gì, tôi phải thở rất nhẹ, bởi vì tôi không muốn bà biết tôi còn thức, tôi nghe tiếng bà nhai cơm, tiếng thìa đũa chạm vào bát đĩa, nhìn thấy bóng bà lờ mờ qua lần vải sô của tấm màn, tự nhiên tôi cũng thấy buồn cho bà. Hai đứa trẻ ngủ đã từ lâu, nhưng cũng có hôm chúng gắng thức chờ mẹ về, bà nói với chúng dăm ba câu rồi đuổi chúng về giường. Bà nói và nhiều khi thấy tiếng nói của mình quá lớn hay sao đó, nên nhiều khi tôi thấy bà tự hạ thấp giọng. Phần tôi ít khi nói gì lúc bà có nhà. Đời sống của tôi và cả của bà nữa, trong nhà, như vậy đã mất tự nhiên. Ý định đi ở riêng lâu lâu trở lại với tôi, nhưng tôi vẫn không quyết định được, dù thế nào cũng còn ba tôi. Thêm vào đó, từ ngày tôi về nhà, việc trông nom hai đứa nhỏ kể như tôi phải lo liệu. Dù tôi không hề nghe dì tôi nói một tiếng về việc này, nhưng tôi chắc bà tin cậy tôi trong việc dạy dỗ chúng.

Điều khổ tâm hơn cả là số tiền lương của tôi, sau khi chi dụng vào việc nhà, may mặc sơ sài, tiêu vặt hàng ngày, xe pháo đi lại, chẳng còn bao nhiêu. Tôi đưa cả cho ba tôi cũng kỳ, không đưa cả cũng kỳ. Thực ra thì dù tôi có đưa hết số tiền còn lại cho ông, cũng chẳng đủ cho ông hút, tôi cũng không biết ông cần bao nhiêu mới đủ hút. Chẳng lẽ tôi không giữ lại một đồng một chữ nào phòng thân lúc ốm đau hoặc cần dùng vào những việc không biết trước? Cuối cùng, tôi chia đôi số tiền còn lại, đưa cho ông một nửa, một nửa cất để dành.

Như thế, gánh nặng trong gia đình trên vai dì tôi, hình như chỉ giảm bớt thôi.

Tôi cũng nói với ba tôi :

– Con cố để dành mỗi tháng một chút để dùng những khi cần.

Ba tôi nói:

– Tùy con.

Câu nói của ba tôi dội vào tôi cái ý nghĩa nửa dửng dưng, nửa chịu thua của ông đối với tôi, đối với cái hoàn cảnh chúng tôi đang sống đây. Tốt hơn tôi cũng chẳng nên nói thêm gì về việc đó nữa.

Tôi không nói gì và tôi sống trong niềm áy náy không nguôi và nhất là không biết phải làm thế nào trong cái hoàn cảnh không rõ ràng của mình.

Từ ngày tôi trở về nhà, Tuấn cũng ít sang. Có lẽ anh vẫn tới chơi với ba tôi nhưng anh chọn những lúc tôi không có mặt ở nhà. Nếu anh sang vào buổi sáng, tôi không thể có nhà được. Khi tôi về, tôi cũng không dễ gì gợi chuyện để ba tôi nói về anh.

Nhớ buổi đầu tiên gặp anh, khi anh đến lấy lại cuốn sách, tôi có nói lại việc ấy với ba tôi, khi ông ở ngoài phố về. Ba tôi chỉ nói một câu ngắn ngủi :  “Thế à? Ờ của cậu ấy, trả cho người ta”. Tôi nói: “Con thấy cậu ấy còn trẻ quá…”. Tôi nói không hết câu, nhưng chắc ba tôi đã hiểu tôi định nói gì. Yên lặng môt giây, ông bảo: “Cậu ấy chỉ sang chơi với ba thôi, không hút”. “Con cũng có nghe cậu ấy nói vậy, nhưng nghĩ có thể cậu ấy nói tránh đi”. Ba tôi chặc lưỡi bảo: “Việc gì người ta phải nói tránh”. “Phản ứng tự nhiên khi muốn giấu. Cậu ấy muốn học chữ Nho ba hả?”. “Cậu ta nói vậy chứ chữ Nho cậu ta khá cừ rồi”. “Cậu ấy học thuốc hở ba?”. “Ba cũng nghe nói vậy”.

Tôi còn muốn hỏi thêm ba tôi vài câu nữa, nhưng tôi thấy ông đã mở cái bóng đèn, quẹt diêm châm vào ngọn bấc. Sau đó ông cầm cái kéo nhỏ, cắt sửa tim đèn cho ngọn lửa ngay ngắn. Ông làm công việc này với một bàn tay khéo léo, mềm mại, yên lặng, dường như ông sợ tiếng nói làm ông run tay không làm được vừa ý.

Tôi nghiệm ra trong suốt một năm [bây giờ trong những lúc rảnh rỗi tôi có thể leo lên gác ngồi với ông một lát nếu tôi muốn, không như trước nữa] ngồi nhìn ông hút, tôi nhận ra, tất cả cử chỉ của một người nghiện, cái gì trông cũng buồn thảm, từ cách châm đèn, tiêm thuốc, nạo ống, hút, thở khói, lim dim mắt, nằm duỗi dài để nghe cơn say thấm đi khắp cơ thể, cái cảnh ông mở cái bóng đèn thổi tắt ngọn lửa khi đã hút đủ cữ, hình ảnh nào tôi cũng thấy một vẻ gì đó muốn làm rơi nước mắt. Có lẽ vì thế, khi tôi còn bé, ông không muốn cho tôi nhìn thấy ông hút? Mà chẳng phải riêng tôi, những nguời nghiện hút, họ thường túm tụm để hút nhưng không ưa những kẻ không hút lẩn quẩn quanh chỗ của họ. Ngày xưa, khi ba tôi có nhiều bạn bè tới chơi, tôi đã nhận thấy như thế. Quanh họ, dù là lúc họ đang hút hay đã ngưng, hình như lúc nào cũng vẫn còn một đám khói, một ánh lửa vô hình. Có lẽ vì cái vẻ mơ màng của họ đã khiến những người nhìn thấy họ có cảm thưởng như vậy. Cũng có thể da mặt họ đã được tạo thành bởi hai màu khói và ánh đèn trộn lẫn.

Dù tôi không gặp Tuấn ở nhà, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn gặp anh trên đường từ ngõ vào nhà. Anh vẫn vui vẻ chào hỏi tôi và bao giờ cũng với vẻ mặt hóm hỉnh và điệu bộ nhanh nhẹn sẵn có của anh. “Cô mạnh giỏi chứ?”. “Mấy hôm nay sương mù và hơi lạnh, phải không?”. “Mưa thế này mà cô phải đi làm xa ngại quá nhỉ?”. Như thế, chắc anh đã biết cả nơi làm việc của tôi.

Tôi cũng cười hỏi thăm lại anh và nhắc:

– Đã lâu không thấy anh sang chơi”.

Tuấn nói:

– Vâng, độ này tôi cũng hơi bận.

Thường, sau đó, anh rồ máy cho xe chạy. Tôi ngó theo anh chạy ra ngoài phố hay khuất sâu  vào trong ngõ. Tôi thử đoán xem nhà anh ở vào quãng nào trong ngõ, nhưng dự đoán của tôi cũng lộn xộn như tất cả những căn nhà nhìn thấy, sơn đủ màu, đủ kiểu, cao thấp, lồi lõm chẳng ra hàng lối chi cả. Nhiều bữa vào nhà rồi, tôi lại hồi hộp lo sợ vu vơ, nghĩ rằng, có lẽ Tuấn biết rõ về nhà tôi hơn cả tôi không chừng. Anh đã ở đây mấy năm, những năm tôi vắng nhà.

Anh đã biết những gì?

(Hết Chương 6)

Share this post