Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 10

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 10

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 10
CHÚNG TÔI KHÔNG HÈN, CHÚNG TÔI KHÔNG SỢ CHẾT

Thứ Hai, 14 tháng Tư năm 1975

Vừa là Chủ Tịch một nghiệp đoàn hùng mạnh – Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam, vừa là Phó Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Công Giáo Quốc Tế, Trần Quốc Bửu là người có thế lực và được kính nể. Trạc tuổi 60, hơi gầy nhưng rắn chắc, mắt sáng, ông luôn ăn mặc giản dị với chiếc quần xám và chiếc áo bốn túi bỏ ngoài.

Theo đuổi lý tưởng quốc gia và phục vụ công đoàn, đầu thập niên 40, ông bị đày ra Côn Sơn, ở chung phòng giam với Lê Duẫn, hiện là tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Ông đã vượt ngục và chỉ huy toán “đặc công 25” nổi danh trong thời gian trên 5 năm kháng chiến chống Pháp.

Bị tướng chột mắt Nguyễn Bình và đội an ninh chính trị cộng sản dọa giết, vì không chịu gia nhập đảng, Trần Quốc Bửu về Sài Gòn năm 1951 rồi qua Pháp. Ông học khóa công đoàn từ 1952 đến 1954 ở đường Montholon, Ba Lê với Tổng Liên Đoàn Lao Công Pháp (CFTC). Về lại Sài Gòn, ông lập Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam (CTV), nơi tập trung 85% lao công Việt Nam.

Tổ chức vững mạnh, uy tín và tánh bình dân của ông trong giới cần lao đã giúp ông đạt sự nâng đỡ từ nhiều công đoàn Hoa Kỳ. Cộng sản cũng muốn chiêu dụ ông. Lê Duẫn từng ở tù chung ở Côn Sơn, đang là tổng bí thư đảng CSVN đã gởi cho ông một thư riêng yêu cầu chớ “đứng chung với bọn tư bản“, nên giữ “thế trung lập” hoặc “về với chánh nghĩa cách mạng. Ông Bửu đã trả lời thẳng thừng: “Kinh nghiệm mà tôi đã có về phương pháp của các ông, và lòng tôn kính của tôi đối với quốc gia dân tộc không cho phép tôi tin rằng chủ nghĩa cộng sản là đáp ứng duy nhất cho nguyện vọng dân tộc chúng ta“. Do đó cộng sản đã nhiều lần mưu sát ông nhưng không thành.

Trụ sở Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam nằm ở số 14 đại lộ Lê Văn Duyệt (đường Verdun cũ) trong tòa nhà kiếng lớn, nóc nhọn thềm cao, kiến trúc kiểu Pháp, trước kia là trụ sở Câu Lạc Bộ Thể Thao Đông Dương.

Ông Bửu tiếp tôi tại phòng làm việc, căn phòng rộng sáng sủa, kê một bàn lớn và ba chiếc ghế dựa. Trên tường, bức tranh lụa vẽ hình con trâu màu xám tro, mõm to, chân đứng dưới ruộng lúa (biểu tượng của Tổng Liên Đoàn là con trâu trong một bánh xe có răng cưa). Trên một giá đầy sách treo hình một sĩ quan Việt Nam còn trẻ, cài băng đen chéo góc. Ông bắt gặp cái nhìn của tôi, liền giải thích:

– Đó là hình con trai tôi, tử trận tháng 10 vừa qua. Thằng nhỏ đẹp trai, phải không? Nó là đứa rất gan dạ, thông minh và thẳng tánh. Môn nào nó cũng thành công, học hành, thể thao và đường đời nữa. Vợ nó rất đẹp nhu mì và có đứa con trai năm nay 3 tuổi. Nó chỉ huy một đại đội, đóng đồn trong quận lỵ của một quận thuộc Bà Rịa. Nó mới vừa 27 tuổi thì…

Ông Bửu khẽ lắc đầu, ngưng vài giây rồi tiếp tục với giọng nói thật rõ ràng, chậm rãi và đắn đo:

– Tôi muốn nói cho anh nghe về thằng con này, anh Pierre ạ. Con tôi chọn quân đội, không phải vì ham chiến tranh mà vì chúng tôi ở giữa thời chiến. Nó đánh đấm khá lắm và được khá nhiều huy chương. Cha con tôi rất khắng khít. Nó thường viết thư cho tôi. Vài tháng trước khi chết, nó có vẻ băn khoăn lo lắng, có lúc hoảng sợ nữa. Đầu tháng 10, nó có gởi tôi một lá thư, để tôi đọc anh nghe.

Trần Quốc Bửu lấy trong ví ra 3 tờ giấy xếp thật cẩn thận và bắt đầu đọc:

Ba kính yêu,

Tại tiểu khu của con tình hình đã đi xuống. Không phải vì dân chúng ngả theo tuyên truyền của “phía bên kia”, mà vì tụi con thiếu phương tiện chiến đấu. Mấy anh dân quân thuộc hàng ngũ Nhân Dân Tự Vệ không có đủ đạn cho súng và còn phải tìm mua lựu đạn từ đám lính chánh quy, thường ít đụng trận hơn họ. Phần các đơn vị chánh quy thì không phải họ tránh chạm súng, mà mỗi lần đụng trận, địch quân luôn hơn hẳn họ cả về chiến cụ lẫn đạn dược, nên họ cứ bị tổn thất nặng nề.

Để Ba hiểu rõ hơn tình hình của tụi con, con phải giải thích vài điểm về kỹ thuật. Cộng sản Bắc Việt dùng chiến xa T.54 và đại bác 130 ly của Liên Xô. T.54 là loại chiến xa năng động, tuy thô kệch nhưng được bọc sắt rất dày, võ trang cực mạnh: một đại bác 100 ly nòng dài với 34 quả đạn trong xe, 2 đại liên 30 ly, một đại liên 50 ly, có tầm hoạt động 400 cây số đường bán kính. Trong trường hợp tấn công, tụi con chỉ có ống phóng M.72 (loại ba-zô-ca chống chiến xa). Súng này chỉ dùng một lần, bắn xong phải vứt ống phóng đi, và chỉ thật sự hữu hiệu trong vòng 100 thước. Do đó mình phải bắn chiến xa địch trên bộ, thật gần, mới trúng đích được. Có nghĩa là mình phải đi bộ đến trong tầm tác xạ chính xác của vũ khí tự động trên chiến xa địch, để cho nó giết mình… mà không chắc mình sẽ hạ được nó. Trên thực tế muốn tiến đến gần chiến xa rất là khó, gần như không thể được, vì lúc nào chiến xa cũng có “bộ binh tùng thiết” đi mở đường và bảo vệ nó. Còn pháo binh 130 ly dù là loại vũ khí xưa cũ, trên 20 năm rồi nhưng là một vũ khí đáng sợ. Nặng cỡ 8 tấn, được xe xích kéo, có tầm tác xạ tới 27 cây số và có thể bắn 6 quả đạn trong một phút. Chỉ cần 3 khẩu pháo 130 giấu kín trong rừng và với 1 giờ tác xạ (1000 quả đạn thôi) cũng đủ đánh sập quận lỵ của bất cứ quận nào. Đạn pháo 130 ly có thể phá vỡ miếng thép dày 27 ly, nên không có kiến trúc nào, công sự nào chịu nổi sức phá của loại pháo này. Dân chúng bỏ chạy hết và quân đội tụi con không thể chống trả mà không bị thiệt hại nặng vì chúng con chỉ có pháo binh 105 ly với tầm tác xạ ngắn hơn nhiều, và đạn pháo thì đếm từng quả, 3 viên cho một khẩu trong một ngày, trong lúc địch được tiếp tế quá dồi dào về đạn dược.

Để khóa miệng mấy khẩu pháo cộng sản, cần có ưu thế tuyệt đối về Không quân. Điều này đúng trên lý thuyết, nhưng hoàn toàn sai trên thực tế. Từ khi có cuộc khủng hoảng xăng dầu, trực thăng quan sát và thám thính của ta chỉ được phép bay 3 giờ mỗi ngày. Ngoài ra cộng sản còn được trang bị hoả tiễn tầm nhiệt SA-7 rất dễ sử dụng và rất chính xác để vô hiệu hóa các loại phi cơ của ta.

Thưa Ba yêu quý,

Con biết Ba có nhiều liên hệ với người Mỹ. Cương vị Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn sẽ giúp Ba có tiếng nói mạnh hơn. Ba nên giải thích cho họ hiểu tình hình ở đây nghiêm trọng lắm rồi. Họ phải cung cấp cho ta vũ khí cần thiết, như hỏa tiễn Tows trên thớt cơ động, và trực thăng võ trang Cobra trang bị chuyên về chống chiến xa. Họ có các thứ này mà sao họ từ chối? Họ phải viện trợ về quân sự và kỹ thuật như họ đã hứa. Con yêu cầu Ba, Ba ơi, Ba hãy can thiệp với họ. Nếu không thì chúng ta sẽ bị đè bẹp và bại trận. Chúng con không phải kẻ hèn nhát. Chúng con không sợ chết. Với điều kiện là còn giữ được một cơ may để chiến thắng, hay để chống cự hiệu quả với cộng sản.

Xin Ba tha lỗi cho con vì bắt Ba phải nghe một tờ trình quân sự dài dòng. Trong tiểu khu của con, số lần chạm súng và số lần tác xạ pháo binh đã tăng theo cấp số nhân. Dù sao con vẫn giữ được đồn và con sẽ không rút đi đâu hết… dĩ nhiên là vẫn còn sống. Binh sĩ của con theo con, và dân chúng vẫn tin tưởng nơi chúng con.

Đứa con lúc nào cũng kính mến và tận tụy của Ba“.

Ông Bửu từ từ xếp lá thư lại, đằng hắng lấy giọng để dằn cơn xúc cảm rồi mới tiếp tục:

Tất cả thất bại của chúng tôi đều gói gọn trong mấy hàng chữ này. Tôi nhận được lá thư này của con sau chuyến thăm Á Châu và Âu Châu trở về. Khi tôi đọc lá thư thì con tôi đã tử trận được3 ngày rồi.

– Ông có nói gì cho người Mỹ nghe không?

– Dĩ nhiên là có. Tôi đã gặp đại sứ Martin và các tùy viên quân sự Hoa Kỳ. Tôi cũng viết thư qua Mỹ. Không ai nghi ngờ về những tin tức của tôi. Ông đại sứ và các tùy viên quân sự đã ghi chú đầy đủ và tôi cũng nhận thấy thực tình họ quá bận rộn. Nhưng không có ai làm gì hết, tôi muốn nói là họ không có biện pháp cụ thể nào.

– Như vậy cái gì sẽ xảy ra?

– Bất kỳ chuyện gì! Các vị dân cử sẽ nhúc nhích. Tổng Thống Ford sẽ tuyên bố vài lời dễ nghe. Quốc Hội sẽ kéo dài tranh cãi để khỏi chuẩn chi ngân khoản viện trợ. Ông Thiệu sẽ ra đi hay bị ám sát. Các sĩ quan và binh sĩ trẻ và tự hào như con trai tôi sẽ bị hy sinh vì danh dự, hay để kéo dài thời gian cho vài chính trị gia tự phụ kịp lên nắm quyền. Đủ thời gian để dàn dựng một kịch bản cứ như bất thần được ứng biến mà thật ra đã viết sẵn từ lâu. Người Mỹ sẽ đóng cửa các văn phòng cuối cùng của họ. Hạm đội VII chạy vòng ở biển Đông. Rồi cộng sản sẽ chiếm Sài Gòn. Và tất cả lỗi đều được đổ hết cho chúng tôi…

oOo

– Đây đúng là thời điểm để nhận xét nghiêm túc về Hiệp Định Paris. Chế độ cảnh sát và quân đội của ông Thiệu phải nhường chỗ cho các đại biểu có trách nhiệm và xứng đáng hơn, để họ bắt đầu cuộc nói chuyện thành thực và nghiêm chỉnh với cộng sản trước khi đã quá trễ.

Người nói với tôi lời này là nghị sĩ Vũ Văn Mẫu, tiến sĩ xuất thân từ Đại Học Luật Khoa Paris (như tấm biển treo trước văn phòng luật sư của ông), và Chủ Tịch Phong Trào Hòa Giải Dân Tộc, một tập hợp của Phật giáo quy tụ những người chống ông Thiệu dai dẳng nhứt.

Nhỏ người, tròn trịa, khoảng sáu mươi, xăng xái, gương mặt xương xẩu, cử chỉ linh hoạt và giọng nói thanh tao kỳ lạ, luật sư của các công ty xăng dầu lớn (Shell và Socony), ông Mẫu là người giàu có, nói nhiều, khôn khéo và cơ hội chủ nghĩa hơn là thành thực và quả cảm. Dân Sài Gòn không thích ông, một phần vì ông gốc người miền Bắc, một phần vì họ thấy ông kiêu căng và trí trá. Dù sao ông cũng thông minh và lanh lợi. Ông từng là Bộ trưởng ngoại giao của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã nhiệt tình và tận tuỵ phục vụ Tổng Thống Diệm với đường lối cương quyết chống cộng, nhưng sau đó, khi có cuộc khủng khoảng Phật Giáo, ông tự từ chức và cạo đầu để chứng tỏ hết lòng với sự tranh đấu của các nhà sư. Ba tháng sau đó Tổng Thống Diệm bị sát hại.

Tin chắc là Phật tử đang cần có một người “lãnh đạo thực sự” nên ông Mẫu đi sát với các nhà sư chủ chốt của khối Ấn Quang, những người chống đối mọi hình thức của chế độ quân nhân, và nhờ họ yểm trợ, ông đắc cử nghị sĩ.

Ông va chạm với tướng Kỳ, sau đó là ông Thiệu.

Cuối năm 1973, lúc ông Thiệu định sửa đổi Hiến Pháp nhằm ra tranh cử Tổng Thống nhiệm kỳ thứ ba, Vũ Văn Mẫu lại cạo đầu một lần nữa để chống đối và tuyên bố chỉ để tóc lại “ngày nào mà chế độ độc tài cáo chung”. Từ đó ông có thêm biệt danh là “thợ cạo hàn thử biểu”.

Ông Thiệu đã dối gạt hết mọi người, trừ tôi. Chỉ có một cách để chấm dứt cuộc chiến, là cho ông Thiệu ra đi và đưa tướng Minh lên thay ông ta.

Ông Mẫu nói với tôi bằng giọng nói lạ lùng của một cậu bé vênh váo.

Còn Hiến Pháp thì sao?

Bằng cử chỉ kiên quyết, ông gạt phăng luận cứ này:

– Ông Thiệu đã vi phạm Hiến Pháp để tiếp tục chiến tranh. Ai cấm cản chúng tôi vi phạm Hiến Pháp để đem lại hòa bình? Chúng tôi sẽ tìm được đa số tương tự để làm chuyện đó.

– Và người nào sẽ là Thủ Tướng?

– Tôi!

Luật sư Vũ Văn Mẫu phá lên cười nắc nẻ có vẻ bực tức, sau đó làm nghiêm lại, nói tiếp với giọng tâm tình:

Ông biết không, tôi tốt với tướng Minh lắm. Ông đã nói với tôi là ông rất cần một người giỏi về luật để bàn cãi với cộng sản… và ông đã nhắm vào tôi.

– Ông thật sự tin có thể thương thảo trong khuôn khổ Hiệp Định Paris à?

– Không có căn bản nào khác để thương thảo, và đây là nghề của tôi, nghề bàn cãi, biện hộ, thuyết phục và cả dùng mưu nữa. Tôi biết bênh vực cho một hồ sơ, tin tôi đi. Khó bắt bí tôi lắm, tôi sẽ dùng một luận cứ mà không ai dám làm. Một khi tôi lên rồi, tôi sẽ đòi hỏi tất cả người Mỹ phải rời khỏi ngay đất nước này trong vòng 24 giờ, và hãy tin tôi đi, họ sẽ đi ngay cho ông xem! Ông có vẻ hoài nghi hả? Ông sai rồi. Tôi cho ông một cái hẹn trước ba tuần lễ ở Dinh Độc Lập. Tôi sẽ là Thủ Tướng, tôi sẽ tiếp ông, và chừng đó ông sẽ thấy là tôi giữ lời hứa.

Vô liêm sỉ?… hay đã nắm một trò chơi mà ông ta biết rõ những con bài nhưng không muốn trưng ra?

Tôi nghiêng về giả thuyết thứ hai. Vì luật sư Vũ Văn Mẫu là người chẳng bao giờ mạo hiểm không công.

(Hết Chương 10)

Share this post