Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 11

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 11

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 11
VỚI ĐOÀN NGƯỜI CHẠY LOẠN

Thứ Ba 15 tháng Tư năm 1975

Sau đợt ngưng chừng 30 giờ, trận Xuân Lộc lại tái diễn. Từng đợt cách nhau khoảng 30 phút, hai trung đoàn cộng sản được một tiểu đoàn chiến xa T.54 dẫn đầu tràn ra tấn công vào các vị trí Biệt Động Quân và Sư đoàn 18 Bộ Binh. Bị đẩy lui với tổn thất nặng nề, hơn 1000 tử thương và 21 chiến xa bị hạ, họ tấn kích với trung đoàn thứ ba, và trận chiến khốc liệt lại tiếp tục.

Lệnh giới nghiêm vừa chấm dứt, tôi lại đi Biên Hòa. Ở đó, tôi lên được chiếc xe vận tải đầy thùng cây đi Trảng Bom. Ngồi giữa hai thùng cây rồi tôi mới nhận ra toàn là thùng lựu đạn và đạn chở ra Tràng Bom. Nếu xe này lãnh một trái pháo thì mọi bài toán về thu thuế của tôi đều tức khắc được giải quyết…

Trời quá nóng, cái nóng của mùa khô với ánh nắng chói chang trong vắt. Xe cộ đều để lại vết hằn trên đường nhựa đang mềm đi vì sức nóng. Hai bên đường nhìn mút mắt là những rẫy rau cải trồng ngay ngắn từng ô vuông vắn… Chúng tôi qua Hố Nai, một trấn nhỏ với 60.000 dân Công giáo di cư từ miền Bắc năm 1954. Hai bên con đường chính dẫn vào trấn Hố Nai là những tiệm buôn, những quán bán đồ mỹ nghệ và một ngôi thánh đường hùng vĩ nằm ngay sau một bồn cỏ tròn, nơi đó trẻ em đang chơi, quanh 3 linh mục mặc áo dòng đen.

Chiếc xe vọt lên con đường dẫn đến một khu đồi. Hai chục cây số nữa là đến Trảng Bom rồi. Trực thăng đang lượn quanh, mấy hàng binh sĩ đội nón sắt và hai pháo đội 155 ly, tất cả đang trong cảnh ì ầm của chiến trận. Nhiều chiến xa lớn, mang đầy cành lá, đại bác chĩa ra phía trước, đang di động trong một đám bụi như có mùi thuốc súng. Cách thị trấn vài cây số, xe của tôi phải ngừng lại ở một ụ đất được đắp lên trước một tượng đài bằng đá kỷ niệm những thợ rừng đầu tiên người Pháp chết ở Nam Kỳ. Ngày xưa, phía sau tượng đài này là một trong số vườn bách thảo phong phú nhất Đông Nam Á có 6000 loại cây giống, cây kiểng và lan quí được chọn trồng trong gần 70 năm. Bây giờ không còn gì nữa vì năm 1968, người Mỹ ủi bỏ và đốt sạch để hai bên đường được trống trải, dễ giữ an ninh cho các đoàn xe. Vườn cây giống bây giờ chỉ còn là một bãi cỏ ngắn èo uột vài cây chuối khô cằn.

Xe của tôi tiếp tục đi 5 hay 6 cây số nữa giữa những làng xóm tiếp giáp nhau, rồi rẽ trái, đi vào một đường đất gồ ghề dẫn tới một lô cao su. Giữa các hàng cao su cách nhau chừng 10 thước, tôi thấy các chiến xa đang trấn giữ một khoảng đất trống khá rộng. Đến khoảng trống đó, xe của tôi ngừng lại và những anh lính Thiết Giáp còn trẻ cởi trần trùng trục chạy ra nhận các thùng đạn và lựu đạn tiếp tế. Tôi nhảy xuống đất. Hai xe cứu thương từ mặt trận đưa thương binh về đây, các băng ca được khiêng đến chiếc lều kaki lớn có một toán Quân Y lưu động đang làm việc. Binh sĩ tản ra, tôi nhận ra đại úy Niệm trên một băng ca, đại úy Biệt Động Quân mà tôi đã quá giang với ông hôm thứ Sáu vừa qua. Mặt ông nhợt nhạt, đôi môi cắn chặt, ông bị mất bàn tay trái. Vết thương chưa được băng bó, trông thật thiểu não, máu tươi thỉnh thoảng từ cánh tay bắn lên, và gân tay chỗ đó hình như nát hết. Tôi đi theo băng ca của ông đến toán Quân Y. Tôi nắm thật chặt bàn tay mặt của ông, ông nhìn tôi, nhíu mày lại. Một đại úy Quân Y gạt tôi ra, nói: “Cứ để ông ta ở đây, tôi sẽ lo cho ông ta ngay. Tôi lên một xe cứu thương trở ra đường, ngồi đằng sau với hai anh khiêng cáng. Sàn xe nơi để các băng ca đầy vết máu và xông lên một mùi nồng nặc của phần phía dưới bụng bị vỡ tung, gần như mùi của chết chóc.

Xe rẽ về trái, chạy về hướng lửa đạn mặt trận. 15 phút sau chúng tôi ngừng lại. Tôi thấy dễ chịu vì được thở không khí trong lành hơn. Chúng tôi đang ở làng Hậu Nghĩa, làng cuối cùng trước khi đến ngã ba Suzannah.

Nằm dài theo các hố bên đường, cách nhau cỡ 5 thước, hàng trăm binh sĩ đội nón sắt đang hút thuốc nghỉ xả hơi chờ tiến ra trận. Toàn những người vạm vỡ, lớn con, xạm nắng và có đôi tay thô kệch của nông dân quen làm đất. Con đường hiện bị nghẽn vì đoàn dân chạy loạn quá dài. Hàng ngàn người, từ làng này đến làng khác, đang đi lần xuống Trảng Bom. Có những xe bò, có những xe ba bánh chở đầy đến mức bánh xe như muốn xoạc ra vì quá nhiều bao lúa nặng, có những xe đạp chở 3 đứa con trên sườn trước còn đèo thêm đứa thứ tư phía sau. Họ đến từ đường đi Đà Lạt, từ Túc Trưng hay Gia Kiệm. Họ đi trong yên lặng, trang nghiêm đáng kính và nghèo khổ, vì đã bỏ tất cả lại sau lưng, từ làng mạc trù phú đến nhà cửa ruộng vườn, mùa màng, và cả mồ mả ông cha nữa!

Đoàn quân chuyển động tiến tới, băng qua một vùng đồng cỏ ngắn kẻ ô bằng những bờ dốc lác đác vài đống đất khô nhỏ làm bụi đỏ tung lên dưới chân chúng tôi.

Tôi tìm một sĩ quan và cuối cùng gặp đại úy Châu. Ông vừa đi vừa giải thích cho tôi nghe:

— Cộng sản muốn bao vây Xuân Lộc và cắt đứt hậu tuyến chúng tôi phía sau ngã ba Dầu Giây (tức Suzannah). Trực thăng đã đổ 1000 binh sĩ Dù xuống bìa rừng phía Tây thị trấn để tăng cường lực lượng phòng thủ ở đó. Hai trực thăng bị cao xạ phòng không bắn rớt. Lực lượng Dù đã chạm súng rất nặng. Các trận đánh hiện mở rộng trên 10 cây số về Tây Bắc giữa Gia Kiệm và Suzsannah. Hai bên đang đánh nhau trên các đường xe be và trong các lô cao su. Cộng sản cố bám các trục di chuyển của chúng tôi bằng các toán đặc công võ trang rất hùng hậu và cố giữ chân chúng tôi để báo cho pháo binh của họ nện. Cách đây không đầy 7 cây số cũng đang chạm súng dữ lắm. Ông nhớ đừng rời khỏi hàng quân!

Chúng tôi càng tiến tới, tiếng đại bác càng rõ hơn. Tiếng khu trục cơ gầm rú ở cao độ thật thấp và chỉ vài giây sau chúng tôi đã nghe bom nổ rung chuyển trận địa. Phi cơ nối tiếp nhau từng đợt 3 chiếc, cách khoảng nhau chừng 20 giây. Chúng tôi tiến lên đã được hơn một giờ. Con đường mòn đi sâu vào rẻo đất có hàng tre già và vườn chuối bao quanh. Thình lình một tràng đạn pháo nổ trên đường ngay trước mặt chúng tôi cách chỉ vài chục thước.

Binh sĩ lao vào các lùm cây, đặt súng máy, bắn nhiều loạt đạn cày xới các bụi tre. Quân Bắc Việt không còn xa nữa. Tôi bám dính đại úy Châu đang cho lệnh bố trí các trung đội qua máy truyền tin. Một số đạn pháo khác nổ trong bờ chuối, phạt ngã một số. Xuyên qua kẽ hở do vườn chuối vừa bị phạt ngã, tôi thấy mấy nhà lá đang bốc cháy. Nhiều nhóm dân từ bốn phía túa ra, đàn bà mặc đồ đen, đội nón lá, tay dắt con, tay xách bọc quần áo chạy băng ra đường mòn. Một chị bị đạn ghim vào bụng té sấp xuống như một con thỏ bị bắn trúng lúc đang chạy. Một bé trai bị thương ở trán, máu chảy đỏ áo, vừa run rẩy bước, vừa khóc. Một bé gái ốm yếu tới đỡ vai em và dắt em đi.

Binh sĩ đã tiến đến bờ dậu của mấy căn nhà lá đang cháy với tiếng súng lên cò lắc rắc. Hàng trăm thường dân từ các hầm trú ẩn nhào chạy ùa qua cánh đồng. Họ lợi dụng sự tiến tới của quân chính phủ để cố lao ra quốc lộ trước mặt họ. Các khu trục cơ đang dùng đại bác yểm trợ quân bạn chừng trăm thước trước mặt chúng tôi. Nhiều cột khói bốc thẳng lên trời. Hàng quân bị đạn pháo chận đứng lại. Một số bị thương. Đại úy Châu nói nhanh với tôi: “Anh hãy đi với đám dân lánh nạn đi. Không có gì ở đây đáng cho anh xem nữa đâu. Anh sẽ bị bắn gục như một con thú vậy.

Tôi liền đổi ngược hướng.

Lại đường mòn. Những bụi cây. Qua bờ tre rồi đến cánh đồng. Tôi nhập với đoàn người lánh nạn dài dặc đã rời khu đồng trống. Nhiều người bị thương, một ông già lạ thường áo trắng, nón cối kiểu thực dân, một vết thương to bằng nắm tay trên vai đang lảo đảo bước. Chừng trăm thước ông ngã quỵ xuống. Tôi cố đỡ ông dậy, nhưng ông không còn nhúc nhích nữa, ông chết rồi! Một bà mẹ băng ngang qua tôi, gánh một đôi gióng. Một em bé phúng phính má bầu được ngồi trên cái gối đặt ở một đầu gióng đang vô tư đùa nghịch theo nhịp đi của mẹ. Bên phải tôi, một bà khác mặt mày lơ láo lo sợ và đau khổ, vừa đi vừa lớn tiếng cầu nguyện. Bà ôm cứng đứa con gái khoảng 4, 5 tuổi bị trúng đạn ở đầu, tóc tai bê bết máu.

Thật là kinh hoàng, không thể chịu đựng nổi!

oOo

Tôi đang ở đây, giữa một dân tộc mà tôi thương mến. Tôi đã sanh ra trong lòng dân tộc này, đã lớn lên trên mảnh đất một phần cũng như đất nước của tôi. Giờ đây tôi chứng kiến họ đang đau đớn, đang gục chết mà không thể làm gì hơn việc cùng đi trên con đường này, không có một miếng thuốc, không có một cuốn băng, cũng không thể bế giùm một đứa bé, vì chúng là tài sản quý báu nhất mà mẹ chúng không lúc nào muốn buông ra. Tôi muốn gào lên, muốn hét thật to để cả thế giới cùng nghe: “Hãy để cho họ được sống! Hãy chấm dứt sự đau khổ của họ đi! Hãy cùng xúm lại để dập tắt giùm các họng súng…” Nhưng làng mạc cứ nối nhau bốc cháy như những bó đuốc và người dân nghèo khổ chạy trốn với con cái của họ luôn quằn quại khiếp hãi. Tôi chỉ là một nhân chứng không có chút quyền hành. Quá thất vọng, người mẹ ôm đứa con gái bị thương chỉ còn biết kêu Trời, gọi Chúa xin hãy ban cho sự cứu giúp.

Cuối cùng, đoàn người lánh nạn cũng tới quốc lộ. Nhiều xe vận tải đang chờ. Một số Dân Vệ và sinh viên Công giáo tình nguyện từ Hố Nai đến, giúp đưa họ lên xe.

Với những người này, ác mộng tạm dứt. Nhưng còn những người khác, hằng ngàn người khác đang lang thang trong rừng giữa hai lằn đạn của đơn vị Dù và bộ đội Bắc Việt, dưới tầm đại bác của các chiến xa đang khạc lửa, dưới các quả đạn pháo, các hoả tiễn và dưới cả những trái bom từ phi cơ. Họ đang kẹt cứng giữa cái bẫy sập của hai bên miền Nam và miền Bắc đang hăng say tiêu diệt lẫn nhau…

Đến Trảng Bom, lúc tôi rời đám dân lánh nạn mà không đủ can đảm nói với họ nửa lời, thì một thiếu tá chỉ huy một đơn vị Dù tưởng tôi là nhà báo Mỹ chụp cổ tôi và cho tôi một câu với giọng khinh bỉ: “Này! Anh Mỹ kia, ở chiến trường về, anh hãy viết rõ trong tờ báo của anh là lính Dù miền Nam chúng tôi không cần có đô-la mới có đủ can đảm chết cho đất nước chúng tôi đâu nghen!

oOo

Phnom Penh đang hấp hối. Quân Khmer Đỏ chỉ còn 5 cây số nữa là đến sân bay Pochentong, một sân bay mà họ đang nện bằng pháo hạng nặng và các loại Súng Không Giật SKZ. Các phi cơ vận tải loại nặng của Hoa Kỳ còn nhiệm vụ tiếp tế cho thủ đô này, đáp xuống mà vẫn cho máy nổ, bỏ hàng thật nhanh chỉ vài phút rồi cất cánh ngay, dưới những tràng đạn pháo.

Nhân viên dân sự Campuchia làm cho phi trường đều nghỉ hết. Việc hướng dẫn phi cơ Mỹ đáp xuống tiến hành bằng các đài kiểm soát không lưu lưu động thiết lập tạm dưới đất, trên các nạng chống có thể tháo ráp. Tòa đại sứ Hoa Kỳ, cơ sở ngoại giao duy nhất còn làm việc ở Nam Vang đã di tản ba phần tư nhân viên và tất cả hồ sơ lưu trữ. Số lớn nhà báo cũng đã rời khỏi đây.

Các bệnh viện đầy người bị thương chất trên băng-ca đặt ngoài các hàng hiên. Dân chúng, điềm nhiên và thụ động, lo chôn cất những người chết một cách yên lặng. Những người chạy loạn tiếp tục đổ về đây, che lều trại bằng ván thùng, bằng giấy bồi hay bất cứ thứ gì kiếm được kể cả lá chuối và tôn vụn, và nằm tràn lan khắp các lề đường. Đôi khi, sau một tiếng nổ khủng khiếp, một trái hỏa tiễn cuốn phăng hàng chục căn lều tạm bợ này, vứt ra đường những mảnh vụn thân người nát bét cùng với nồi niêu, ván, gỗ… giữa những vũng máu tươi to lớn.

Dửng dưng với thảm cảnh xung quanh, mấy con bò sữa đói khát tìm gậm vài cọng cỏ hiếm hoi ở công viên. Tất cả xe cộ nhất là mô-tô và xì-cút-tơ không còn chạy, vì xăng chỉ dành cho xe vận tải công cộng và quân xa.

Chính phủ đã mang 8000 quân nhân từ Kompong Cham và Siemreap về tăng cường và hiện có 30 tiểu đoàn đang nằm quanh thủ đô. Nhờ có cầu không vận, họ còn được 20 ngày lương thực và đạn dược. Từ khi chiếm Neak Luong, một vị trí then chốt trên sông Cửu Long, quân Khmer Đỏ sẵn sàng dàn hàng đến 60 tiểu đoàn.

Neak Luong mà quân trú phòng chống cự suốt hai tháng đã thất thủ ngày 1 tháng 4 trong những điều kiện phi lý.

Ngày đó, lúc 12 giờ trưa, thống tướng Lon Nol từ dinh Chamcar-Mon dùng trực thăng bay ra phi trường Pochentong để rời vĩnh viễn khỏi Campuchia trên một phi cơ Hoa Kỳ. Một tiếng đồng hồ trước khi ông rời sân bay, mọi đơn vị Không quân chiến đấu của Campuchia (trên 30 chiếc khu trục T.28) đều nhận được lệnh cấm bay vì lý do an ninh (sợ họ mưu sát thống tướng Lon Nol) nên tất cả đều nằm bất động tại chỗ.

Lúc 12 giờ 15, tướng Limsi-Seath chỉ huy căn cứ Neak Luong, nơi binh sĩ vừa đẩy lui một cuộc tấn công của Khmer Đỏ dữ dội đến độ có lúc đánh xáp lá cà, đã phải lên tiếng trên máy truyền tin: “Tôi yêu cầu sự yểm trợ cao độ của tất cả khu trục còn sử dụng được để đánh mạnh địch quân trước khi họ tái tổ chức trên tuyến xuất phát và trở lại tấn công chúng tôi. Đó là cơ may duy nhất để giữ vững Neak Luong, nếu không thì tối đa chỉ hai giờ nữa thôi, chúng tôi sẽ bị tràn ngập.

Bộ Tổng Tham Mưu từ Phnom Penh chỉ biết trả lời: “Do lệnh thượng cấp, khu trục cơ không được cất cánh.

Thế là 2 giờ sau đó, Neak Luong thất thủ. Tướng Limsi-Seat bị thương, 80 sĩ quan và 2000 binh sĩ bị bắt làm tù binh với cả pháo đội 6 khẩu 105 ly.

Quân Khmer Đỏ dùng 6 khẩu 105 ly đó bắn vào thủ đô để dọn đường cho trận tấn kích cuối cùng vào Phnom Penh. Họ hy vọng chiếm thủ đô vào dịp đầu năm âm lịch của họ (từ 13 đến 15 tháng 4 dương lịch). Như vậy là quân thủ thành sẽ hưởng một cái Tết khủng khiếp hứa hẹn đầy tang tóc vì bị vây khổn trong một rọ sắt đầy lửa.

Mẫu hạm trực thăng US Okinawa đậu tại cảng Kompong Som (trước là Sihanoukville) với 120 trực thăng và 900 Thủy Quân Lục Chiến sẽ bảo đảm di tản “trong trật tự” và an toàn 80 hay 90 người Mỹ đang có mặt tại Phnom Penh. Dĩ nhiên họ cũng sẽ lo cho vài nhân vật Campuchia dính sâu vào cuộc chiến và những người giàu có.

Nhưng 3 triệu người dân tị nạn đã bỏ tỉnh bỏ làng chạy loạn, bỏ tất cả… để “chọn tự do” và cần có sự bảo vệ của những người thuộc chế độ Cộng Hòa “đồng minh của Hoa Kỳ” thì sẽ ở lại trong cái bẫy đang từ từ đóng sập trên đầu họ. Đó là những nông dân nghèo khổ, chất phác và dễ tin. Vả lại, họ sẽ làm được gì nếu người ta mang họ ra ngoại quốc? Họ không biết tiếng Anh, không có tiền và cũng không có ai là thân thích ở đó? Họ chỉ có những đứa con nhỏ trần truồng ôm trong tay và những bình tro hài cốt đem đi chôn ở các chùa. Tro cốt của những người đàn ông xạm nắng vì lội sình hằng ngày dưới ruộng sâu, đi theo những con trâu đen mập mạp nhưng ngu độn trước khi kịp đáp lời kêu gọi lên tỉnh thành nhập ngũ đánh đuổi “xâm lược Việt Nam”! Họ đã giết người Khmer và chết vì bị những người Khmer khác giết. Không một ai biết hay không muốn biết, không cần thắc mắc tại sao họ chết, chết cho ai, chết bằng cách nào…

(Hết Chương 11)

Share this post