Tro Than (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 7

Tro Than (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 7

TRO THAN
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Đồng Nai xuất bản (Sài Gòn – 1972)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I & II 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

BẢY

Lễ Giáng Sinh tới, hình như luôn luôn sau một vài cơn bão lớn nhỏ, một vài thành phố ở miền Trung bị lụt. Sài Gòn trong hơi sương lạnh, trong những trận mưa bất chợt, biến đổi, có vẻ lãng mạn hơn, quyến rũ hơn vì những thứ quần áo lạ mắt người ta đem ra mặc.

Một buổi chiều, sau giờ cuối đứng lớp, tôi ra khỏi trường, sương mờ đã bao phủ trên những cánh đồng, trên mấy hàng kẽm gai giăng làm giới hạn của trường, ngửa mặt nhìn chiếc cột cờ khẳng khiu vươn trên bầu trới u ám, tự nhiên tôi thấy đầu óc váng vất, có thể vì sương xuống quá dày, cũng có thể tôi bị mệt, tôi bước những bước hao hụt ra đường.

Khi về đến nhà, tôi thấy dì tôi tiếp hai người đàn ông Đại Hàn trong nhà.

Điều này quả ngoài sức rtưởng tượng của tôi, nhất là tôi lại nghe bà nói tiếng Anh nữa. Tôi thấy hai chân tôi như bị buộc lại, líu ríu, không đi được nữa. Cũng may dì tôi ngồi quay lưng ra phía cửa không nhìn thấy tôi. Qua cánh cửa mở một bên, tôi trông thấy họ và nghe họ nói.

Tôi bối rối không biết nên vào nhà hay bỏ đi.

Đúng lúc ấy tôi thấy Tuấn chạy vespa qua.

Tôi chạy theo anh, gọi:

– Anh Tuấn. Anh Tuấn.

Tuấn dừng xe lại, bảo:

– À, cô.

Tôi nói:

– Nhà tôi có khách, tôi không tiện vào. Anh cho tôi theo sang bên ấy một chút, đuợc không?

Tuấn nói:

– Mời cô.

Anh ra hiệu cho tôi ngồi sau xe và chở tôi về nhà anh.

Tuấn mời tôi ngồi trong một căn phòng khách nhỏ, nhưng bàn ghế, đồ đạc trông khá sang trọng. Anh bật nút chiếc máy quay băng để trên mặt tủ ly tách, mở nhạc cho tôi nghe. Anh xin lỗi đi lau qua mặt mũi trước khi trở lại. Người nhà của anh mang cho tôi một ly trà.

Tuấn trở lại, bảo:

– Cô chạy loạn à?

Tôi nói:

– Mệt quá.

Tuấn nói:

– Nghe nhạc đi, sẽ hết.

Giọng nói bình tĩnh pha một chút bỡn cợt cố hữu của anh làm tôi nhớ lại cái vẻ hoảng hốt thái quá của mình. Anh chỉ là một người hàng xóm, tôi làm như vậy coi sao được?

Nghĩ vậy, tôi cố lấy lại bình tĩnh. Tôi bưng ly trà lên uống, cảm thấy hai tay bị run. Cái điều tôi sợ hãi bấy lâu, cái sự thật được che đậy, tôi đã cố tình xây lưng để khỏi thấy, đã tới lúc phơi bầy ra cả chăng?

Tuấn gỡ cuốn băng đang chạy ở máy ra, lắp vào một cuốn khác.

Anh nói:

– Để tôi mở cho cô nghe cuốn nhạc mới này.

Tôi không chú ý bao nhiêu đến lời anh nói, tuy nhiên tôi cũng mỉm cười tỏ dấu cám ơn anh.

Tâm trí tôi không ngớt bị cái cảnh vừa nhìn thấy ám ảnh.

Cuốn băng quay mấy vòng rổi bắt đầu phát tiếng. Đó là một bản nhạc tôi đã nghe từ lúc còn nhỏ, bây giờ nghe lại, lẩm nhẩm theo, thấy nhớ sai nhiều chỗ, cả âm điệu lẫn ca từ. Nhưng bài hát đã làm vơi trong giây phút nỗi sợ hãi đang chất chứa trong lòng. Tôi ít khi nghe nhạc. Thứ nhất tôi không có thì giờ rảnh. Thứ hai, nhà tôi từ ngày tôi lớn lên, chẳng thấy khi nào dư giả để mua một chiếc máy quay băng đĩa tạm gọi là có thể nghe nhạc được. Phần khác, tôi sợ cái thế giới quá dịu dàng do âm hưởng ấy gây ra và tôi không muốn bị nó lôi cuốn theo. Những câu hát tôi nhớ lõm bõm trong đâu, hầu hết tôi đã nghe mẹ tôi hát, và, càng ngày tôi càng nhận ra những bài hát đối với tôi chỉ là những dấu hiệu của sự bất hạnh.

Nghe hết bài hát, tôi thấy nổi gai cả người. Tôi phải xin với Tuấn hãy tắt máy đi.

Tuấn có vẻ ngạc nhiên, hỏi:

– Cô không muốn nghe nữa à?

Tôi mỉm cười bảo với anh:

– Anh cho tôi mượn cái hôp băng một chút.

Tôi muốn biết tên bài hát, tên tác giả và tên ca sĩ trình bầy. Đó là những cái tên lạ hoắc đối với tôi. Nhưng những âm điệu, cái gịọng trầm ấm ấy, tôi đã nghe thấy nhiều lần ở đâu đó.

Tuấn ngừng máy, quay lại ngó tôi.

Tôi trả lại anh cái hộp băng, bảo:

– Bài hát này tôi đã nghe từ ngày còn nhỏ, bây giờ mới biết tên tác giả, tên bài hát và luôn cả tên người hát.

Tuấn nói:

– Bài đó có lâu rồi.

– Vâng.

– Tôi có nhiều băng nhạc. Thỉnh thoảng nếu cô thích, mời cô sang nghe.

– Xin cảm ơn anh.

Nói xong câu đó tôi mới chợt nhớ ra, trong lúc hoảng hốt khi thấy Tuấn chạy qua cửa, tôi đã gọi anh bằng anh, và bây giờ tôi đã tiếp tục câu chuyện với anh bằng cái tiếng xưng hô ấy.

Sự yên lặng sau lời cảm ơn của tôi rớt vào câu chuyện lại lôi kéo tôi trở về thực tại, cái thực tại mà bài hát vừa làm tan loãng ra. Tôi lại cảm thấy chân tay muốn run trở lại.

Tuấn nhìn tôi một lát, rối sau dường anh cũng đoán được nỗi áy náy của tôi, anh mỉm cười dịu dàng bảo:

– Cô không dám về nhà à?

Tôi ngửng lên nhìn Tuấn, thử xem câu nói của anh có ý mỉa mai, đùa bỡn gì chăng? Nhưng vẻ mặt Tuấn chẳng có gì chứng tỏ anh định đùa cợt tôi cả. Tôi cũng chẳng biết đáp sao cái câu hỏi của anh. Sau có lẽ thấy tôi không được tự nhiên, anh hỏi tôi một vài câu khác, về công việc của tôi ở trường, công việc có mệt nhọc lắm không, cô đi về bằng gì? Tôi nói, không, công việc của tôi không có gì đáng gọi là vất vả, chỉ cực vì chỗ làm xa, đi lại như thế làm sao đúng in giờ giấc được, thành thử cứ phải dậy sớm. Tuấn bảo vậy cô nên mua một chiếc xe gắn máy để di chuyển là tốt nhất. Tôi nói, tôi chẳng biết đi một thứ xe nào cả, đường xá lại nhiều xe cộ, tôi cũng sợ, nhưng để rồi xem, chắc tôi cũng đến phải giải quyết bằng cách đó thôi. Tuấn cười bảo, chạy xe gắn máy có gì khó đâu, cô chỉ cần tập một buổi thôi mà.

Tuấn ngỏ ý mời tôi ở lại ăn cơm.

Tôi chưa muốn về nhà nhưng ngại không nhận lời.

Tôi cũng muốn nhân dịp này gợi chuyện hỏi xem may ra Tuấn có biết chi về chuyện nhà tôi, nhưng chẳng biết nên nói thế nào, rồi nhớ ra Tuấn vừa mời tôi ăn cơm, chắc đã đến giờ ăn của gia đình anh, tôi bèn đứng dậy xin phép ra về. Tôi cũng nghĩ, có lẽ tôi cũng chẳng cần phải hỏi ai nữa, mọi việc như thế đã khá rõ ràng.

Tuấn nói:

– Cô đừng ngại, cứ ở lại chơi, lúc nào tôi ăn cũng được mà.

Tôi bảo Tuấn:

– Thôi. Tôi về..

Tuấn đưa tôi ra cửa, lúc vào cũng như lúc ra, tôi không gặp một ai khác trong nhà anh trừ người giúp việc [có lẽ vậy] mang nước cho tôi. Cũng may. Nếu không, hẳn anh lại phải mất công giải thích.

Tôi về nhà vừa đi vừa run. Tôi không biết những người khách có còn lại trong nhà chăng? Tôi cũng nghĩ, cái vẻ hốt hoảng của tôi lúc nãy khi gọi Tuấn, chắc đã làm anh ngạc nhiên. Nó không thích hợp với cái vẻ bình tĩnh tôi cố làm ra lúc đứng dậy đi về. Hoặc anh đã hiểu lý do vì sao tôi đã gọi anh như kêu cứu. Đằng nào thì cũng có vẻ thê lương cả.

Tôi bước dọc theo con đường sắt trở về nhà. Vào giữa bữa ăn tối, mọi gia đình hầu như nhà nào cũng đang họp mặt ăn uống. Những hình ảnh bình thường ấy tự nhiên cũng làm tôi mủi lòng. Một bữa ăn được ngồi với nhau đủ mặt người trong nhà, trong một không khí ấm cúng như vậy, đối với tôi là một điều khó khăn. Cứ tình trạng này kéo dài mãi, còn có thể nói, đó là việc không thể có nữa là đằng khác.

Đi được nửa đường, tôi chợt nghĩ, giờ này có thể dì tôi và mấy người khách chưa ra khỏi nhà. Nếu họ chưa đi khỏi thật, tôi có về cũng không dám vào.

Tôi bèn quay sang cái ngõ kế cận và ra đường cái. Tôi đi kiếm một chỗ nào đó để ngồi, điệu này kể như tôi chẳng thể ăn được bữa cơm chiều nữa. Vậy tốt hơn, tôi nên kiếm một cái quán ăn, ăn qua loa một chút gì đó.

Tôi đi gần hết quãng phố, tới một tiệm Tầu, vào gọi một tô mì nhỏ, một chai xá xị.

Quán vắng, cạnh bàn tôi có hai đứa trẻ ngồi đánh cờ với nhau như hai ông già. Tôi để ý thấy chúng cũng đăm chiêu, tính nước, cất tay đi những con cờ một cách thận trọng.

Tôi ăn hết tô mì thì chúng cũng xóa bàn cờ bầy ván khác. Tôi muốn ghé sang tận nơi xem chúng đánh, nhưng sợ làm rộn chúng, lại thôi. Một lát, người chủ tiệm to béo, bụng phệ, cởi trần, ra đứng bên cạnh bàn coi hai đứa trẻ tiếp tục ván cờ. Cái lưng của ông ta che kín bàn cờ, tôi phải ngồi thụt vào trong phía tường, nghiêng đầu, mới nhìn thấy những con cờ xếp trên những đường chỉ khắc được bôi phấn trắng. Người chủ tiệm không nói gì. Hai đứa trẻ cũng khộng đứa nào mở miệng. Thật là lạ. Chốc chốc, một đứa một đứa giơ tay đập con cờ đánh chát xuống bàn ăn một con của địch thủ. Đứa kia cũng làm một cử chỉ tương tự hoặc lặng lẽ đi một nuớc khác trên bàn cờ. Tôi tưởng tượng cái ngón tay nhỏ của đứa bé vẽ một đường vòng trên cái lưng đầy mỡ của người chủ tiệm. Tưởng tượng khiến tôi nhìn lại cái lưng của người Tàu đứng trước mặt, thấy một dòng mồ hôi chẩy từ cần cổ có những nếp nhăn xuống cái sống lưng lõm sâu của ông ta.

Lúc tôi đứng dậy ra ngoài, hai đứa nhỏ vẫn chưa đánh xong ván cờ. Người Tàu bỏ đi lúc nào tôi cũng chẳng hay. Mãi khi tôi kêu người trả tiền mới lại thấy ông ta từ trong nhà chạy ra lấy.

Chiếc đồng hồ tròn treo trên tường chỉ hơn chín rưỡi. Chuyến xe lửa thường lệ đang rần rần chạy tới. Măt đất rung chuyển, mặc dầu từ quán này tới đường xe lửa khá xa. Đứng ở đây tôi có thể trông thấy hai ngọn đèn đỏ treo trên hai chiếc cần gỗ được hạ xuống làm rào cản các xe đang lưu thông trên đường ngừng lại chờ cho xe lửa chạy qua. Và mặc dầu bóng tối dầy đặc tôi vẫn nhìn thấy những đám khói trắng từ dấu máy tàu nhả ra.

Trong giây lát, tiếng bánh sắt lăn trên đường rầy nghe nhỏ dần rồi mất hẳn. Xe cộ bị chặn lại hai bên đường lưu thông trở lại.

Tôi nhận ra hai chân mồ hôi và bụi cát ướt dính, khó chịu. Tôi muốn đi mau về nhà, tháo dép, tắm rửa cho sạch sẽ. Tôi cũng chẳng còn nghĩ đến việc dì tôi và mấy người khác của bà có còn ở trong nhà không nữa.

Tôi ngửi thấy mùi tàn than trong hơi gió vừa thổi tạt tới người.

Tôi vừa mệt vừa cảm thấy khắp người gây gây lạnh như sắp bị cảm.

Đêm sâu và lẩn khuất sau những đám mây cao ngất chi chít những đốm sao có chung một màu vàng nhợt.

Nhà tôi đã đóng cửa, đèn được tắt bớt, chắc là mấy người khách đã đi rồi.

Quả vậy, tôi nhìn qua cửa sổ không thấy ai nữa.

Tôi mở cửa bước vào trong nhà. Mùi thuốc lá vẫn còn nồng trong không khí.

Dưới nhà, con bé giúp việc đang ngồi rửa những chiếc tách và chiếc gạt tàn bằng sứ. Như thế chắc dì tôi cũng đã đi khỏi nhà cùng với mấy người Đại Hàn. Hai đứa nhỏ còn chạy chơi ngoài đường chưa về.

Thấy tôi về, con nhỏ ngửng lên nhìn rồi lại cúi xuống tiếp tục làm công việc. Nó cũng chẳng buồn chào hỏi tôi nữa.

Tôi cất đồ dùng, sách vở, bỏ dép ra đi đất, cúi xuống gầm giường tìm đôi guốc xỏ vào chân, lấy quần áo mang theo vào buồng tắm để thay.

Tôi tắm rửa, lấy bàn chải chà hai bàn chân đầy bụi cát. Trong khi làm những công việc đó, tôi cố giữ cho đấu óc khỏi nghĩ đến một điều gì.

Ở trong buồng tắm ra, tôi thấy người dễ chịu, nhẹ nhõm. Nhưng chỉ vài giây sau, tôi lại thấy tay chân muốn rung lên khi nghĩ đã đến lúc không còn thể né tránh chuyện gì được nữa, phải đối mặt, phải đương đầu thôi.

Con nhỏ giúp việc hỏi:

– Cô có ăn cơm không để cháu dọn.

Tôi nói:

– Hôm nay cô không đói. Cháu cứ cất đi.

Tôi cũng tránh không nhìn mặt con nhỏ và cũng không muốn nó nhìn thấy mặt tôi. Tôi ngồi ngay vào bàn làm việc, mang sấp bài của lũ học trò ra chấm, nhưng đầu óc loãng nhạt đến nỗi phải cố gắng theo dõi từng đoạn bài một.

Hai đứa nhỏ từ ngoài đường len lén mở cửa vào nhà.

Tôi phải gắt gỏng bắt chúng đi rửa mặt mũi chân tay, coi lại bài vở, lên giường đi ngủ.

Còn lại một mình với ngọn đèn nhỏ chiếu sáng trên mặt bàn, lúc đó tôi để hết tâm trí lắng nghe xem ba tôi có ở trên gác không. Ông làm gì suốt buổi chiều nay? Đây là lần thứ mấy dì tôi đưa khách về nhà như thế?  Ba tôi đã xử sự thế nào với bà về việc này? Chắc chắn ba tôi chưa ngủ, có bao giờ ông ngủ vào giờ này đâu. Ông đang làm gì mà trên đó mà yên tĩnh quá vậy?

Tôi viết một con số vào cái khung điểm và tự nhiên thấy không dám chắc đã viết số điểm đúng như ý muốn. Cái việc nhỏ đó làm tôi rúng động cả người. Tôi phải đặt cây viết xuống bàn để thở. Tôi phải làm một việc gì đó không phải nghĩ. Và tôi đứng dậy đi rót nước uống.

Ấm trà đã nguội.

Tôi đi lấy nước, đặt lên bếp đun, lấy nước pha trà mới. Tôi cũng thấy đói bụng nhưng không muốn ăn, tính sẽ uống một ly trà nóng pha đường thay cho bữa cơm tối. Dầu sao tôi cũng đã có một tô mì trong bụng.

Ly trà nóng bỏng, tôi uống từng hớp nhỏ, vừa uống vừa thổi. Uống hết nửa ly trà cơn đói dịu đi, nhưng tôi lại thấy hơi xót ruột.

Tôi muốn lên gác nói chuyện với ba tôi, nhưng sợ cái việc giáp mặt ông sau những gì đã xẩy ra. Đã tới lúc chúng tôi không thể nào kéo dài thêm cái trò chơi tảng lờ nữa. Tôi nghĩ, có lẽ tôi phải tránh cho ba tôi cái phút đau lòng tự ông phải nói cho tôi hay những việc làm của dì tôi. Tôi phải tự quyết đoán lấy mọi việc, sau đó, sẽ tự chọn lấy thái độ.

Cho đến phút này, tôi có thể hiểu như là, chắc dì tôi làm cái nghề bây giờ người ta goi là “nghề bán bar” hay một việc gì tương tự như thế.

Đối với mọi người, đối với ngay chính tôi nữa, bà vẫn là mẹ tôi. Việc đó ảnh hưởng tới tôi như thế nào? Học trò của tôi, đồng nghiệp của tôi sẽ nghĩ sao về tôi?

Cứ nghĩ vậy, mỗi phút, tôi tưởng như tóc tai cứ dần dần dựng ngươc cả lên.

Cho đến khuya, tôi vẫn loay hoay chờ ba tôi gọi lên để nói một điều gì đó. Ông phải nói một điều gì đó chứ? Nhưng tuyệt nhiên trên cái gác xép của ông tôi chẳng nghe một động tĩnh nào, ngoài cái tiếng lanh canh của mấy cái chén thủy tinh va chạm vào nhau, chắc là những lúc ông rót nước uống. Tôi ngồi ở bàn làm việc, chiếc bàn nhỏ, không bao giờ đủ chỗ để dùng, sách vở, ấm nuớc, chén tách, bút xanh, bút đỏ, luôn luôn tôi cứ phải tìm cách cất bớt thứ này hay thứ khác để lấy chỗ. Tôi ngồi như vậy, ngọn đèn cháy soi sáng những trang giấy trước mặt, ly nước cầm trên tay, vậy mà lắm lúc tôi tưởng như ngửi thấy cái mùi hôi hám của cái khay đèn của ba tôi. Cái mùi hôi không phải chỉ có ở một chỗ nào mà hình như bám trên tất cả mọi vật quanh ông. Trong lòng chiếc khay đèn bằng sắt của ông là một bức tranh in lại, bây giờ rỉ xét, loang lổ, không thể chắp nối lại với nhau, một đám mây, một cái đầu ngựa, mấy cái vó ngựa cất cao, một đám binh sĩ cầm giáo mác, tất cả lẫn lộn trong một màu đỏ sẫm, có thể do chất nổ gây ra, cũng có thể là bóng áy của buổi chiều. Tôi nhớ, trong lòng chiếc khay đó, ba tôi còn để một cái hộp đựng thuốc của hãng Roussel bằng thiếc, tròn, ông thường nạo sái bỏ vào đó, sái để lâu chẩy ra, keo lại, phủ một lớp trên cùng trông như chocolat. Những giọt thuốc rơi vãi ra ngoài mặt khay trông đen hơn. Trên hai cái kéo nhỏ ông vẫn dùng để sửa bấc đèn, thuốc và tàn than bám đen kịt, trông rõ ra là một thứ nhựa còn sống. Thuốc nướng chín biến thành màu cánh gián. Thỉnh thoảng tôi thấy ba tôi nhúng một ngón tay vào chén trà lấy nước bôi quanh cổ tẩu chỗ nối liền với se có quấn một miếng vải nhỏ. Hình như thuốc từ tay ông làm cho chén nước trở nên đắng hay thay đổi mùi vị thế nào đó, vì có lần tôi thấy ông có lẽ đã quên mình nhúng tay vào, cầm lên uống rồi vội vàng nhổ toẹt hớp nước ra. Tôi có nói với ông, hãy để tôi thay chén và lau chùi khay đèn cho ông mỗi ngày, nhưng xem ra ông không muốn ai động đến một vật gì quanh ông cả. Đối với ông có lẽ nước nóng cần hơn chén sạch. Ông uống nóng một cách dễ sợ. Nước sôi vừa chế vào ấm, ông có thể uống ngay qua vòi ấm không cần rót ra chén. Mọi trò chơi [việc làm?] của một người hút, cái gì trông cũng kỳ quặc. Từ cách người ta lấy thuốc, ngay cả cái lọ đựng thuốc, nướng thuốc, tiêm, hút, đèn lửa, cách nằm, thở khói, hưởng thụ khoái cảm do thuốc gây ra, tất cả chẳng có cái gì ngoạn mục cả.

Nhiều lần tôi ngồi với ba tôi, rót nước cho ông, nhưng chưa bao giờ tôi uống một hụm nước nào trong những cái chén đó. Những cái chén tôi vừa nghe tiếng va chạm lanh canh, tôi tưởng tượng cái cánh tay gầy guộc, nổi những đường gân xanh chằng chịt của ông đang giơ ra với lấy ấm nước, đưa lên miệng, và tôi nghĩ, đáng lẽ ông phải gọi tôi lên để nói một điều gì đó về cái cảnh vừa xẩy ra trong nhà chứ, tại sao ông lại yên lặng như vậy?

Tôi ngồi tới hai giờ sáng, không thây buồn ngủ, cũng không thấy dì tôi về. Như thế, đêm nay bà không về.

Tôi cảm thấy như một cơn sốt lạnh cuộn dưới da mà không phát ra được.

Tôi tắt đèn, vào giường nằm. Hai đứa trẻ đã ngủ say. Tiếng thở của con bé giúp việc nằm gần bên chỗ tôi nghe cũng đều hòa. Chỉ có ba tôi, không biết ông thức hay ngủ. Tôi không còn nghe một tiếng động nào nữa trên chỗ ông nằm, nhưng vẫn còn ánh đèn. Cơn lạnh cứ làm tôi ghê gai khắp người và còn thấy lợm giọng muốn nôn nữa.

Cả ngày hôm nay tôi phải làm việc, đi lại, không ăn bữa tối, uống trà đặc, có thể đó chỉ là cơn cồn cào, đúng vào lúc quá mệt, nên buồn nôn.

Tôi cũng thấy nước mắt chảy ra mặc dầu tôi không muốn khóc. Tôi lấy tay thấm nước mắt, bẻ đốt ngón tay, ngón chân, trong đêm khuya nghe tiếng kêu lắc rắc đó, dù là những tiếng động do chính mình gây ra cũng làm cho sợ.

(Hết Chương 7)

Share this post