Trong Ánh Lửa Thù (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 1

Trong Ánh Lửa Thù (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 1

LỜI MỞ ĐẦU

Bui một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông

(Nguyễn Trãi)

Trong lịch sử nhân loại, những cuộc tranh chấp quanh chiếc ngai vàng bao giờ cũng đẫm máu. Nhìn lại lịch sử Việt Nam, chúng tôi dừng lại với thời gian đầu thế kỷ 13, thời gian diễn ra những cuộc tàn sát thảm khốc giữa các tập đoàn thù nghịch và cũng là thời gian cận kề với những chiến công lẫy lừng của dân tộc.
Một câu hỏi đã vang lên: Do đâu mà ông cha ta dựng được những trang sử ngời sáng ngay sau thời gian người trong một nước chém giết nhau không thương xót?
Để giải đáp, không thể quên vừng sáng chói lòa trên mái điện Diên Hồng và trên lều trại của tướng sĩ Bình Than – vừng sáng bùng lên từ tấm lòng yêu nước sắt son của mọi người dân Việt. Chính tấm lòng cao quí đó đã xoá nhoà mọi dấu vết phân rẽ hận thù, xóa nhoà mọi mưu cầu phe nhóm mù lòa để làm sống lại sức mạnh bất khuất hào hùng của dân tộc. Nhưng cũng chắc chắn là mọi chuyện khó thể diễn ra trong êm ả bình lặng dù ở bên các lạch suối, bờ sông của miền thượng du heo hút hay ngay dưới mái những cung điện kinh thành Thăng Long.
Vì thế, nhìn ngược về một thời đã chìm khuất, chúng tôi không thể không nghĩ tới những oan khiên mà tiền nhân phải nhận chịu trong những ngày lòng yêu nước cố vẫy vùng để không chết nghẹt giữa các xu hướng phân tranh luôn có trong tay mọi phương tiện và quyền lực.
Bằng các tình tiết hư cấu dựa trên khung cảnh lịch sử, chúng tôi mong sẽ làm được phần nào công việc gợi ý cho những suy tư cần thiết trong giai đoạn của chúng ta.
Uyên Thao (Sài Gòn 1990)

oOo

HỒI 1
AN MIÊN LỮ QUÁN

Mặt trời chớm khuất sau những mỏm đá xám xịt cao ngất của dẫy Hoàng Liên Sơn khi đoàn người vượt qua con dốc cuối cùng dẫn đến Bến Chợ. Vài tia nắng chiều hất ngược lên nền trời những vệt sáng hình dẻ quạt nhuốm đỏ các cồn mây đang dồn lại thành những khối hình kỳ dị.
Dẫn đầu là một người vạm vỡ chít khăn đầu rìu, tuổi trạc ba mươi. Vận y phục phường săn bằng vải thô màu chàm, cặp mắt hơi lộ trên khuôn mặt vuông, nước da xạm nắng, gã có vẻ ngoài của một người miền núi chất phác nóng nẩy nhưng cách điều khiển ngựa và khoé nhìn sắc bén lại ngầm chứa vẻ linh lợi của một người từng trải. Kế sau gã là hai người nhiều tuổi hơn dắt theo cặp ngựa thồ chất đầy bao giỏ trên lưng. Cách cặp ngựa thồ chừng mươi sải là một thanh niên sóng ngựa song song với một ông già.
Cả năm đều im lặng như đang lắng nghe tiếng vó ngựa gõ trên mặt đường lởm chởm sỏi đá. Từng cụm bụi tung lên dưới những chiếc móng sắt pha lẫn vào màn sương chiều đang buông xuống xóa nhoà lần cảnh vật. Đoàn người vào Bến Chợ lúc đèn trước các hàng quán vừa được thắp sáng.
Bến Chợ nằm ngay phần đầu của dải bình nguyên dọc hữu ngạn sông Thao ven con lộ lớn chạy qua nhiều vùng hiểm trở từ miền Hoa Nam về ngã ba Trung Hà. Toàn khu gồm hơn ba trăm nóc nhà dài khoảng ba dặm dọc hai bên lộ và một bến sông không lúc nào vắng bóng thuyền bè. Đây là trạm dừng chân bắt buộc cho người qua lại giữa hai mé thượng lưu sông Thao và từ bắc thùy về xuôi. Đây cũng là nơi trao đổi hàng hoá quan trọng của một vùng rộng lớn bao gồm miền tây bắc biên thùy Đại Việt, miền rừng núi tây nam nhà Tống và nước Đại Lý. Muối từ các trấn Hải Đông ngược sông Đà lên và trâu ngựa từ các miền rừng núi tây bắc dồn xuống là nguồn hàng đã giúp không ít người dựng nên cơ đồ khi tới Bến Chợ. Kẻ thành công nhất trong số những người này là chủ nhân An Miên lữ quán.
Ông xưng họ Vạn nhưng dân cư ở đây lúc đầu thường gọi ông là Phó Giám vì nghe nói có một thời ông từng làm xã quan, chức Phó Sử Giám. Lâu dần, mọi người lại đổi cách xưng hô gọi ông là Vạn lão gia.
Vạn lão gia tới Bến Chợ từ mười tám năm trước, khi ông mới ngoài bốn mươi. Khởi nghiệp bằng nghề buôn trâu rồi buôn thêm ngựa, một thời gian sau, ông mở cửa hàng bán đủ loại gạo muối vải vóc và cuối cùng lập khách điếm. Buổi đầu xuất hiện, ông chỉ có ba gia nhân với mấy chiếc túi khoác trên vai. Bốn thầy trò đều không có gia đình thân quyến. Ít năm sau, số gia nhân của ông tăng lên trên năm mươi người. Ba gia nhân theo ông đầu tiên đều đã có vợ con và trở thành người đứng đầu một số cơ sở của ông. Riêng Vạn lão gia đích thân trông coi An Miên lữ quán và vẫn sống một mình.
Đoàn người kìm ngựa trước hàng rào nứa bao quanh quán, dưới ngọn đèn treo nơi cổng chính. Phía dưới tấm biển ghi tên quán là một tờ cáo thị lớn dán kín trên tấm bảng thường ngày vẫn ghi các món ăn đặc biệt của lữ quán. Tờ cáo thị còn mới, chi chít chữ.
Trong lúc gã chít khăn đầu rìu và hai người kia dắt ngựa vào sân, chàng thanh niên và ông già bước tới trước tấm bảng. Tờ cáo thị là bản sao một chiếu chỉ của nhà vua vừa được ban bố. Chàng thanh niên nhìn nhanh những hàng chữ:
– Hạ qua thì thu tới, đông tàn ắt xuân sang, luật biến dịch tự nhiên là thế. Cho nên, cuộc sống đổi thay, lẽ đời chuyển hoá, các triều đại nối tiếp nhau mà cầm đầu giềng mối xã tắc.
Trẫm ứng mệnh trời, thuận lòng người, kế ngôi nhà Lý đã tròn hai mươi bảy năm.
Nay, thấy một số người, hoặc trong tôn thân nhà Lý hoặc thuộc dòng thần tử cố triều, còn lâm thế tiến lui nan giải, phải tiếp tục cầm gươm vác dáo, gối đất nằm sương đối chọi với triều đình, kéo dài tháng ngày gian khổ, vừa hao tổn tâm lực vừa tạo cảnh bất an cho trăm họ. Trẫm rất khổ tâm vì cảnh ngộ của những người đó và hết sức đau lòng vì chưa dứt cảnh cốt nhục tương tàn.
Để thoát vòng gian khổ và đem lại an vui cho trăm họ, các người nên từ bỏ binh giáp, gấp rút trở về Thăng Long cùng Trẫm tới đền Đồng Cổ, đứng trước anh linh tiên liệt mở cuộc hội thề xoá bỏ hận thù, chia hưởng lộc trời, chung lo báo quốc.
Trẫm đã lệnh cho hết thẩy các lộ trấn dứt bỏ mọi ý nghĩ, hành vi phân biệt đối với tôn thân nhà Lý và thần tử cố triều. Đất nước là của chung trăm họ chứ không phải của riêng họ Lý, họ Trần. Ngôi cửu ngũ thuộc về ai chẳng qua do thiên định nhất thời để xã tắc luôn vững giềng mối mà thôi …
Trẫm đang ngóng đợi mọi người tại Thăng Long và trông mong sớm có phút giây chúng ta cùng đứng dưới mái đền Đồng Cổ trước sự chứng giám của tổ tông để cùng nói lên lời thề không giữ hận thù giữa con dân trong một nước…

Chàng thanh niên vừa đọc dứt chợt nghe có người lên tiếng:
– Thật là đại phúc cho quốc gia nếu phía sau chuyện này không có mưu sâu kế hiểm nào.
Người lên tiếng là một ông già bán thuốc dạo, da mặt nhăn nheo đang đứng sát bên. Chàng thanh niên ngạc nhiên không biết lão từ đâu hiện ra và tới bên chàng lúc nào. Lão thản nhiên hỏi chàng:
– Ý quan khách ra sao?
Chàng mỉm cười từ tốn:
– Không rõ đây là lời của nhà vua hay lời của Quốc Sư?
– Sao quan khách lại phân biệt như vậy? Giữa nhà vua với Quốc Sư thì có gì khác?
Chàng thanh niên cười thành tiếng:
– Khác nhau chứ! Nhà vua là nhà vua, Quốc Sư là Quốc Sư, giống nhau thế nào được!
Lão còn toan lên tiếng nhưng chàng thanh niên đã quay đi trong lúc nói với lại:
– Chuyện này chẳng liên can gì tới mấy giỏ hàng của tôi cả. Ai nói cũng thế thôi!
Chàng ra dấu cho ông già cùng bước vào sân.
Lão bán thuốc dạo cũng xốc lại hành lý trên vai bước theo. Lão vượt lên trước hai người, bước vào đại sảnh, đi tới chiếc bàn nhỏ kê sát bên khung cửa sổ mở ra khu vườn bên trái, gỡ bọc hành lý, ngồi xuống.
Lúc này chàng thanh niên và ông già mới bước ngang đại sảnh. Chủ quán lật đật rời quầy hàng, chạy ra chào đón. Tuy tuổi đã cao nhưng dáng đi của ông rất nhẹ nhàng và giọng ông chắc nịch. Ông đưa chàng thanh niên và ông già tới chiếc bàn rộng kê gần quầy hàng. Ông già nghiêng người nói nhỏ và mắt chủ quán loé sáng liếc nhanh về phiá chàng thanh niên. Ông vội vã kéo ghế mời khách ngồi rồi bước ra nhà sau.
Hai người vừa yên vị, ông đã trở lại bưng theo một khay trà. Ông đứng kề bên chàng thanh niên, nghiêng người đặt khay trà xuống bàn, rồi vừa loay hoay bày mấy chiếc ly, ông vừa nói nhanh:
– Xin vương gia lưu tâm. Quán bữa nay có nhiều khách lạ đáng ngờ.
Chàng thanh niên thờ ơ nhìn quanh, lên tiếng:
– Đa tạ Vạn lão gia, xin cứ để chúng tôi tự lo.
Chàng đón bình trà trên tay chủ quán rót vào ly. Chủ quán lui xuống nhà sau và hai người ngồi lặng lẽ.
Từ bên ngoài bỗng vang lên tiếng vó ngựa khua dồn dập. Dường như người cưỡi ngựa phóng thẳng vào sân quán, tiếp liền đó là tiếng quát thét giận dữ. Cả hai nhìn ra phiá ngoài nhưng không rõ chuyện gì.
Giữa lúc đó, gã chít khăn đầu rìu bước tới ngồi xuống bên chàng thanh niên, nói nhỏ:
– Bẩm vương gia, đã chọn phòng ở cuối tả vu.
Chàng thanh niên nhíu mày gắt:
– Kiều Phúc, ta đã dặn chỉ kêu ta là chủ nhân.
Kiều Phúc bối rối đưa mắt nhìn quanh, vừa kip thấy hai người lạ đột ngột xuất hiện ngay trước cửa đại sảnh. Hai người không bước vào mà dừng giữa cửa nhìn soi mói những người đang ngồi bên trong. Cả hai đều trọng tuổi. Một người lùn mập, mặt tròn, đầu hói, râu quai nón tua tủa che gần kín hai tai. Dưới ánh đèn sáng, trán lão bóng láng, mặt hầm hầm sắc giận, cặp mắt ốc nhồi quắc lên dữ tợn. Cạnh lão là một người hơi ốm, nước da xám ngoét. Người này cao hơn bạn một cái đầu có cái nhìn lạnh lẽo tựa hồ cái nhìn của một cặp mắt giả vô hồn. Đầu y cạo nhẵn thín nhưng y lại mặc áo gấm dài tới gần đầu gối, ngang lưng nịt chiếc khăn lụa đỏ. Bộ dạng y rất khó phân định vì pha trộn nửa tăng, nửa tục, nửa quan, nửa dân. Điểm rõ rệt nhất ở y chỉ là cái vẻ lạnh lùng vừa tàn nhẫn vừa hiểm độc. Y lặng thinh trong lúc lão lùn dựng ngược hàm râu quai nón, trợn mắt nói như gầm lên:
– Kẻ nào vừa từ phía Bắc xuống, nói ngay!
Khắp đại sảnh đều hướng về phiá lão với vẻ ngạc nhiên khó chịu, không ai lên tiếng. Cả hai chậm chạp bước tới, đi ngang những bàn có người ngồi, trừng trừng ngó. Kiều Phúc nói với chàng thanh niên:
– Hai gã này từ hướng bắc tới. Vừa tới sân họ đã quát tháo tra vấn đám gia nhân trong quán về một nhóm người nào cũng mới từ hướng bắc tới.
Chàng thanh niên quay về phía ông già, hỏi:
– Đại thúc biết mấy người này không?
Ông già khẽ lắc đầu:
– Chỉ biết sơ một người, nhưng …
Ông không nói hết câu vì hai người kia đang lừ lừ tiến về phiá họ. Tới nơi, lão lùn đưa bàn tay hộ pháp chỉ thẳng vào mặt chàng thanh niên, hỏi:
– Tiểu tử từ đâu tới?
Chàng thanh niên cố giữ giọng bình tĩnh hỏi lại:
– Chẳng hay nhị vị cần hỏi điều chi?
Lão lùn gằn giọng:
– Ta hỏi mi rồi, mi từ đâu tới?
Chàng thanh niên vẫn mềm mỏng:
– Việc đó đâu có liên can tới quí vị!
Chủ quán từ nhà dưới chạy lên, đứng phiá sau chàng thanh niên. Nhận ra người đang gây chuyện, ông vội xen vào:
– Hà trại chủ có điều chi mà nổi cơn lôi đình vậy? Xin thủng thẳng nói rõ đầu đuôi coi lão có thể tiếp được gì cho trại chủ chăng.
Lão lùn trợn mắt nói như hét vào mặt chủ quán:
– Mi tiếp gì? Tiếp cho mấy thằng họ Lý ở cái xó Khau Pho xúc phạm ta hả?
Chủ quán toát mồ hôi, lắc đầu quầy quậy:
– Sao Hà trại chủ lại nói vậy? Lão sống gần trọn đời ở đất này có bao giờ biết đến những chuyện động trời ấy mà Hà trại chủ nỡ …
Không đợi chủ quán dứt câu, lão lùn quát:
– Mi muốn nói ta dựng chuyện hả?
Toàn thân run lên vì kích động, lão giơ hai nắm tay ra, mặt đỏ rần. Chủ quán cố mỉm cười, dịu giọng:
– Xin trại chủ bớt nóng!
Chủ quán vừa dứt câu, lão đã đấm mạnh lên mặt bàn, chỉ vào mặt chàng thanh niên nói:
– Lão họVạn bênh mi nên chính mi là thủ phạm.
Lão quơ tay gạt phắt bình trà trước mặt chàng thanh niên xuống đất. Chủ quán còn đang lúng túng trước cơn giận điên cuồng của lão, lão đã hét tiếp:
– Nhãi ranh, thú tội đi! Chần chừ một giây, ta sẽ chẻ xác mi thành hai mảnh.
Chàng thanh niên vội ngầm đưa tay dưới gầm bàn bóp mạnh tay Kiều Phúc rồi lên tiếng:
– Quả tình kẻ ngu này không liên can đến tiên sinh. Xin tiên sinh bình tĩnh kể lại sự việc coi ra sao.
Lập tức, lão lùn quài tay ra sau lưng rút phắt lưỡi đao to bản chém chéo xuống đầu chàng thanh niên. Chàng vội bật người ra phía sau trong lúc Kiều Phúc và ông già đồng xô mạnh chiếc bàn vào lão.
Hà trại chủ là Hà Đằng thuộc dòng họ nhiều đời truyền nối nắm quyền động chúa miền núi tây bắc sông Thao. Lúc này các động đã thu hẹp thành một số sơn trại, nhưng họ Hà vẫn giữ nguyên thế nghênh ngang một cõi. Khi nghĩa binh Phạt Trần Hưng Lý của Võ Thành Vương lui về lập căn cứ tại miền tây bắc Qui Hoá, họ Hà càng tự tung tự tác hơn vì cả hai phe Lý, Trần đều muốn có sự hỗ trợ của các sơn trại.Các quan chức triều đình tại lộ Qui Hoá luôn tránh nhúng tay vào việc làm của họ Hà trong khi nghĩa binh Hưng Lý cũng cố không gây va chạm. Hà Đằng là người hung hăng nóng nẩy nên mặc sức buông lung.
Từ lúc chàng thanh niên bắt đầu đối đáp với Hà Đằng thì hai người ngồi bên chiếc bàn kê khuất trong góc đại sảnh đưa mắt nhìn nhau. Cả hai đều trạc ngoại ngũ tuần mặc đồ vải thường màu nâu xậm giống như các lái buôn trâu vẫn xuất hiện tại Bến Chợ vào các kỳ đầu tháng. Một người để râu ba chòm tỉa kỹ lưỡng còn người kia tóc đã bạc nhưng mặt mày nhẵn nhụi. Hai người nhìn chuyện đang diễn ra tựa hồ cảnh trên sân khấu. Người tóc bạc nói với người kia:
– Hẳn không ngoài sắp đặt của Quách Bá Liêm.
Người kia gật đầu nói:
– Như thế lại càng chứng tỏ mức chính xác của những điều mà tôi với ông đã thu được.
– Ông nghĩ là lão Quách cũng đã biết như ta?
– Đúng thế!
Vừa đáp, người kia vừa mân mê mấy chòm râu trong lúc mắt không rời khỏi chàng thanh niên:
– Chưa biết chừng mấy thằng kia với lão chủ quán cùng một phe thật!
– Ông đoán vậy sao?
– Tôi nghĩ chỉ có đám bộ hạ Võ Thành Vương mới được lão chủ quán săn đón lo lắng như thế.
Người đầu bạc trề môi:
– Vương hầu gì mấy thứ cá nằm trên thớt đó. Bất quá vài mẻ lưới là xong.
Người kia lắc đầu:
– Chớ nên khinh địch, ông Nguyễn! Tụi nó đứng vững hơn hai mươi năm và còn mở thêm đồn trại, đưa tay tới tận Trường An phủ chứ chuyện chơi sao.
Người đầu bạc vẫn giữ nguyên giọng khinh miệt:
– Ông mới ngoại ngũ tuần mà nhụt chí sớm quá. Định xoá cái tên Trấn Giang Lê Bảo dễ vậy sao?
–Muốn xoá tên mình thì tôi sẽ tìm cách khác. Tôi chỉ nhắc rằng Võ Thành Vương không ươn hèn như người em chú bác của ông ta là Lý Huệ Tôn đâu.
Lê Bảo ngưng lại gợi sự lưu tâm của bạn rồi tiếp:
– Cha ông ta bị truất ngôi Thái Tử phế làm thứ dân nên từ thuở nhỏ ông ta chỉ là một đứa bé quê mùa. Khi Huệ Tôn lên ngôi vì thương hại mà ban cho ông ta vương tước, nhưng ông ta đâu có được tham dự chuyện triều đình nên thực tế vẫn là kẻ chân trắng. Một anh chân trắng mà đương đầu ngang ngửa với Quốc Sư suốt hơn hai mươi năm thì không thể coi thường được.
Nguyễn Đồng, tức người đầu bạc, không bác được lập luận của Lê Bảo nhưng vẫn không đổi ý:
– Nhưng ông ta đâu còn nữa. Bộ ông không tin ông ta đã chết rồi sao?
– Ở tuổi ngoài sáu mươi thì sống chết là thường, nhưng cho rằng vì ông ta chết mà phe phản nghịch tan rã thì không chắc đúng. Một người như Võ Thành Vương phải biết sắp xếp chu đáo mọi chuyện thuộc về hậu sự. Vả lại, tin tức đã cho hay đứa con trai của ông ta còn có phần trội hơn cha về nhiều mặt.
– Ông nghe nói về thằng đó thế nào?
– Thám tử của ta chưa hề biết gương mặt thật của y vì y che dấu hành tung rất kỹ. Tất cả chi tiết thu góp được cho tới nay chỉ gồm vỏn vẹn mấy điều về bản lĩnh võ công vô địch và mức tinh thông binh pháp của y. Y được coi là không có đối thủ trên toàn lộ Qui Hoá này và có tài điều binh xuất quỉ nhập thần.
Nguyễn Đồng cười nhạt:
– Đã không gặp mặt thì làm sao biết tài cán thế nào. Bọn vô tích sự đó chỉ bày trò thêm chân cho rắn.
Lê Bảo trợn mắt:
– Ông cho rằng dễ bịt mắt Quốc Sư lắm sao? Tưởng thế thì sớm rụng đầu đó.
Nguyễn Đồng tỏ vẻ ngờ vực:
– Chỉ khó bịt mắt Quốc Sư về những chuyện Quốc Sư có thể biết thôi. Đây là chuyện một thằng nhãi chui rúc trong xó núi cách kinh thành mấy trăm dậm thì Quốc Sư làm cách nào để phân nổi thực hư.
Lê Bảo bật cười:
– Ông nhìn đời đơn giản quá. Quốc Sư không chỉ có hai mắt, hai tai mà có cả ngàn mắt, ngàn tai. Hơn hai mươi năm nay, Quốc Sư không dám đưa quân triều đình tiến vào phiá tây vùng núi Hoàng Liên đâu phải Quốc Sư mù tịt về phe họ Lý mà chính vì biết quá rõ. Hơn nữa, còn một chứng cớ rõ rệt là Quốc Sư đã đặt ông với tôi ở vùng này ngần ấy ngày tháng. Quốc Sư có khi nào dùng người không đúng nơi đúng chỗ đâu.
Câu nói cuối của Lê Bảo khiến Nguyễn Đồng có vẻ hài lòng. Lão không tranh cãi thêm mà đưa mắt về phiá Hà Đằng và chàng thanh niên, hỏi:
– Thằng con của Võ Thành Vương chắc cũng trạc thằng nhãi kia?
Lê Bảo gật đầu:
– Chắc cỡ đó.
– Tên nó là gì nhỉ? Tôi quên rồi.
– Lý Trung Chính!
– Ừ, Lý Trung Chính!
Hai người ngưng nói, khi Hà Đằng chém lưỡi đao xuống và bị chiếc bàn lớn ập tới. Thay vì lui lại, lão đạp ngay một chân vào mép bàn tung người phóng vụt qua, lao tới trước chàng thanh niên. Nhưng chủ quán đã bước lên chắn ngang giữa hai người, năn nỉ:
– Hà trại chủ bất tất nóng nẩy động thủ như thế. Xin trại chủ hãy cho biết đã xẩy ra chuyện gì.
Lão xô chủ quán sang một bên và lưỡi đao lại vung lên. Đột nhiên, lão giật mình khựng lại, bước lui, mặt càng đỏ gắt hơn. Nơi chiếc bao da bọc quanh cườm tay cầm đao của lão đang rung lên một mũi tiêu nhỏ. Lão kéo mũi tiêu ra, giơ lên quát như sấm nổ:
– Tên khốn kiếp nào làm việc đê mạt này?
Khắp đại sảnh im phắc. Lão liền quay về phiá chàng thanh niên ném thẳng mũi tiêu vào mặt chàng. Chàng thanh niên nghiêng đầu như ánh chớp trong khi mũi tiêu xẹt qua bên tai cắm vào bức vách phía sau. Chàng có vẻ không kìm nổi cơn giận xấn lên, nhưng từ phiá bên kia đại sảnh bỗng có người lên tiếng:
– Sao lại có kẻ ngang ngược lỗ mãng như vậy?
Tất cả đều quay về phía vừa phát ra tiếng nói và thấy một thư sinh đang nhìn Hà Đằng bằng ánh mắt khó chịu. Thư sinh ngồi chung với hai người khác cùng trạc tuổi trên dưới hai mươi.

(Hết Hồi 1 – Xin đọc tiếp Hồi 2)

Share this post

One thought on “Trong Ánh Lửa Thù (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 1