Trong Ánh Lửa Thù (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 6

Trong Ánh Lửa Thù (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 6

Hồi 6:
HUYỀN KHÔNG CỔ TỰ

Hai người, một già một trẻ, ngồi trầm ngâm dưới mái hiên chùa. Ngôi chùa ẩn sau lùm cây dày đặc lưng chừng sườn đồi thông, mái lợp bằng những mảnh bương dài hư mục nhiều đoạn với đủ loại dây leo phủ kín khiến không dễ nhận ra đó là một mái nhà. Quang cảnh toàn khu đồi cũng hoà nhập vào việc che lấp ngôi chùa. Lá khô chồng chất quanh những gốc thông gai sù sì mọc chen chúc khắp nơi. Một dòng suối bọc theo chân đồi uốn vòng dưới các gốc thông chảy miết trên những ghềnh đá nhỏ hoà với tiếng gió vờn các tàng thông tạo thành một âm thanh đều đều bất tuyệt.
Cả hai như đang thả hồn theo cái âm thanh mơ hồ và thanh thoát này. Hồi lâu, người già quay nhìn chàng thanh niên. Người già là một nhà sư có cặp mắt tương phản với làn da gấp nếp chằng chịt. Nhà sư nhìn thẳng, ánh nhìn hiền hoà nhưng ngầm chứa một uy lực khiến chàng thanh niên vội cúi xuống. Chàng như đoán biết nhà sư sắp lên tiếng. Quả nhiên nhà sư nói, giọng ấm áp:
– Xa cách đã ba năm mới gặp lại, ta mừng thấy con được như thế này.
Ngừng một lát, nhà sư tiếp:
– Chuyện đời như dòng nước chảy, lúc theo đất bằng, lúc qua ghềnh đá. Phải tùy duyên sở ngộ mà ứng xử nhưng lại phải tránh vì ngoại cảnh mà động tâm.
Chàng thanh niên chắp hai tay lên trước ngực, cúi đầu thấp hơn chăm chú lắng nghe trong lúc nhà sư nói:
– Ta đã nghe mọi chuyện xẩy ra mấy ngày nay do Lý Đại kể lại, ngoại trừ những chuyện liên hệ đến con, vì lão cho biết chưa gặp lại con từ khi nhận lệnh qua lộ Đà Giang đón Long Diên. Nay gặp lại con thì ta đã nắm vững tất cả. Nhưng như con biết, chuyện đời với ta bây giờ chỉ còn là một cơn gió thoảng. Bản thân ta không muốn nhúng vào bụi trần mà cũng không muốn qua bất kỳ ai khác can dự vào cõi tục. Cho nên ta chỉ nghe mà không nói.
Nhà sư ngưng lại như để ôn những việc đã được nghe và vẫn giữ giọng đều đều:
– Theo Lý Đại thì người họ Lý hiện có mặt tại Bến Chợ đang cố kiếm cách giải nguy cho em con thoát khỏi tay quan binh lộ Qui Hoá. Họ cố làm một việc mà theo sở kiến là không thể không làm dù phải trả bằng giá nào. Vì chưa được gặp con nên họ cử Lý Đại tới xin ý ta, nhưng ta không thể góp ý về chuyện này.
Chàng trai ngước lên khi nhà sư ngưng lại nhìn sâu vào ánh mắt của chàng. Nhà sư nói chậm hơn rõ từng lời:
– Giờ này gặp con, ta cũng không có ý kiến gì. Lời dạy của đức Phật chí tôn mà ta hằng tâm niệm là “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Con phải tự quyết bằng tất cả trí tuệ và tâm tư của con. Ta hiểu trên vai con hiện đang chất nhiều gánh nặng. Con không thể quên lời di huấn của cha con về trách nhiệm đối với cơ đồ của tiền nhân và lòng con chắc cũng đang nặng chĩu ưu tư về trách nhiệm của kẻ đang bẻ lái con thuyền giữa nhiều luồng sóng dữ. Để con khỏi rối trí, ta chỉ nhắc với con lời cuối cùng này: Bể khổ không tự dâng đầy nhưng vẫn đầy mãi mãi vì suối nguồn dục vọng và mê chấp không lúc nào vơi.
Nhà sư ngước nhìn qua một kẽ tàng thông lên khoảng trời cao đang rạng sáng. Lúc này đã vào cuối giờ Thìn, toàn bộ vùng đồi rộng như bừng lên những màu sắc chói chang. Nhà sư nhẹ nhàng đứng lên, đổi giọng nhắc:
– Chỗ này đã là nhà của con mười mấy năm từ khi con còn nhỏ. Lệ cũ không hề thay đổi. Con cần chi cứ theo đó mà làm. Riêng người bệnh mà con vừa đưa về, ta sẽ thay con chăm sóc. Vết thương nơi lưng không nguy hiểm lắm. Chắc chắn y sẽ lành. Khi đó, ta sẽ trao y lại cho con.
Dứt lời, nhà sư bước về phiá hậu vu, tiến vào gian phòng nhỏ đang dành cho người bệnh. Chàng trai lặng lẽ theo sau nhà sư như cái bóng. Hai người cùng tới bên giường bệnh nhân. Nhà sư cúi xuống khẽ gọi:
– Hà trại chủ!
Người bệnh chính là Hà Đằng vẫn thiêm thiếp trong cơn mê. Nhà sư gọi thêm một tiếng nữa rồi khẽ cầm cổ tay bệnh nhân. Chỉ chưa đầy hai ngày, tính từ khi ngộ nạn, sắc diện Hà Đằng thay đổi khác hẳn. Nhà sư nói:
–Vết thương không đáng gì nhưng mối nguy do ám khí có tẩm Đoạn Mạch Cao. May mà con đã dùng thủ pháp ngăn chặn và kịp xử dụng Bảo Huyết Hoa. Ngoài ra, chính căn cốt phi phàm của người này đã giúp cơ thể vượt qua cơn nguy. Tiếp tục điều trị trong không khí yên tĩnh ở đây thì bệnh sẽ lành rất mau.
Mãi lúc này chàng trai mới lên tiếng:
– Thưa Ngoại!
Nhà sư nhìn chàng :
– Con cần chuyện chi?
– Con xin Ngoại cho được nghe vài lời về chiếu chiêu an của vua Trần.
Cặp mắt nhà sư vẫn nhìn sâu vào gương mặt khẩn nài của chàng như đột ngột mờ đi. Nhà sư thở dài:
– Từ nhiều năm qua, ta vẫn thương yêu cha con vì tài năng và chí khí của một bậc anh hùng. Vì thế, ta đã không tránh khỏi gánh nặng ưu tư về cuọc sống gian nan của cha con. Tình thương và tâm sự đó, bây giờ ta chuyển sang cho con vì con đã thay vào chỗ của cha con. Còn về chiếu chiêu an, vua Trần đã nói lên một điều cần nói. Đó là giang sơn này không của riêng dòng họ nào mà thuộc chung về trăm họ. Con có khi nào nghĩ con đang hành động vì nguyện vọng chính đáng của trăm họ không?
Chàng trai cúi đầu rất lâu trước nhà sư rồi lên tiếng vừa như kể lể vừa như nài xin:
– Con chỉ mơ hồ thấy không dễ tìm được thông hoà trọn vẹn với mọi người, dù là thân quen hay xa lạ. Hầu hết thủ lãnh nghĩa binh đều coi chiếu chiêu an như cơ may vừa để giữ gìn sức lực vừa để chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng với họ Trần bằng cách bất ngờ gây binh biến ngay tại Thăng Long. Riêng Trung Dũng Hầu lại cho những ý nghĩ đó là vô cùng nguy hại vào lúc này.
Nhà sư từ tốn hỏi:
– Ý Trung Dũng Hầu ra sao?
– Trung Dũng Hầu quả quyết hiểm họa xâm lược bắc phương đang tới rất gần. Việc lớn nhất hiện nay của người dân Đại Việt là phải dốc lòng chuẩn bị tạo lại chiến công Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt dưới thời Anh Võ Chiến Thắng. Do đó, hưởng ứng chiếu chiêu an là việc cần làm và còn cần phổ cập tinh thần chiêu an giữa mọi phe phái bất kể ở nơi nào. Trung Dũng Hầu nói với con rằng tinh thần chiêu an phải được hiểu theo chiều hướng xoá bỏ hận thù giữa người cùng một nước và chỉ xoá bỏ hết hận thù mới có hy vọng giữ vững hơi thở cho trăm họ cũng như cho chính bản thân vào những ngày đang tới.
– Phần con nghĩ sao?
– Con mới chỉ chấp nhận một thỉnh nguyện của Trung Dũng Hầu là dành cho Trung Dũng Hầu quyền triệu mời thủ lĩnh trên các lộ trấn về Bến Chợ bàn thảo. Khi mọi người đi đến một ý kiến chung thì con sẽ dựa vào đó để cân nhắc quyết định sau cùng. Nhưng riêng con vào lúc này vẫn hết sức phân vân. Con thấy bản thân con sẽ mang trọng tội nếu vì vụng tính mà góp phần đẩy đất nước vào cảnh ngộ lầm than dưới vó ngựa ngoại thù. Nhưng quên lời di huấn của cha ông thì cũng khó tránh khỏi một trọng tội khác. Ngoại dư hiểu dù sao con vẫn chưa đủ trí tuệ để quyết định chín chắn trong tình thế hiện nay. Trên thực tế con chỉ là đứa trẻ mới rời xa vòng tay dìu dắt của Ngoại ba năm nay nên vẫn rất cần những lời chỉ dẫn của Ngoại.
Nhà sư đặt bàn tay lên vai chàng trai, mỉm cười:
–Trung Chính! Ta thường nghe nhắc về con kể từ khi con rời Huyền Không Cổ Tự. Cho tới nay, ta không có điều gì chê trách con. Về những người xung quanh con, ta biết Trung Dũng Hầu rất rõ. Trung Dũng Hầu không chỉ là một danh tướng, một hiền thần mà còn là một cao nhân thức giả đời nay. Với những thủ túc như Trung Dũng Hầu, con không sợ sẽ phạm tội với bất kỳ ai. Chỉ có điều …
Đột nhiên nhà sư hỏi:
– Con đã biết rõ thái độ của Thủ Độ đối với chiếu chiêu an chưa?
Trung Chính đáp:
– Con chưa biết chắc Thủ Độ thuận hay chống việc ban chiếu chiêu an. Nhưng qua thông báo của thám binh, con biết trên đất Qui Hóa này hiện có một số thủ hạ thân tín của Thủ Độ. Chính mắt con đã trông thấy một thủ hạ của Thủ Độ ra tay ám toán Hà Đằng tại An Miên lữ quán.
Nhà sư lặng lẽ bước ra khỏi phòng đi ngược lại hàng hiên trước đại điện. Đưa tay ra dấu cho Trung Chính cùng ngồi xuống, nhà sư nói:
– Ta e giữa vua Trần và Thủ Độ không có sự đồng tình về việc ban chiếu chiêu an. Vụ Hà Đằng vô cớ gây ồn ào tại An Miên lữ quán có thể là một sắp đặt có dụng ý do các thủ hạ của Thủ Độ.
Thấy Trung Chính ngước nhìn mình, nhà sư nói:
– Thực tâm ta không muốn đưa ra nhận xét nào về những chuyện như thế này. Nhưng ta không thể cầm lòng trước nỗi băn khoăn day dứt của con. Dù vậy, ta vẫn muốn con coi những lời ta nói chỉ là một cách luận bàn thôi.
Nhà sư nói tiếp trở lại:
– Từ lâu Thủ Độ vẫn đắm mình trong cơn mê chấp, bo bo với ý nghĩ phân lập, cố vun bồi quyền lợi riêng của họ Trần bằng cách theo đuổi biện pháp diệt trừ người họ Lý. Việc vua Trần ban chiếu chiêu an có thể không được ông ta tán đồng nhưng ông ta không thể chống lại lệnh vua nên việc duy nhất ông ta làm nổi là ngầm sai thủ hạ gây khó khăn cho bất kỳ ai muốn hưởng ứng chiếu chỉ của vua Trần. Những khó khăn đó có thể mang thiên hình vạn trạng khó bề lường đoán nhưng chỉ nhắm gây ra cảnh hận thù xâu xé giữa các phe phái. Chính mắt con đã thấy một thủ hạ của ông ta ám hại Hà Đằng và vu cáo cho An Miên lữ quán là điều có ý nghĩa đó. Theo ta thì hình tích Trung Dũng Hầu bị lộ rồi nên mới có chuyện đó.
Nhà sư ngưng lại hỏi:
– Con biết rõ thủ hạ của Thủ Độ đến lộ Qui Hóa này là ai không?
– Do chỉ dẫn của thám binh và chính mắt con đã thấy thì hiện có ba người là Lê Bảo, Nguyễn Đồng và Quách Bá Liêm. Chính Quách Bá Liêm đã ám toán Hà Đằng khi hai người đứng cách nhau cỡ mười bước chân. Con chưa thấy ai có thủ pháp thần tốc như thủ pháp của y lúc đó.
Mắt nhà sư chợt loé lên một tia nhìn kỳ dị, nhưng nhà sư vẫn dịu giọng:
– Quách Bá Liêm hả?
Trung Chính đáp:
– Dạ!
– Y đi một mình hay đi cùng với ai?
– Dạ, y đi cùng Hà Đằng khi tới An Miên lữ quán.
Nhà sư khẽ lắc đầu:
– Ta muốn hỏi có một người nào khác cùng chung lo công việc với Quách Bá Liêm không?
– Y hành sự một mình cho tới khi một đám dũng binh sơn trại kéo tới An Miên lữ quán. Con vẫn bám sát y từ lúc y ám toán Hà Đằng nên phát giác y gặp một đầu lãnh dũng binh sơn trại trước khi người này tới An Miên lữ quán. Đầu lãnh này luôn che kín mặt bằng vuông vải đen, nhưng khi ở sơn trại, con đã biết tên y là Ôn Tử Mị.
Nhà sư nói như thảng thốt kêu lên:
– Ôn Tử Mị!
Trung Chính ngạc nhiên vì thái độ có vẻ bị kích động của nhà sư. Chàng nói:
– Chính Ôn Tử Mị và Hà Đại Đởm tạo ra biến động trên sơn trại. Nhưng theo con thì Quách Bá Liêm dự phần lớn vào biến động này. Rất có thể Ôn Tử Mị và Hà Đại Đởm chỉ làm theo chỉ dẫn của Quách Bá Liêm.
Nhà sư khẽ nhắc:
– Quách Bá Liêm, Ôn Tử Mị! Thật khó ngờ!
Trung Chính không thể dằn thắc mắc, rụt rè hỏi:
– Ngoại biết hai người đó sao?
Nhà sư nhìn chàng không trả lời mà hỏi lại:
– Con thấy võ công hai người đó thế nào?
– Theo con thì họ Ôn không bằng họ Quách. Nhưng cả hai đều có bản lãnh hơn người.
Chàng nhắc lại câu hỏi:
– Ngoại biết hai người đó?
Nhà sư khẽ gật đầu:
– Nếu không do ngẫu nhiên trùng tên thì đó là những người mà con cần thận trọng khi phải đối đầu. Gần bốn chục năm trước đây, vùng Thập Vạn Đại Sơn xuất hiện hai nhân vật mà giới võ lâm coi như hai con cọp dữ thành tinh. Võ lâm không biết tên thật của họ nên đặt tên cho họ là Đại Sơn Nhị Hổ. Ta do tình cờ mà biết đó là hai anh em kết nghĩa, anh là Quách Bá Liêm, em là Ôn Tử Mị. Cả hai tuyệt tích giang hồ từ hơn hai mươi năm nay không dè lại trở thành thủ hạ của Trần Thủ Độ.
Nhà sư trầm ngâm rồi hỏi qua chuyện khác:
– Lê Bảo, Nguyễn Đồng có làm việc chung với Quách Bá Liêm không?
– Hai người đó đi riêng, hiện đang làm việc với An Phủ Sứ Trần Kiều. Theo con thì giữa họ không có tương quan gì. Vào lúc sơn trại biến động, Ôn Tử Mị tỏ ra không nương tay chút nào với hai người này. Nếu không có may mắn bất ngờ xẩy ra khiến con dễ dàng giúp Lê Bảo, Nguyễn Đồng trốn vào rừng thì chắc ba người đã tử đấu.
Nhà sư buông một hơi thở dài khi Trung Chính ngưng nói. Vẫn đăm đăm nhìn vào khoảng không phía trước, nhà sư chậm rãi lên tiếng:
– Thủ Độ đã đưa về đất Qui Hoá này hai thủ hạ thân tín nhất của ông ta là Lê Bảo, Nguyễn Đồng. Vậy mà ông ta còn dùng thêm hai con mãnh thú Đại Sơn Nhị Hổ thì chủ đích không phải nhỏ. Ta nghĩ rằng ông ta hiểu khá rõ về con và nghĩa binh Hưng Lý tại vùng này. Con đang đứng trước một cuộc cờ mà mỗi nước sơ sẩy đều đưa đến hậu quả thảm khốc khó lường.
Chuyển tia nhìn vào gương mặt căng thẳng của Trung Chính, nhà sư hạ thấp giọng hơn:
– Hơn bất kỳ ai trên đời này, ta hiểu con rất rõ. Đức độ và tài năng của con là niềm sở cậy vững vàng không cho riêng bản thân con mà còn cho cả đại cuộc. Chỉ tiếc là tuổi con còn quá trẻ, mức kinh lịch chưa tròn e khó tránh khỏi những khi bồng bột. Nhưng …
Nhà sư đột ngột ngưng lại, khoát tay cho Trung Chính lui vào hậu vu. Trung Chính cũng đã kịp phát giác có tiếng động lạ ở phiá ngoài. Chàng lật đật bước vào phòng Hà Đằng khép cánh cửa lại.
Giây lát, tiếng người xì xào nổi lên rõ hơn rồi một đám đông dắt díu nhau tiến vào hậu viên, người đi dầu là Lê Bảo. Ai nấy bơ phờ mệt mỏi vẫn lăm lăm dáo nhọn trong tay. Tất cả đều giật mình khựng lại khi thoáng thấy phía trước có bóng người nhưng kịp nhận ra chỉ có một nhà sư già ngồi trơ trọi. Lê Bảo tiến lên trước vái chào:
– Chúng tôi không may lạc đường ngẫu nhiên qua đây. Hiện ai nấy đều mệt mỏi không thể đi tiếp. Xin hòa thượng mở lòng tế độ cho phép tạm nghỉ chân chốc lát trước cửa chùa và xin chỉ giúp lối về Bến Chợ.
Nhà sư mời mọi người ngồi nghỉ ngay dưới mái hiên trước đại điện. Thấy Lê Bảo nhìn quanh, nhà sư nói:
– Bần tăng chỉ có một mình nên không thể tiếp khách chu đáo. Trong chùa hiện còn một ít ngũ cốc xấu hẩm, trước sân chùa thì có sẵn hoa trái. Quí khách cần dùng chi xin cứ cho hay.
Lê Bảo chắp tay đáp:
– Chúng tôi chỉ xin được nghỉ nhờ một lát và xin hòa thượng bố thí cho một ít nước uống.
Nhà sư vừa đưa tới một vò nước thì lại nghe tiếng vó ngựa khua trên sườn đồi phiá trước. Rồi, một đoàn người ngựa xuất hiện dàn hàng ngang tiến thẳng vào sân chùa. Nhà sư nhận ra là một toán dũng binh sơn trại, ai nấy đều dựng ngược dáo trên yên ngựa, sắc mặt lầm lì theo sau một người che kín mặt dưới mảnh vải đen. Vừa thấy đám Lê Bảo, người nọ ra lệnh:
– Lôi chúng đi!
Dũng binh chia làm hai cánh từ từ tiến lên.
Lê Bảo, Nguyễn Đồng cùng ba tùy nhân vùng dậy nắm chắc cán dáo. Nhưng nhà sư đã bước lên trước họ, dang hai cánh tay, nói với các dũng binh:
– Xin quí khách dừng chân tại chỗ.
Nhà sư nói nhỏ nhẹ nhưng đám dũng binh cảm thấy có một sức mạnh vô hình đập thẳng vào tim họ khiến tất cả đều bất ngờ choáng váng. Gã bịt mặt cũng kinh ngạc nhìn nhà sư. Cặp mắt gã đảo lộn liên hồi như cố tìm ra một điều gì đó trong khi đám dũng binh nhất loạt khựng lại. Cặp mắt đảo lộn của gã khiến nhà sư thầm nhủ:
– Quả là Ôn Tử Mị!
Ôn Tử Mị gằn giọng:
– Lão già kia muốn cản đường chăng?
Nhà sư khẽ mỉm cười:
– Đây là thiền môn chớ đâu phải chiến trường mà quan khách nỡ nặng lời như vậy. Chẳng hay quan khách cần chi, xin cho bần tăng hay để tiện bề lo liệu.
Ôn Tử Mị chợt nhận thấy nét quen thuộc trong nụ cười hiền hòa của nhà sư và sống lưng gã bỗng lạnh buốt. Gã cố giữ bình tĩnh nhưng giọng nói vẫn lạc hẳn:
– Ngươi… ngươi là ai?
Nhà sư hơi nghiêng đầu đáp:
– Bần tăng là đệ tử thiền môn như quan khách đã thấy?
Tử Mị gắt:
– Tên ngươi là gì?
Vẫn với nụ cười hiền hoà trên môi, nhà sư đáp:
– Thân xác này cũng là cát bụi thì tên họ có nghĩa gì đâu. Bần tăng chỉ biết ngôi chùa này là Huyền Không cổ tự và bần tăng là kẻ đã từ lâu gửi mình vào hai tiếng Huyền Không ấy.
Câu trả lời của nhà sư khiến cặp mắt Tử Mị đảo lộn dữ dội hơn. Gã như không còn tự chủ nổi, bàn tay run run nắm vào chuôi gươm, nhưng lại buông ra. Rồi bàn tay ấy đưa lên ngang mặt, kín đáo kéo lại mảnh vải che. Gã có vẻ băn khoăn ngờ vực một điều gì đó. Cuối cùng, để tự trấn an mình, gã lên tiếng:
– Ta chỉ cần nói chuyện với những người đang được hòa thượng che chở thôi. Hẳn hòa thượng đã nhận ra chúng ta là người của sơn trại?
Nhà sư chiếu tia nhìn thăng vào mắt gã nói:
– Dù quan khách là ai thì bần tăng cũng kính mộ vì dưới mái chùa không có phân biệt sang hèn hay xa gần. Cửa chùa luôn mở rộng với hết thẩy người lỡ độ đường, dù là người ở gần bên như sơn trại hoặc ở xa thật xa như Thập Vạn Đại Sơn cũng vậy.
Bốn tiếng Thập Vạn Đại Sơn được nhà sư nói ra rõ ràng chậm rãi bỗng khiến Tử Mị toàn thân ướt đẫm mồ hôi. Gã như không còn dũng khí, cố nói lảng:
– Giữa ta với hòa thượng chẳng có gì cần nói. Ta chỉ cần trò chuyện với mấy người kia thôi.
Gã lập tức hướng về phiá Lê Bảo cao giọng:
– Tên kia! Xuống chân đồi cùng ta bàn chuyện!
Dưới cái nhìn sắc bén của Lê Bảo, cử chỉ khác thường của người bịt mặt trước nhà sư đã được lưu ý ngay từ lúc đầu. Giữa lúc hai người đối đáp, Lê Bảo thầm nghĩ:
– Hai người này đều có thể là nhân vật giang hồ từng biết nhau và gã bịt mặt kia có vẻ rất sợ nhà sư.
Y quyết định không bỏ lỡ cơ may này. Khi gã bịt mặt dứt lời, Lê Bảo lập tức bước lên ngang hàng nhà sư, cắm mạnh mũi dáo xuống đất nói:
– Giữa chúng ta đâu có chuyện khuất tất cần che giấu. Nếu đầu lĩnh cần thì chúng ta hãy nói ngay tại đây. Như thế vừa đỡ mất thời giờ lại vừa may mắn có sự chứng kiến của một bậc cao tăng đạo hạnh, phòng tránh những ngoa truyền lệch lạc. Bây giờ xin đầu lĩnh cứ cho biết đầu lĩnh cần bàn chuyện gì?
Biết chắc Lê Bảo không đi, Ôn Tử Mị hậm hực hỏi:
– Hồi đêm, ngươi đã làm gì trại chủ chúng ta?
Câu hỏi được đưa ra bất ngờ ngay với chính Ôn Tử Mị vì gã tin chắc Hà Đằng không thể cùng đi với mấy người này. Lê Bảo đáp thành thật:
– Đầu lĩnh dư biết chúng tôi chưa giáp mặt trại chủ, thậm chí còn không rõ trại chủ tĩnh dưỡng tại đâu. Thiết nghĩ câu hỏi đó nên dành cho người sơn trại.
Tử Mị đành chuyển câu chuyện qua hướng khác:
– Sự có mặt của các ngươi khiến sơn trại bỗng nhiên có biến động. Ngươi nói sao về điều này?
Lê Bảo nghiêm giọng:
– Chuyện sơn trại thì chỉ người sơn trại mới rõ. Chúng tôi vâng mệnh triều đình tới bày tỏ tình thân nhưng sơn trại tỏ ra thất lễ với khách. Chính đầu lĩnh đã mang gươm dáo ra xử sự với chúng tôi không khác một bầy lạc thảo. Mai mốt, Hà trại chủ sẽ là người phải phân giải chuyện này khi triều đình hỏi đến.
Ôn Tử Mị chỉ muốn kéo dài câu chuyện khi lâm thế tiến thoái lưỡng nan nên không mảy may lưu tâm tới lời lẽ trói buộc của Lê Bảo. Trong lúc Lê Bảo nói, gã liên tục đảo mắt về phía nhà sư. Hai ba lần gã đặt tay vào chuôi gươm rồi lại vội vã buông ra, bồn chồn bất định. Cuối cùng, gã đột ngột lên tiếng:
– Thôi được! Ta không thể kéo dài câu chuyện ở đây. Nhưng ngươi đừng nghĩ rằng cái danh nghĩa triều đình của các ngươi có thể khuất phục nổi người trên sơn trại. Sẽ có lúc đám thuyền chài khố dây họ Trần kia được thấy mũi dáo của chúng ta bén nhọn thế nào.
Gã nhìn về phiá nhà sư, rút mạnh lưỡi gươm ra khỏi vỏ. Đứng cách đầu ngựa của gã chưa đầy mười bước, nhà sư vẫn cúi đầu lim dim hai mắt, không có vẻ lưu tâm tới bất kỳ ai. Ôn Tử Mị ngập ngừng một giây rồi đưa cao lưỡi gươm ngoắc dũng binh trở lui.
Bầy ngựa chồm lên đạp vó trên đám lá khô, khua động một góc rừng vắng. Xuống hết triền đồi tới sát bờ suối, Tử Mị cho lệnh ngưng lại. Gã tung người xuống ngựa, vụt ẩn mình sau một lùm cây. Lát sau, từ lùm cây trở ra gã đã biến thành một khách thương phương bắc. Gã ra dấu cho toán dũng binh phóng đi rồi nhẹ nhàng tung mình lên một tàng thông cao, mất dạng sau vùng lá dày đặc. Từ chỗ nấp, Tử Mị dễ dàng quan sát mọi hoạt động quanh chùa, nhất là trên sườn đồi phía đông nam. Nhưng vào lúc gã tung mình lên tàng thông, thì ở một khoảng cách không xa, một người đang tựa lưng trên một ngọn thông cao lặng lẽ mỉm cười. Tử Mị không hề hay biết mình đang bị theo dõi nên gật gù đắc ý khi thấy đám Lê Bảo rời chùa đi về sườn đồi phía đông nam. Gã chờ đám người xuống tới chân đồi mới nhẹ nhàng đáp xuống nhắm hướng đi theo. Cùng lúc, người lạ cũng rời chỗ nấp chuyền qua các tàng cây, quan sát từng cử động của Tử Mị.
Lúc đó đã qua giờ Ngọ và đám sáu người Lê Bảo đang mải miết bước nhanh ở phía trước.

(Hết Hồi 6)

Share this post