Trong Ánh Lửa Thù (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 26

Trong Ánh Lửa Thù (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 26

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

Hồi 26:
NHỮNG MỐI ẨN TÌNH

Thụy An hỏi:
– Chàng định trao cho Quốc Sư lá thư lượm được tại Huyền Không cổ tự?
Trung Chính lắc đầu:
– Lúc này trao thư chẳng khác xúi Quốc Sư nghĩ rằng Quốc Ân đã nhẹ dạ lầm mưu ly gián của ta.
Chàng nói tiếp trong sự ngơ ngác của Thụy An:
– Thứ ta muốn trao cho Quốc Sư lúc này chưa rõ là gì, nhưng không thể không trao.
Chàng thở dài chấm dứt câu nói và nhìn ra xa. Khung cảnh trước mắt chàng biến thành cảnh hấp hối của trang chủ Hoàng Nhung tại Nguyệt Độ trang. Tiếng nức nở đau đớn của Nguyệt Quế xoáy sâu vào óc chàng, và tim chàng như bị bóp nghẹt bởi nét kinh hoàng trên gương mặt xám ngắt của Hoàng phu nhân. Rồi chàng lại thấy mình lọt vào giữa vùng lửa đỏ ngùn ngụt bốc từ da thịt của ngoại tổ.
Hồi ức như một dòng nước xiết cuốn chàng về xa mãi những ngày tháng cũ. Trung Chính gặp lại hình ảnh mẹ do chính bộ óc non nớt của chàng vẽ ra và đã trở thành một ám ảnh không rời xa chàng.
Cho tới giờ này, Trung Chính chỉ biết về mẹ qua vài tin báo đơn sơ. Những ngày sống tại Huyền Không cổ tự, chàng đã nhiều lần níu tay xin ngoại tổ kể về mẹ nhưng nhà sư chỉ thở dài. Những lúc đó, ngoại tổ thường dắt chàng tới đứng trước bình tàn cốt nhỏ đặt một bên mé đại điện và im lặng.
Lúc này tất cả đều không còn nữa. Cả bình tàn cốt nhỏ lẫn ngoại tổ đã bị vùi trong cảnh đổ nát hoang tàn. Điều còn lại duy nhất với chàng chỉ là những thắc mắc và sự lặng câm kéo dài. Nhưng phía sau tất cả những thứ đó, Trung Chính thấy nổi bật lên cái tên Trần Thủ Độ. Đây là điều duy nhất mà Trung Chính không thắc mắc. Chàng không thể tách rời bàn tay Quốc Sư khỏi nỗi đau kéo dài gần ba mươi năm của người họ Lý. Nhưng người họ Lý không phải một nhóm người biệt lập mà chính là một phần máu thịt của trăm họ nên nỗi đau kia cũng là nỗi đau cào xé thịt da trăm họ.
Chàng bỗng nghĩ tới Quốc Ân và Thụy An. Quốc Ân đã phải mang thân phận tội đồ còn Thụy An thì đang bị vây hãm giữa trăm ngàn mối băn khoăn lo sợ. Trung Chính thấy nàng tiều tụy hẳn so với những ngày đầu chàng thấy nàng tại Qui Hóa. Vóc dáng mảnh mai yếu đuối của nàng càng mảnh mai yếu đuối hơn khiến chàng tự hỏi:
– Nếu bàn tay gieo họa của Thủ Độ đặt lên đầu nàng thì sẽ ra sao?
Thụy An bắt gặp vành môi chàng mím chặt như đang cố nén cơn giận dữ. Nàng khẽ hỏi:
– Chàng giận thiếp sao?
Trung Chính nhìn nàng và trở lại với ý nghĩ nàng quá mảnh mai yếu đuối. Đặt bàn tay lên vai nàng, chàng nói:
– Ta đang nghĩ cách ngăn chặn những bàn tay gieo tai rắc họa cho nàng.
Thụy An không hiểu ý Trung Chính, nhưng nàng cảm thấy sợ hãi. Nàng xiết chặt hơn bàn tay chàng:
– Bây giờ thiếp lại mong chàng sớm đạt ước nguyện trở thành một gã nông phu.
Giọng nàng gần như thì thào:
– Thiếp cầu xin không bao giờ chàng còn phải cầm thanh gươm. Chàng sẽ chỉ quẩn quanh trong một khu vườn nhỏ để lúc nào thiếp cũng được ở bên chàng. Hàng ngày chúng ta sẽ cùng nhau vun tưới cho những luống rau…
Nàng vụt nhớ lại những ngày kề cận chăm sóc chàng dưới mái lều xiêu vẹo của Trung Dũng Hầu phu nhân bên góc rừng Qui Hóa. Chỉ vừa cách biệt mà tất cả đã xa vời như chuyện từ một tiền kiếp mơ hồ. Nhưng dù là tiền kiếp xa xôi, Thụy An vẫn thấy khuôn mặt đau đớn của chàng và lại dấy lên nỗi sợ hãi không căn cỗi với một băn khoăn:
– Chàng sẽ khổ vì ta thực sao?
Chàng không nghe rõ lời nàng, cúi xuống hỏi:
– Nàng nói sao?
Thụy An nói:
– Thiếp cảm thấy sợ.
Nàng cố giải thích rõ hơn:
– Từ lâu thiếp vẫn linh cảm khó tránh một tai họa khủng khiếp nên lúc nào cũng thấy sợ.
Trung Chính hỏi:
– Nàng tưởng tượng về tai họa đó ra sao, sẽ xẩy ra cho nàng hay cho ta?
Thụy An lắc đầu:
– Thiếp không thể hình dung tai họa đó như thế nào nhưng chỉ thấy thiếp không được ở bên chàng.
Nàng tiếp như đang nói với chính mình:
– Thiếp sợ sẽ làm cho chàng buồn khổ.
Trung Chính ôm lấy bàn tay nàng nói:
– Mai đây ta sẽ về Kinh Bắc dựng lại ngôi nhà đổ nát của cha mẹ trên nền đất cũ để đợi đón nàng.
Chợt nghĩ đến vóc dáng mảnh mai và địa vị tiểu thư khuê các của Thụy An, Trung Chính hỏi:
– Nàng có kham nổi cuộc đời lam lũ của một thôn dân không?
Nàng nhìn chàng mỉm cười:
– Thiếp chẳng cần biết đến cuộc đời nào mà chỉ mong được ở bên chàng. Có chàng là thiếp trở nên giàu sang hơn bất kỳ ai.
Trung Chính hỏi:
– Còn song thân nàng?
Thụy An lại nhớ đến điều chưa nói được về thân thế mình. Nàng không muốn giấu chàng mà muốn thổ lộ ngay, nhưng lại thấy mình lên tiếng hỏi:
– Chàng nghĩ về song thân thiếp ra sao?
Trung Chính lắc đầu:
– Ta chưa kịp nghĩ điều gì ngoài ước mong sớm trở về Kinh Bắc. Nhưng song thân nàng cũng là song thân của ta…
Chàng chợt nhớ dòng họ của mình và Thụy An thì ngừng lại. Trầm ngâm nhìn nàng, chàng tiếp:
– Ta chỉ mong Trần Thủ Độ sớm nhận ra lầm lạc của mình. Không ai có thể mưu cầu an toàn bằng cách gieo rắc chết chóc đau thương cho người khác.
Giọng chàng trở nên sôi nổi hơn:
– Chỉ cần Thủ Độ hiểu rằng quyền lợi của họ Trần luôn nằm trong quyền lợi của trăm họ và không phân biệt người mang dòng họ nào thì ta chỉ còn một việc nhỏ là tìm cho ra Quách Bá Liêm. Sau đó ta sẽ trở về Kinh Bắc chờ được đón nàng.
Thụy An bỗng hỏi:
– Nếu Quốc Sư không nghĩ như ý chàng thì sao?
Trung Chính nhìn sâu vào mắt nàng. Chàng biết không dễ thuyết phục Thủ Độ, nhưng chàng sẽ không lui nửa bước. Bên tai chàng văng vẳng câu nói của ngoại tổ khi chàng trở lại Huyền Không cổ tự: “Con có khi nào nghĩ mình đang hành động vì nguyện vọng của trăm họ không?”. Rất nhanh, Trung Chính thấy chàng không vì nỗi đau riêng của mình mà đòi hỏi Thủ Độ nhìn lại mọi việc. Chàng nhìn Thụy An thầm nhủ:
– Nàng mang cùng dòng họ với Quốc Sư, nhưng cũng sẽ khó tránh tai họa do bàn tay ông ta gieo rắc.
Chàng nói:
– Đã tới lúc Quốc Sư không thể dấn sâu thêm vào cõi u mê. Ông ấy phải ngừng lại.
Chàng phóng tầm mắt về phía Nhất Trụ tự đang gom bóng trên mặt hồ phẳng lặng. Ánh mắt chàng loé lên tia nhìn dữ tợn khiến Thụy An rùng mình. Cảm giác sợ hãi vừa tạm vơi lại trở lại vây phủ quanh nàng như những đợt sóng triều dồn dập. Nàng muốn nói:
– Quốc Sư chính là cha thiếp!
Nhưng nàng chỉ xiết chặt bàn tay chàng không thốt nổi ra lời. Hồi lâu, nàng thở dài lẩm nhẩm:
– Không hiểu sao Quốc Sư tin họ Quách tới thế?
Mấy ngày qua, nàng và mẹ đã lập lại nhiều lần câu hỏi này nhưng không tìm nổi câu trả lời, vì cả hai đều không hề biết câu chuyện diễn ra trong thư phòng sau khi Quốc Sư xử phạt Quốc Ân.

oOo

Ngay khi bữa cơm trưa chấm dứt, Quốc Sư Trần Thủ Độ sai người tiễn Quách Bá Liêm rời phủ rồi lập tức lui về thư phòng. Ông khép cánh cửa lại khi một người từ góc thư phòng đứng dậy. Ông bước lại bên án thư ra dấu cho người nọ ngồi xuống. Ông khoanh tay trước ngực nghe người nọ nói. Cuối cùng, người nọ kết thúc:
– Thuộc hạ e rằng việc Quốc Sư giao phó sẽ gặp khó khăn nên gấp rút trở về diện trình và chờ Quốc Sư định đoạt.
Quốc Sư hỏi:
–Chính mắt ông thấy họ Ôn chết dưới tay họ Quách?
Người nọ đáp:
– Họ Ôn bị một mũi liễu diệp đao cắt đứt yết hầu và nhiều mũi khác ghim từ bụng lên ngực. Các lưỡi đao đều tẩm độc và là thứ Quách thường sử dụng.
– Ông đoán vì sao xẩy ra việc đó?
– Thuộc hạ chưa gặp lại họ Quách nên chưa dám dự đoán. Nhưng mấy ngày qua, hai người luôn gây gổ vì bất đồng về những việc mà họ làm tại Qui Hóa.
Quốc Sư nói:
– Miễn là cái chết của họ Ôn không tạo ra sự ngờ vực là ta biết rõ tung tích của họ. Về điều này, có thể Bá Liêm đang lo che mắt chủ soái của y. Ta chỉ e sự bồng bột của Quốc Ân khiến Bá Liêm nghi ngại có thể đưa đến khó khăn như ông vừa nói.
Người nọ ngạc nhiên:
– Quốc Ân vì đâu lại dính vào chuyện này?
– Quốc Ân lượm được lá thư do Bá Liêm trao cho thủ hạ mang về Đại Lý để trả lời Ngột Lương về binh tình của ta. Cũng may là tuy non nớt nhưng Quốc Ân đã giữ kín và tức tốc cầm về cho ta.
Quốc Sư ngưng nói nhìn qua khung cửa sổ. Một hồi sau, ông tiếp:
– Ta đã phạt nặng Quốc Ân về tội mắc mưu ly gián làm xáo trộn quân tình và giao Quốc Ân cho Lê Phụ Trần quản lãnh. Ta cũng trao thêm cho Bá Liêm nhiệm vụ tìm kẻ mạo viết lá thư trên và xé thư sau khi cho y đọc để y có thể yên tâm. Nhưng y không phải là kẻ dễ tin và chắc chắn sẽ tìm ra việc ta đã nắm rõ tung tích y. Có thể từ hôm nay y đã sắp xếp để rời khỏi Đại Việt.
Người nọ khẽ kêu lên:
– Biết vậy mà Quốc Sư thả y dễ dàng như thế?
Quốc Sư mỉm cười:
– Nếu không thả y thì công trình sắp đặt hơn mười năm nay cho ông bỏ đi sao? Ta ít khi chịu bỏ sức làm một việc vô ích.
Người nọ ngơ ngác không hiểu. Quốc Sư tiếp:
– Ta đã để mặc cho Quách, Ôn tự tung tự tác và tỏ ra tin họ tuyệt đối vì đoán chắc sẽ có lúc họ phải rời đất Đại Việt để trở về. Nhưng đất Đại Việt chưa bị thôn tính mà họ trở về thì lập tức có kẻ khác thay. Từ hơn ba mươi năm nay, trước khi đại quân Thát Đát tới đâu thì thám tử của họ đạp nát nơi đó. Chuyện xẩy ra tại Đại Kim, Tây Hạ, Đại Lý và Hoa Hạ đều rập theo cùng một khuôn và cái khuôn ấy cũng phải được dùng cho Đại Việt. Trước mắt ta đang có mặt Quách, Ôn là vì lẽ đó. Cũng vì lẽ đó mà sẽ có người khác thay ngay nếu Quách, Ôn phải ra đi. Ta mong là ông tạo đủ tin cậy để lãnh vai trò thay thế đó hoặc ít ra cũng tạo đủ tin cậy để làm việc với kẻ đến thay cho hai kẻ kia. Có như thế, ta mới nắm được hoạt động của Thát Đát để trù liệu đối phó kịp thời. Hiện nay, kẻ duy nhất giúp ta tiến dẫn ông chỉ là Quách Bá Liêm. Ta giết y thì ai giúp ta tiến dẫn ông?
Người nọ chắp tay trước ngực nói:
– Thuộc hạ không theo kịp cách liệu việc của Quốc Sư.
Quốc Sư nghiêm giọng:
– Ta không cần lời khen mà chỉ cần sự chu toàn công việc. Ta biết hơn mười năm nay ông gặp nhiều điều nghịch ý vì phải quỵ lụy kẻ thù. Nhưng thử nghĩ coi, nếu ông không chịu đựng vậy thì làm sao ta biết rõ hoạt động của hai tên Quách, Ôn và biết chắc Thát Đát sẽ tràn vào nước ta ngay sau khi Đại Lý sụp đổ?
Người nọ cúi đầu im lặng. Quốc Sư tiếp:
– Cái chết của Ôn Tử Mị khiến ta nghĩ ông đang có cơ may, nhất là cái chết đó do chính Quách Bá Liêm gây ra. Họ Quách phạm một lúc hai lỗi lầm là tiết lộ quân cơ và chém giết đồng đội vì tư hiềm. Chỉ lộ ra một điều thôi, y sẽ rơi đầu tức khắc. Cách che giấu hay nhất của y là tìm cách ngăn chặn những thám tử kề cận các tướng soái Thát Đát vào đất này. Ta nghĩ y sẽ tiến dẫn ông thay Ôn Tử Mị sau khi trình về là Ôn bị bệnh chết. Cho nên sẽ không có chuyện khó khăn nếu Quách Bá Liêm tin là vẫn còn bịt được mắt ta.
Người nọ hỏi:
– Nếu sự việc diễn ra đúng như thế thì thuộc hạ cần hành động ra sao?
Quốc Sư đáp:
– Ông tiếp tục như vẫn làm từ hơn mười năm nay. Lúc nào cũng phải đắc lực và làm tròn mọi việc do Bá Liêm giao. Nhưng, ông sẽ có thêm một việc.
Quốc Sư ngưng lại nhìn người nọ. Ông hỏi:
– Vừa rồi ông cho rằng ta dễ dàng để cho Quách Bá Liêm rời Đại Việt, phải không?
Người nọ gật đầu. Quốc Sư tiếp:
– Việc cần phải làm thêm của ông là lấy lại sự dễ dàng đó.
Người nọ nhìn ông thắc mắc:
– Thuộc hạ chưa hiểu hết ý Quốc Sư?
Quốc Sư bước lại bên bức cổ họa trên vách. Ông gỡ bức tranh, lấy ra từ khung vách phía sau một chiếc bình nhỏ. Cầm chiếc bình quay lại án thư, ông nói:
– Ta cử người này giúp sức cho ông!
Vừa nói ông vừa đưa cho người nọ chiếc bình. Người nọ đứng lên đón chiếc bình, mặt vẫn đầy vẻ ngơ ngác. Quốc Sư ngồi xuống như cũ, chậm rãi nói:
– Lẽ ra ta đã kết thúc mạng sống của Quách Bá Liêm ngay. Nhưng làm việc đó vừa mất người tiến dẫn ông vừa báo động cho Thát Đát biết là ta đã nắm rõ mọi mưu toan của họ. Tuy nhiên, một kẻ như Quách Bá Liêm mà có thể đem được mạng sống ra khỏi đất Đại Việt thì ta hoàn toàn bất trí.
Ông thấp giọng hơn gần như thì thầm:
– Trưa nay ta đã đặt xong mầm chết vào người y. Khoảng mươi ngày tới, y sẽ bắt đầu nhuốm bệnh. Lúc đó y ắt phải trở về chỗ của ông. Thứ thuốc mà ta pha vào ly trà cho y uống sẽ khiến y nóng lạnh mỗi ngày và càng lâu càng trầm trọng hơn. Y sẽ lầm tưởng là nhiễm sơn lam chướng khí và bắt buộc phải thông báo điều đó về cho chủ soái. Phần lớn công việc của y lúc đó hẳn rơi vào tay ông. Khi được tin người thay y sắp qua hoặc chính ông được chọn lên thay thì ông sẽ nhờ chiếc bình nhỏ kia để giải nghiệp cho họ Quách.
Người nọ gật đầu, lẳng lặng nhét chiếc bình vào trong người. Quốc Sư nói thêm:
– Bình sinh họ Quách chuyên dùng độc hại người nên hiểu biết của y về độc không nhỏ. Vì vậy ta đã trao cho ông một loại độc cực mạnh mà không hề có màu sắc, mùi vị. Kẻ bị giết vì độc chất này không hiện dấu vết trên da thịt và chết rất mau chóng, nhẹ nhàng nên không thể gây ngờ vực. Lúc đó ông chỉ còn nghĩ cách gửi xác y về Đại Lý nếu có lệnh của người Thát Đát hoặc có thể đặt y nằm bên Ôn Tử Mị. Bây giờ, ông cần hỏi thêm điều gì không?
Người nọ lưỡng lự rồi lên tiếng:
– Thuộc hạ chỉ xin phép nêu lên một số ý nghĩ.
Quốc Sư gật đầu:
– Được, ông cứ nói.
Người nọ nhìn vào mái tóc bạc trắng của Trần Thủ Độ, cân nhắc từng lời:
– Thuộc hạ không nói về họ Quách và Thát Đát. Thuộc hạ nói về thái độ của ta với người cố triều.
Quốc Sư thoáng cau mày nhưng vẫn đưa tay ra dấu cho người nọ nói tiếp:
– Từ khi Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho đức Kim Thượng, thời gian qua đã lâu. Lúc này tại nhiều nơi, người của cố triều còn mang gươm mặc giáp nhưng thế lớn đã định xong. Thuộc hạ nghĩ rằng ta đã có thể ngưng phân biệt để dẹp hận thù giữa người một nước. Theo những điều thuộc hạ biết, rất nhiều người của cố triều vẫn mong ước gây dựng và giữ gìn cuộc sống an lành cho trăm họ. Cho nên chiếu chiêu an của Hoàng Thượng đưa ra có thể nhận được sự hưởng ứng rất chân thực. Nhưng tới nay mà số người từ bỏ binh giáp không có bao nhiêu chính là do hành động của chúng ta tiếp tục giữ thái độ hận thù với họ. Thuộc hạ cạn nghĩ nhưng vẫn cảm thấy dường như tính toán của ta còn sơ khoáng. Xin Quốc Sư liệu xét.
Người nọ ngưng một hồi lâu Quốc Sư mới nói:
– Kẻ làm ruộng muốn lúa tốt thì phải lượm sạch rễ cỏ. Cơ đồ họ Trần ta có khác gì những cây lúa vừa ươm, không lo lượm rễ cỏ sẽ khó thể xanh tươi. Ta không muốn kéo dài thù hận nhưng cũng không muốn nhìn thấy cơ đồ họ Trần giống như mảnh ruộng cằn, cỏ trùm lên lúa.
Người nọ vẫn cúi đầu nhỏ nhẹ nói:
– Suốt một dải bắc thùy từ phía tây Qui Hóa tới sát biển Đông, không ít động trại nhiều phen nổi dậy chống lại triều đình. Thuộc hạ thấy triều đình chưa bao giờ lắc đầu ngoảnh mặt với các động trại này khi họ tỏ dấu muốn bãi binh. Vậy tại sao không thể ngưng thù hận với người của cố triều khi thế lực hiện nay của họ cũng chỉ ngang với các động trại? Thuộc hạ không thể không thắc mắc về việc này.
Quốc Sư nói:
– Giữa các động trại bắc thùy và người của cố triều có bốn điều không tương hợp. Thứ nhất, các động trại đối với Lý triều là thần tử thì đối với bản triều vẫn là thần tử. Việc thay ngôi cửu ngũ tại Thăng Long không khiến các động trại mất mát danh vị và lợi lộc, nhưng người của cố triều, đặc biệt là người họ Lý thì mất tất cả. Cho nên, người của cố triều khác với người các động trại ở chỗ cần xô đổ bản triều để giành lại những thứ đã mất. Thứ hai, từ nhiều đời qua, các động trại đã quen với thân phận thần tử nên khi nổi dậy chống triều đình chẳng qua chỉ để thỏa mãn cái tính ngỗ ngược và vẫn là những đám giặc chòm khuấy động tại một vùng nào đó. Người họ Lý trải hơn hai trăm năm cầm giềng mối xã tắc nên đã quen với ý nghĩ ngôi báu là của riêng mình. Vì thế, các động trại thật lòng bãi binh khi mệt mỏi vì chiến trận, nhưng họ Lý chỉ chịu bãi binh khi đã giành lại được ngai vàng. Thứ ba là cái danh nghĩa cố triều hiển nhiên khác với danh nghĩa động trại. Danh nghĩa này vừa dễ lôi cuốn người trong trăm họ vừa dễ bị ngoại thù lợi dụng khi muốn thôn tính đất nước ta. Ông hãy tưởng tượng xem nếu mai đây quân Thát Đát tiến vào Đại Việt mà dưới bóng cờ của chúng lại có mặt một thân vương họ Lý thì sao? Ta thấy việc đó đủ gây ra tình trạng ngả nghiêng do dự trong lòng người khiến tan vỡ tinh thần chiến đấu của quân ta. Chính do điều này mà ta không thể bỏ sót một thân vương họ Lý nào, nhất là những kẻ từng được nhiều người biết đến. Điều cuối cùng như chính ông đã thấy, không một động trại nào hiện nay có thể so ngang với người của cố triều về binh thế và tài năng. Họ chỉ dựng một ngọn cờ tại Qui Hóa, nhưng ảnh hưởng bao trùm khắp các lộ trấn. Không riêng tại Hồng, Khoái, Trường An mà ngay tại Thăng Long này vẫn có không ít kẻ đang sẵn sàng nối tay cho họ. Suốt hai mươi năm nay, đội ngũ của họ vững như thành quách. Người của ta chen chân vào hầu hết các động trại nhưng hoàn toàn bó tay trước đội ngũ cố triều. Khi Võ Thành Vương chết, ta nghĩ cơ may đang tới. Nhưng mấy năm qua rồi, phe đảng cố triều vẫn vững như bàn đá và người của họ còn vẫy vùng ngay giữa các lộ trấn của ta. Lý Bảo Tuấn là kẻ một thời ngang dọc mà sống an nhàn ngay tại Bến Chợ ngót hai mươi năm nay. Mới đây, Hà Đằng đã ngả hẳn về phe họ Lý, và ngay Đinh Kỳ là người vẫn giữ tương quan tốt với ta cũng bày tỏ ý nghĩ tương tự ý nghĩ của ngươi. Phe họ Lý không chỉ có sức cuốn hút mạnh mà còn có những người làm việc rất đắc lực. Ta nói thế không phải để trách cứ các ông mà để nhắc là không thể đặt phe đảng cố triều ngang với các động trại. Họ không chỉ vượt xa các động trại mà nhiều khi còn vượt cả chính ta nữa. Ông ở bên cạnh Quách Bá Liêm, Ôn Tử Mị mà không hay biết gì về cái chết của Lê Bảo, Nguyễn Đồng. Ta cũng không hay biết gì nếu không nhờ có lá thư thông báo của Đinh Kỳ. Họ Đinh vì tình cảm riêng mà cho ta hay nhưng họ Đinh biết chuyện lại là do người họ Lý kể. Trước những kẻ như thế mà buông binh khí, mở cửa mời vào nhà thì có khác gì gửi thân cho cọp dữ. Ta không thể khinh suất nên mới tìm cách cản trở việc chiêu an.
Người nọ im lặng nghe Quốc Sư Trần Thủ Độ nói rồi kín đáo lắc đầu, nhưng tỏ ra không muốn bàn cãi thêm và sẵn sàng nhận lệnh. Quốc Sư đứng lên, bước tới bên người nọ, giọng thân mật:
– Ta rất bằng lòng về việc lúc nào ông cũng thẳng thắn, nhưng cần tập trung suy nghĩ cho công việc của ông thì hơn. Ông hãy về ngay Quốc Oai khách điếm cố lo tròn những điều ta giao. Khi nào cảm thấy khó chịu vì phải chìu lòn hoặc theo sai phái của mấy tên Thát Đát thì hãy nghĩ tới sự tin cậy mà ta dành riêng cho ông hơn ba chục năm nay. Trong lòng ta, cái tên Đoàn Đại Từ lúc nào cũng đỏ thắm như một nét son. Thôi, ông đi đi!
Quốc Sư vỗ nhẹ bàn tay lên vai người nọ, mỉm cười. Đoàn lão ngước nhìn vị chủ tướng. Nụ cười trên môi Quốc Sư mau chóng giúp ông gột sạch mọi ưu tư. Ông cúi chào rồi kín đáo lui ra.
Trên đường rời Thăng Long, Đoàn lão không ngớt hình dung lại nụ cười ấy theo nhịp vó ngựa. Ông không còn thấy khó chịu về vai trò hèn mạt của mình như khi ruổi ngựa về kinh mấy ngày trước. Nhớ lời dặn của Quốc Sư, ông đặt tay lên chiếc bình nhỏ giấu trong ngực áo và nghĩ về Quách Bá Liêm.

oOo

Đó là lúc Đoàn lão ruổi ngựa đi ngang trước Trung Chính tại vùng ngoại thành Thăng Long và khiến chàng thắc mắc về việc Trần Thủ Độ bị bịt mắt một cách dễ dàng. Trung Chính vụt nhớ thắc mắc này khi nghe Thụy An than Quốc Sư quá tin Quách Bá Liêm. Chàng tự nhủ:
– Lỗi lầm của Thủ Độ cần được chận đứng.
Chàng quyết định về công việc của mình như một ánh chớp và cúi xuống nói với Thụy An:
– Ta sẽ tới gặp Quốc Sư!
Thụy An bật kêu lên:
– Chàng…
Nhưng nàng cắn chặt vành môi cúi xuống. Trung Chính an ủi:
– Nàng đừng quá lo cho ta!
Thụy An vẫn xiết tay chàng, không nói. Nàng cảm thấy đang bị bóp nghẹt trong một nỗi kinh hoàng. Tuy nhiên, nàng lại mơ hồ nghĩ không được cản trở chàng. Nàng nghe chàng lên tiếng nhưng như từ một cõi nào xa thẳm thoảng qua tựa một làn gió nhẹ. Nàng không nghe rõ Trung Chính nói gì mà đăm đăm nhìn những thân cau khẳng khiu đứng lặng bên hồ. Đột nhiên nàng bỗng cảm thấy mình bơ vơ lạc lõng và nép đầu vào ngực chàng nói nhỏ:
– Thiếp sợ lắm!

(Hết Hồi 26)

Share this post