Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 14

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 14

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 14
PHNOM PENH THẤT THỦ, TRIỆU CHỨNG ĐÁNG BUỒN CHO SÀI GÒN

Thứ Sáu 18 tháng Tư năm 1975

Phnom Penh đã thất thủ. Bị vây trong năm tháng liền, bị pháo binh 105 và rốc-kết nã vào, thủ đô Nam Vang của Campuchia đã chống trả rất can đảm trong vô vọng, Bây giờ thì coi như đã hết rồi.

Nhiều cánh dân quân mặc quân phục vải thô đen, đội nón cối Trung Cộng, trang bị liên thanh và Súng Không Giật (SKZ), đã tràn vào thành phố. Không đầy 48 giờ sau khi tòa đại sứ Hoa Kỳ di tản xong là Khmer Đỏ đã làm chủ đất nước Campuchia. Xuất phát từ rừng bụi, từ các đầm lầy và từ đêm tối, họ đến Phnom Penh để trừng phạt bọn “phản động”, để xóa hết tàng tích của bọn tham nhũng tư bản và để trị vì dân chúng Campuchia. Họ dùng báng súng đập phá nhà cửa của những người mà họ gọi là “tư sản”, vứt hết xe cộ, máy nhạc, máy thâu thanh, lò tự động của mọi người dân vào những bãi rác công cộng. Họ buộc dân chúng ở thành phố mà họ gọi là đã quá hư hỏng vì tiền bạc, vì những tiện nghi, phải đi hết về đồng ruộng.

Thủ đô Campuchia thất thủ là một biến cố đe dọa nặng nề đối với miền Nam Việt Nam. Hơn thế nữa, với việc Khmer Đỏ chiếm thành phố này và cách mà người Mỹ bỏ rơi thủ đô Phnom Penh, Sài Gòn có một cảm nhận rất nặng nề vừa như bị xúc phạm, bị sỉ nhục, vừa là triệu chứng bất tường cho bản thân. Dưới sự bảo vệ của một lá chắn bằng khu trục phản lực cơ thường trực bay trên vòm trời Pochentong, gần bốn chục chiếc trực thăng đã đáp xuống thành phố đang bị vây hãm và pháo kích, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ với sự can đảm, chính xác và khôn ngoan, đã bốc đi hết 82 người Mỹ và hơn 100 cộng sự viên Khmer. Nhưng hành động này không được nhìn qua tính chất kỹ thuật quân sự mà được coi là sự lạnh lùng cố ý bỏ rơi có tính toán từ trước của Hoa Kỳ. Người Việt Nam khó tránh liên tưởng về một hành động tương tự giữa tình hình Campuchia và tình hình của quốc gia họ. Họ nói: “Hoa Kỳ đã can thiệp quân sự ở Campuchia khi chánh thức tố giác các sư đoàn Bắc Việt hiện diện trên lãnh thổ này. Họ đã cho quân đội và không quân tham chiến, họ đã nhìn nhận chính phủ của Tổng Thống Lon Nol sau khi ông Hoàng Sihanouk bị lật đổ. Họ đã can thiệp vào nội bộ Campuchia. Đại sứ John Dean tự coi như một thái thú, chấp chánh ở đây. Đùng một cái, không hề báo trước, không lời giã từ với những người mà họ bỏ rơi lại phía sau, họ rũ áo ra đi không nán lại một giây để tính sổ về hành động can thiệp quân sự của họ: 5 năm chiến trận, 5 năm tang tóc điêu tàn với bao nhiêu tỉnh thành làng mạc bị tàn phá và một phần năm dân chúng bị chết hay bị thương”.

Những tranh cãi dài vô tận giữa Lập Pháp và Hành Pháp Hoa Kỳ về sự “cần thiết tối khẩn” của ngân khoản viện trợ cho Phnom Penh, cuối cùng bị ngưng trệ vô điều kiện vì những người có trách nhiệm của Hoa Kỳ, đã thực sự báo động cho người dân Miền Nam Việt Nam. Họ bồn chồn lo sợ hơn khi thấy sự phản đối công khai và hiển nhiên của đa số Quốc Hội Hoa Kỳ đối với đòi hỏi nhắc đi nhắc lại của Tổng Thống Ford mong muốn giúp Sài Gòn, cũng như cuộc thăm dò dư luận gần đây của đài NBC theo đó 70% dân Mỹ tin là dù Hoa Kỳ làm gì đi nữa cũng khó ngăn nổi Miền Nam Việt Nam bị rơi vào tay cộng sản. Những người Việt Nam đang lo sợ nhất là người thuộc các thành phần sau: trước hết là những người trực tiếp làm việc cho các cơ sở dịch vụ Hoa Kỳ như phòng thông tin báo chí, nhân viên tòa đại sứ và các nhà trí thức, các giáo sư, các nhà xuất bản hay chính trị gia đang hoạt động (số này hơn 40.000). Kế đó là giới giàu có: các thương gia và các người kiếm lợi nhờ chiến tranh (cũng đến hằng ngàn) đang tìm mua giấy phép xuất cảnh hay giấy chứng nhận là công dân ngoại quốc bằng mọi giá. Ngoài ra là tất cả cán bộ các cấp trong guồng máy quân sự và hành chánh miền Nam Việt Nam, sĩ quan cao cấp, sĩ quan an ninh quân đội, tỉnh trưởng, quận trưởng, thanh tra cảnh sát… những người phải lo sợ nếu cộng sản chiếm được miền Nam. Số người này cũng từ 150.000 đến 200.000. Đối với 20 triệu dân thì con số này chỉ đại diện cho một thiểu số mà thôi (chừng 1%).

Hầu hết dân chúng miền Nam khiêm tốn và siêng năng đều gắn liền với đồng ruộng. Họ không muốn tự đặt mình dưới sự cai trị của quân thù, nhất là những người đến từ miền Bắc. Bằng chứng là bao nhiêu ngàn người dân dứt khoát bỏ chạy. Họ không chạy đến với những người xưng là “giải phóng”, cũng không ở lại để chờ đón những người này. Tất cả đều ùa chạy về Sài Gòn vì bàn tay sắt vấy máu của cộng sản khiến họ run sợ.

Tránh làn sóng hoảng loạn lan truyền khắp miền Trung của đất nước, miền Nam đang cứng rắn chịu đựng mối đe dọa của các sư đoàn Bắc Việt. Tinh thần kỳ thị và óc địa phương đã cắm rễ thực sự! Sài Gòn và Đồng Bằng Cửu Long là vùng đất do “người Nam Bộ” khai phá và họ muốn giữ cho họ. Quân đội miền Nam đã chiến đấu và cố giữ từng tấc đất. Các đơn vị Địa Phương Quân tình nguyện tham gia hành quân. Tại Vùng 4, tướng Nam giữ thế chủ động, đường sá vẫn được mở cho mọi sự lưu thông, và Sài Gòn được tiếp tế đều đặn, không có dấu hiệu hoảng hốt.

Chính phủ mới, “nội các chiến tranh”, cuối cùng đã thành lập. Thành phần gồm những người liêm khiết, kỹ thuật gia giá trị, giới người lãnh đạo các trường đại học, các lãnh tụ tôn giáo, công đoàn và lần đầu tiên hầu hết đều là người gốc miền Nam. Nhưng, dù có sự hợp tác rộng rãi của mọi thành phần dân chúng, dù binh sĩ có tinh thần quả cảm và ý chí chiến đấu, tương lai Miền Nam vẫn phải tùy thái độ của người Mỹ. Đương đầu với một kẻ thù cứng rắn và kiên quyết, được võ trang hùng hậu, lại được các đồng minh lớn Liên Xô, Trung Cộng hậu thuẫn vô điều kiện, Miền Nam cần có thêm nhiều võ khí nặng, đạn dược, cơ phận thay thế và xăng dầu. Chỉ Hoa Kỳ mới cung cấp nổi ngần ấy thứ mà thôi. Báo chí Mỹ loan báo là Quốc Hội sẽ cho biết quyết định của họ vào ngày mai, 19 tháng 4.

Nếu các nhà Lập Pháp Hoa Kỳ chấp thuận giải tỏa ngân khoản do Tổng Thống Ford đề nghị, chính phủ chiến đấu vừa thành lập mới còn cơ may làm tròn nhiệm vụ. Trái lại, không có sự trợ giúp về tiếp vận và tài chánh, chính phủ này sẽ chỉ là một chính phủ chuyển tiếp đối diện một thảm kịch: hoặc bán đứng Miền Nam cho Hà Nội, hoặc chống cự lại “kiểu Campuchia” với cái giá cuối cùng là một sự tắm máu thật kinh khủng.

Các tin tức từ mặt trận đưa về thường không đầy đủ. Sau khi Campuchia thất thủ, ba sư đoàn Bắc Việt rút về đã được tung ra để cô lập hoàn toàn tỉnh Tây Ninh, thủ đô tôn giáo của đạo Cao Đài ở hướng Bắc Sài Gòn khoảng 100 cây số. Bốn sư đoàn khác tiến về hướng Đông cố đánh bật chốt Xuân Lộc. Tại khu vực này, lực lượng Miền Nam hôm qua thành công tương đối khi tiến lên trước khoảng 10 cây số, nhưng sau đó bị Bắc Việt cầm chân bằng nhiều cuộc phản công và đã lợi dụng tình thế này đánh bọc hai bên sườn quân Miền Nam.

Hai trung đoàn thuộc sư đoàn 7 Bắc Việt khóa cứng ngã ba Dầu Giây và tiến về hướng Trảng Bom. Quân chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tung ra lực lượng trừ bị cuối cùng: Sư đoàn 5 và một lữ đoàn Dù.

Chính quyền quân sự đã ban lệnh về an ninh cho dân chúng: đào hầm trú ẩn, thành lập các toán phòng thủ thụ động và cứu thương.

Chiếc tàu hàng già nua Taboa phải ngược sông Sài Gòn mang thuốc men và dụng cụ giải phẫu cho các bác sĩ Pháp thuộc bệnh viện Grall.

Tôi gặp người bạn, Hoàng Đức Nhã, cựu Bộ trưởng thông tin, tại biệt thự của ông trong khu bệnh viện Grall. Ông có vẻ bận rộn nhưng cũng tâm tình với tôi vài điều:

– Ngưòi Mỹ chơi trò lạ lắm. Họ không hề ngưng tiếp xúc với “phía bên kia”. Phương tiện họ dùng giản dị thôi. Hằng tuần vẫn có một phi cơ Mỹ do người Mỹ lái ra Hà Nội. Phi cơ đó chở các nhân viên đi phép thuộc phái đoàn quân sự Bắc Việt trong Ủy Ban Kiểm Soát Ngừng Bắn đang ở Tân Sơn Nhứt. Chúng tôi biết phi công Mỹ lái chiếc máy bay liên lạc này, có mang theo một số thư mật của Kissinger gởi Thủ tướng Bắc Việt. Chúng tôi biết từ một nguồn tin chắc chắn là cách nay mấy ngày có một đặc phái viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã đến Hà Nội, mang theo một lá thư của chính phủ Hoa Kỳ. Bức thư đó bảo đảm với Bắc Việt rằng trong trường hợp quân đội Miền Nam sụp đổ hoàn toàn, Hoa Kỳ sẽ cho rút hết toàn bộ nhân viên sứ quán Mỹ ở Sài Gòn “với điều kiện lực lượng cộng sản không được bắn vào các trực thăng chuyên chở đang lo việc di tản này”. Để lời cảnh cáo này thêm nặng ký, bức thư nhấn mạnh với lãnh đạo Hà Nội rằng: “Các pháo đài bay B.52 hiện đang đậu trên căn cứ ở Thái Lan và Hạm Đội 7 với tất cả hàng không mẫu hạm của mình đã ở tình trạng báo động”. Bất cứ sơ suất nhỏ nào của bộ đội Bắc Việt cũng sẽ dẫn đến những hành động trả đũa thật ghê gớm.

Tin này có thể là một ngòi nổ lớn, nhưng tôi chắc người Mỹ sẽ đính chánh ngay, và dù sao hệ thống kiểm duyệt của chính phủ cũng xóa điện tín của tôi. Hơn nữa, tôi không có phương tiện để phối kiểm.

Không còn nghi ngờ gì nữa, sắp tới sẽ là những ngày quyết định. Trong khi chờ đợi, biện pháp duy nhất để tránh ám ảnh về sự bí mật và nguồn tin này là phải ra sát mặt trận. Bài toán tương đối không khó giải quyết: chiến trận chỉ cách đây chưa tới một giờ lái xe. Ở vài điểm người ta đang đánh nhau chỉ cách thủ đô chừng 40 cây số. Tại Biên Hòa, pháo binh bắn gần như liên tục. Pháo binh cộng sản nã vào các vị trí của Bộ Binh canh gác hay phòng thủ quanh vòng đai căn cứ Không Quân. Pháo binh chính phủ thì bắn phản pháo. Những quả đạn 130 ly của Liên Xô chạm mục tiêu nổ rền trời và làn sóng âm thanh vang dội nặng nề hàng trăm thước xung quanh.

Trên các đường bay của căn cứ Không Quân náo động không khí chiến đấu. Chiến đấu cơ bay lên, đáp xuống với nhịp độ 3 chiếc mỗi 5 phút. Phi công với quần áo bay và súng cá nhân nai nịch gọn gàng lúc nào cũng sẵn sàng tại phi cơ của mình chờ bay, trong lúc thợ máy và nhân viên lo đổ xăng, tiếp thêm đạn dược và cất cánh ngay khi thấy chiếc phi cơ đã đầy đủ bom và rốc-kết.

Nhiều người phải bay 8 phi vụ mỗi ngày.

Quan trọng nhất với phi công là phải định được vị trí ánh sáng lóe lên lúc đạn pháo 130 Liên Xô bắn vào căn cứ của mình, để có thể dùng vài tràng đại liên chính xác, vô hiệu hóa khẩu đại bác đó. Nhiệm vụ không dễ dàng.

Những phi cơ quan sát nhỏ và trực thăng thay phiên có mặt thường trực trên vòm trời căn cứ, đặc biệt canh chừng khu rừng Tri Han. Các khẩu pháo 130 được ngụy trang rất kỹ dưới các tàng cây cứ mỗi 2 phút bắn đi hai tràng 6 đạn đại bác vào căn cứ rồi sau đó chạy ngoằn ngoèo di chuyển tới chỗ khác cách đó 2 hay 3 cây số…

Tôi phải chờ ở đây đến 2 tiếng đồng hồ để tìm trực thăng đi Xuân Lộc, nhưng vô ích, nên đành phải dùng xe đến Hố Nai, một cộng đồng 60.000 giáo dân tỵ nạn từ miền Bắc vào năm 1954. Người ta gọi Hố Nai là “Hà Nội nhỏ”, gồm một dải đất cao và một dải đất thấp. Đây là một thị trấn nhỏ rất năng động, đông dân quy tụ quanh các giáo đường (gần 20 nhà thờ), mỗi khu có một nhà thờ riêng, có các linh mục ốm yếu nhưng được hết thẩy tín đồ tin theo một cách mù quáng. Cha Sửu nói với tôi:

– Chúng tôi tin chắc một điều là chúng tôi phải chiến đấu. Chúng tôi từ bỏ miền Bắc hai chục năm nay rồi và không chọn lựa nổi con đường nào khác để tránh chế độ cộng sản. Khi chúng tôi đến đây, chúng tôi chẳng có gì. Không tiền bạc, không dụng cụ. Chúng tôi chỉ mang theo mình những cái chuông bằng đồng tại các nhà thờ cũ của chúng tôi, những tượng thánh bằng gỗ chạm và vật dụng làm lễ. Chúng tôi đã xây thánh đường mới, cất nhà, trồng cây ăn trái và các vườn hoa trên đất lấn vào những cánh rừng. Nếu phải chết, chúng tôi sẽ chết ở đây!

Giáo dân ở đây rất có kỷ luật, siêng năng, và được tổ chức chặt chẽ, đoàn kết quanh các giáo xứ có ảnh hưởng còn hơn chính phủ nữa. Giờ đây họ đang chuẩn bị chiến đấu. Để chứng tỏ ý chí và lòng tin vững mạnh của mình, các linh mục mời đồng bào tản cư từ vùng Xuân Lộc hãy ở lại Hố Nai. Hàng ngàn người chia ra ở trong những lều thấp dựng lên quanh các nhà thờ hay sân trường học, được giáo dân và hướng đạo sinh săn sóc chu đáo.

Xã trưởng Nguyễn Xuân Phiệt khẳng định với tôi:

– Không một ai sẽ rút lui. Tôi có 4 tiểu đoàn nhân dân tự vệ và xin tỉnh trang bị cho chúng tôi. Chúng tôi muốn có súng không giật, đại liên và M.16. Nếu được trang bị như vậy chúng tôi sẽ dùng nhà thờ làm căn cứ để giữ vùng này. Nếu không, chúng tôi cũng chiến đấu với súng ống xấu hay bằng vũ khí thô sơ. Chúng tôi không có gì phải nói với bọn Quốc Hội Hoa Kỳ và Tổng Thống Ford của họ. Tất cả đều nói nhiều quá, nhưng lời nói không dùng được việc gì hết. Bây giờ chỉ có hành động mà thôi. Mỗi gia đình chúng tôi đều đã mất hoặc một đứa con trai, một đứa em hay một người cha, hy sinh trong chiến trận, trong hàng ngũ quân đội. Nếu Hoa Kỳ giúp chúng tôi thì cũng tốt, còn họ bỏ rơi chúng tôi cũng tốt thôi, không có gì quan trọng hết. Tựu trung chúng tôi không còn đất để lui nữa. Chúng tôi sẽ ở nguyên tại đây để chứng tỏ đức tin của chúng tôi. Chúa sẽ là chỗ dựa duy nhất của chúng tôi và chỉ có Chúa là không bao giờ phản bội chúng ta!

(Hết Chương 14)

Share this post