Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 15

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 15

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 15
THỜI KỲ CỦA CÁC TRÁI BOM “THÍ NGHIỆM”

Thứ Bảy, 19 tháng Tư năm 1975

Ở đầu một đường bay, những người lính chữa lửa đang chữa cho một phi cơ phản lực 2 động cơ bị trúng hỏa tiễn SA7 lúc mới vừa cất cánh. Dưới một xe vận tải, tôi thấy 4 bao ni-lông dài đóng kín. Đó là những gì gom lại từ thân thể cháy thành than của phi hành đoàn 4 người. 2 giờ trưa, tôi lên được một phi cơ Chinook để bay lên vùng mặt trận. Tôi tháp tùng khoảng 40 Biệt Kích vạm vỡ, gọn ghẽ trong quân phục đen, trang bị súng phóng lựu và tiểu liên ngắn nòng M3AI (45 ly) báng xếp. Huy hiệu trên tay áo là con ó và chiếc dù thêu trong một hình tam giác cho tôi biết họ thuộc lực lượng Biệt Kích Dù Lôi Hổ (cọp bay). Đây là đơn vị đặc biệt, chuyên hành quân ban đêm giữa vùng địch từng toán 3 người, có nhiệm vụ xác định các trục tấn công của địch, báo cho Pháo Binh và Không Quân để phản ứng kịp thời. Vậy là tôi lại đang trên đường đi Xuân Lộc: đây là lần thứ ba trong tám ngày tôi tới vùng này, chuyến đi có vẻ dễ chịu và mọi người đoan chắc tôi sẽ đến một vị trí tương đối yên tĩnh, sạch sẽ hơn. Trực thăng bay độ 15 phút thì đến Xuân Lộc, bay trên quốc lộ 1 và ngoặt hẳn về hướng Đông, hạ xuống 700 bộ đến một vườn cao su bạt ngàn thẳng tấp.

Chiếc Chinook đáp rất nhanh. Nhìn từ trên xuống, Xuân Lộc nếu còn gì cũng là một quang cảnh mờ nhạt. Tôi phập phồng ghi nhận có nhiều chùm lửa, cột khói do đạn pháo rơi xuống vòng đai đã bị tàn phá. Chiếc Chinook đáp xuống làm tung bụi mù đỏ thẫm. Khoảng 50 người dân rách rưới ùa lại bao quanh máy bay. Nhiều người đã bị thương. Và vẫn cảnh tượng cũ: các bà mẹ ôm con áo quần đầy máu, vẻ mặt hốt hoảng muốn đi khỏi đây. Một chiếc xe Jeep chạy gần như nhảy qua các đống gạch vụn chở tôi đến một trạm cứu thương.

Làn gió nhẹ đưa tới thoảng mùi hôi thối kinh người từ mấy trăm xác bộ đội đầy ruồi nhặng xông lên. Một y tá nói với tôi: Chúng tôi đâu có thời giờ chôn họ, chỉ kịp rải lên mình họ hai, ba vá cát đá vụn mà thôi.

Trạm cứu thương đầy người bị thương. Hai bác sĩ trẻ đang làm những gì họ có thể làm dưới ánh đèn mờ màu xanh. Họ gọt, họ cắt xén, khâu lại, hay cưa bỏ… Nhiều người mang những vết thương kinh hoàng đầy mủ trắng. Các tay chân bị cắt vất lẫn lộn vào một thùng phuy mà các y tá mang tới lúc còn đầy xăng. Các mảnh vụn khác được chôn ở một hố đào lên cách đó chừng 20 thước có tưới thuốc khử trùng và lấp đất cẩn thận. Phía ngoài, trời đang vần vũ, mấy đám mây đen kịt là đà. Cơn bão lại sắp đến. Tôi cố tìm đại tá Phước, chỉ huy đơn vị Biệt Động Quân. Một trung sĩ cho biết ông ở gần bưu điện, nơi đang chờ đụng độ mạnh. Mưa bắt đầu rơi xuống mảnh đất khô đầy máu, rồi mưa to, mưa quá to chỉ vài phút đã ngập trũng hết. Binh sĩ đều phải choàng áo mưa. Hàng đàn chuột từ những lỗ cống hay các bức tường sập tuôn ra. Có đến cả ngàn con xám đen, từng đàn lì lợm vọt lên từ các đống thây ma vùi lấp vội vàng.

Một sĩ quan Biệt Động Quân dẫn tôi đi, bắt tôi phải nấp trong một hầm trú ẩn lụp xụp có một tiểu đội với súng liên thanh nhẹ đạn đã lên nòng.Viên trung úy liên lạc vô tuyến. Mưa càng lúc càng to. Binh sĩ Dù nằm hay ngồi dựa sau bức tường sập vẫn trong tư thế sẵn sàng chờ chiến đấu.

Giữa lúc cơn mưa hoành hành, một loạt tên lửa bay xuống nhà bưu điện và khắp vùng quanh đó. Tất cả chen nhau xuống hố chiến đấu nhầy nhụa bùn nước hay nấp dưới các ô tường không nóc để chịu trận, nghe tiếng gầm rú xé tai và tiếng nổ chát chúa của hoả tiễn. Kế tiếp lại đến lượt đạn pháo, khô khốc, chát tai và chính xác hơn.

Thình lình, trong màn mưa mù mịt, xuất hiện những bóng người quân phục xanh xậm, nón cối, sát cánh nhau đi tới: bộ đội Bắc Việt tấn công. Họ đến từ đường rày xe lửa. Viên trung úy ra hiệu và các súng liên thanh đua nhau nhả đạn. Toán này gục xuống lại có toán khác tràn lên. Họ tiến vào bưu điện. Từ trong bưu điện nhiều tiếng lựu đạn chói tai và sau đó là hai tiếng nổ thật lớn. Một mảnh tường bay lên vụn nát. Đặc công cộng sản mở đường bằng cốt mìn.

Một đám người áo xanh tràn vào bưu điện.

Cùng lúc, nhiều loạt tấn công khác cũng tiến hành. Quân Bắc Việt ở thế mạnh, ít nhất có một tiểu đoàn. Họ bắn không ngừng. Đợt tấn công tới chắc là chỗ của chúng tôi.

Hàng rào chính xác và hữu hiệu của đạn pháo 105 ly trên chiến xa ở cỡ 800 thước phía sau chúng tôi đã cứu vãn tình thế. Những trái đạn nổ ngay trước mặt làm chúng tôi muốn ngưng thở đã tàn sát các đợt bộ đội. Pháo đội ngưng lại, sau 10 phút bắn cuốn chiếu. Biệt Động Quân rời hầm trú ẩn, phản công. Những gì còn lại của nhà bưu điện bốc cháy như núi lửa.

5 giờ chiều, tất cả chấm dứt. Bãi chiến gần như quang đãng, cơn mưa đã qua, bầu trời xanh trở lại. Một sự yên tĩnh khó tả ngự trị quanh chúng tôi. Chỉ có một con chó phèn với các mảnh đạn trên lưng chạy khắp khu nhà đổ nát kêu rên đau đớn. Tôi trở lại bản doanh Sư đoàn.

Dưới chân tượng Chúa trước nhà thờ, một anh lính Dù mũ đỏ đang quì cầu nguyện, hai tay chấp nhưng vẫn tì trên khẩu súng. Tôi có cảm tưởng thành phố đã bị xới lên bằng máy ủi, chỉ còn là những đống vụn do các bức tường đổ nát, các tấm tôn, gạch vữa bị nhào đi nhào lại rải rác từng cụm và trên tất cả là chiếc thánh giá trước bức tường nhà thờ đầy vết đạn với những lỗ hổng toác hoác.

Tại dãy nhà dòng ngổn ngang thùng đạn, tôi gặp đại tá Hiếu, 40 tuổi, quân phục vẫn láng với nón vải đi rừng, súng lục bên hông. Ông rất tự hào về trung đoàn Bộ Binh 40 của ông đang phòng thủ mặt Nam thành phố. Ông nói:

– Anh thấy, chúng tôi có thể đánh họ chớ. Chúng tôi đã đẩy họ khỏi thành phố, và chúng tôi không rời thành phố này. Giá chúng tôi có được số đại bác 130 quỷ quái mà họ đã có để nã vô tội vạ vào chúng tôi! Dù sao tinh thần vững lắm. Chúng tôi đã lãnh 12 ngàn trái pháo, ba ngàn rốc–kết kể từ ngày 9 tháng 4. Tám ngày nay cộng sản tung ra 6 trận tấn công. Chúng tôi đẩy lui hết, nhưng trận tấn công quyết liệt nhất chưa đến. Tôi chắc nó sẽ đến. Chỉ vài ngày nữa, thế nào họ cũng gom lực lượng bằng cách tập trung các sư đoàn rảnh tay sau khi các tỉnh ở miền Trung thất thủ, và đây sẽ là trận đánh cuối cùng. Chắc chắn ác liệt lắm. Nếu chúng tôi chịu không thấu thì Sài Gòn khó đứng vững lâu.

Sau hai giờ vừa sống ở đây, thực tình tôi không muốn nghĩ tới “trận chiến cuối cùng” sẽ ra sao.

Phía ngoài, giữa nhà thờ và những gì còn lại của các văn phòng hành chánh, binh sĩ Dù, những người đã đụng trận nặng hồi đêm, đang nằm nghỉ dưới đất ở bìa sân bay. Ba người trong đám gác súng vào một thân cây, ngồi cạnh nhau, vừa đàn ghi-ta vừa hát nho nhỏ theo tiếng đàn… Họ trạc tuổi con trai tôi, cỡ hai mươi. Và tất cả đã là cựu binh.

Tôi tách xa về phía chợ. Binh sĩ phòng thủ khu trung tâm này trải dài trên năm trăm thước từ nhà thờ (đã bay nóc, kính vỡ tan, tường rạn nứt), nằm trong các hầm núp kiên cố, chất ngất bao cát chèn bởi các tấm đan, và nối liền với nhau qua đường dây điện thoại chôn dưới đất. Các vị trí này đều tua tủa họng liên thanh, súng phóng hỏa tiễn chống chiến xa, đại bác không giật. Chiến xa M.48 trang bị đèn hồng ngoại tuyến cho đại bác tác chiến ban đêm bố trí dài hai bên bệnh viện có một đại đội Dù trấn giữ.

6 giờ chiều, tôi mới gặp đại tá Phước vừa thị sát các tiền đồn trở về. Với diện mạo và tướng đi rất trẻ trung, 39 tuổi, chắc nịch như trụ đá, ông không đeo súng hay nón sắt. Chúng tôi biết nhau từ trận Tết Mậu Thân 1968. Lúc đó, ông chỉ huy liên đoàn Biệt Động Quân đến thay cho đơn vị Thủy Quân Lục Chiến hơi nhiễu loạn tại Chợ Lớn. Ông nổi tiếng liêm khiết, lì lợm nhưng biết tiết kiệm từng mạng sống của binh sĩ. Sau đó tôi lại gặp ông ở Neak Luong, nơi các đơn vị miền Nam đã thiết lập một căn cứ lớn trong chiến dịch tấn kích Campuchia.

Đại tá Phước nắm tay tôi, nói: Vào đây, vào phòng hành quân của tôi, mình ăn một chén cháo gà đã. Từ sáng đến giờ, tôi chưa ăn gì, đói muốn chết.

Phòng chỉ huy của người chỉ huy Biệt Động Quân nằm trước chợ, bố trí rất kỹ trong một ga-ra được rào kẽm gai và gài lựu đạn, gần như còn nguyên trạng. Vách tường gia cố bằng các khúc cây, các vạt sắt đường rầy xe lửa và những tấm thép dày. Trên bàn gắn nhiều tấm bản đồ của từng khu vực thành phố được vẽ lớn và ghi chú rõ bằng tay, có cả đèn măng-xông soi sáng. Một tủ lạnh chạy bằng dầu đang ướp các thùng bia. Nhà bếp có năm lò bằng đất nung nằm gọn trong góc, không tốn chỗ bao nhiêu.

Các sĩ quan nằm trên chiếu.

Đại tá Phước dẫn tôi đến một chỗ trống có cái bàn thấp trên đặt một bình trà, mấy chén cháo nóng, vài cọng rau thơm và ớt. Chúng tôi ngồi bẹp xuống ăn. Phước ăn vội tô cháo, uống một tách trà nóng, xong dựa lưng vào vách, nói:

– Vậy là anh đã tới thăm? Tướng Đảo có nói với tôi là anh tới đây từ 3 hôm trước… Này! Tình hình mỗi lúc một căng hơn. Về mặt giá trị chiến đấu của binh sĩ, tôi không có gì lo hết. Dù và Biệt Động Quân đều có cú đấm của mình và sư đoàn của tướng Đảo là một đơn vị ưu tú. Đối mặt chúng tôi là những đơn vị bộ đội còn rất trẻ, thiếu kinh nghiệm, nhưng họ có quân trừ bị quan trọng và có lực lượng tăng cường đều đều. Vì không đủ quân số nên chúng tôi kẹt cứng ở thế phòng ngự và bị nện đúng phương pháp. Kết quả là chúng tôi phải đào lỗ, sống như lũ chuột chù và bố trí hầm trú ẩn hay đường hào tác chiến nhờ các thanh sắt tháo gỡ từ đường xe lửa cũ…

Ông rót thêm một tách trà, hớp từng ngụm và tiếp:

– Trước hết, chúng tôi thiếu cái gì? Đó là một sư đoàn di động tốt. Bao giờ thật sự đánh úp được họ và bẻ gãy các cuộc tấn công! Nhưng không nên mơ! Tướng Đảo đã cố gắng gần một tuần nay để đưa trung đoàn thứ ba thuộc sư đoàn của ông (trung đoàn 43) đang bị giữ ở Củ Chi về. Bộ Tư Lệnh đã từ chối và ông không rút trung đoàn về được. Nhưng bài toán trầm trọng hơn là vấn đề tiếp vận. Tôi cho anh vài con số. Hiện giờ cấp số đạn của chúng tôi là mỗi binh sĩ chỉ được 100 viên đạn và hai trái lựu đạn mỗi ngày. Với cây súng tự động M.16 (nhịp bắn thực dụng 400 viên/phút) thật ra là không có gì cả! Lúc còn người Mỹ, không binh sĩ nào lãnh dưới 400 viên đạn khi đi hành quân. Cấp số tổng quát cho vòng đai phòng thủ là 15 tấn. Với 20.000 người trên mặt trận, phải có 50 khẩu pháo, chưa kể súng cối, chỉ tính cho một giờ tác xạ mà thôi. Pháo thủ của chúng tôi không thể tác xạ “ngăn chận” để dùng hỏa lực đánh vào trục tiến quân của địch và ngăn chận địch tập trung ở tuyến xuất phát. Chúng tôi xoay sở bằng cách gài mìn cá nhân và tăng các đội tuần tiễu Biệt Động Quân trên các đường xâm nhập của địch. Khi ghi nhận dấu hiệu hay khám phá sự di chuyển của địch thì họ gọi Không Quân. Phần chúng tôi phải ấn định một kỷ luật tác xạ thật khắc nghiệt. Pháo Binh chỉ bắn chận các đợt địch xung phong và Bộ Binh chỉ bắn diệt địch thật hữu hiệu ở tầm gần. Đây là chiến thuật khá nguy hiểm vì mình phải chờ các làn xung phong của địch đến thật gần, ở cự ly xáp lá cà mới được bắn. Hiện giờ coi như ổn vì lính của chúng tôi toàn là dân thiện chiến, không hốt hoảng cũng không nằm dúi dưới đạn pháo của địch. Nhưng không thể kéo dài tuần này qua tuần khác như vậy được. Chúng tôi mất mỗi ngày từ 60 đến 80 mạng, chỉ tính riêng Dù và Biệt Động Quân. Khó tìm được người thay thế một người lính thiện chiến già dặn lắm!

– Anh đã bi quan rồi sao?

Phước cười có vẻ ngạo nghễ:

– Bi quan hả? Có nghĩa gì? Chúng tôi đang ở thời chiến. Không có kế sách ba mươi sáu đâu. Chỉ có thắng, bại hay chết mà thôi. Tướng Đảo chín đứa con, tôi năm đứa. Gia đình chúng tôi ở Sài Gòn. Binh sĩ của tôi cũng vậy… và chúng tôi không muốn bị bọn Bắc Việt khốn kiếp đè bẹp. Có thế thôi.

– Anh nghĩ họ sẽ làm gì?

– Ồ, có gì hơn đâu? Họ đang cố bóp cổ chúng tôi. Họ cắt đứt đường ở phía sau chúng tôi để ngăn tiếp tế đạn dược tới. Họ tiếp tục dập chúng tôi bằng pháo 130 ly và tập trung 5 sư đoàn để cuối cùng nghiền nát chúng tôi. Thời gian chờ đợi giây phút đó, tôi cố giữ không cho mất cái mạng này. Tôi cho cái mũ nồi nâu của tôi đi dạo khắp nơi, tôi cố đứng thẳng khi cộng sản Bắc Việt bắn tôi…

– Anh thích chiến trận hả, anh Phước?

– Anh nói thế là thế nào? Thích chiến trận hả? Tôi thương vợ tôi, thương con tôi, thương đất nước tôi. Tôi thích sống như cha mẹ tôi đã sống, có lễ độ, thích tổ chức nghi lễ cổ truyền dân tộc, thích xem chiếu bóng, thích đi dạo thuyền hay chăm sóc vườn tược. Phiền là ở Việt Nam từ lâu rồi không thể đi dạo mà không sợ lãnh một viên đạn vào đầu hay đạp vào một trái mìn nào đó. Hồi Mậu Thân [tháng 2-1968] chúng tôi đã sửa soạn tất cả để ăn Tết. Nhà cửa đầy hoa thủy tiên, bánh cúng truyền thống cho Ông Táo bày ra: bánh chưng, chè (*), một chai rượu nếp nhỏ, có cả bức tranh lụa vẽ hình con đại bàng đang tung cánh bay và con ngựa đang phi. Các con tôi cười đùa, vợ tôi vui lắm. Chúng tôi có một buổi tối thật hạnh phúc. Đúng 4 giờ khuya, Việt Cộng tấn công. Tôi phải rời gia đình tức khắc, và chỉ được về phép năm tháng sau. Đêm đó thằng em út tôi, trung úy Dù, và vợ nó sống ở Chợ Lớn bị Việt Cộng cắt cổ…

(*) Giữ nguyên tiếng Việt “che” trong bản chính với lời chú là “một món ăn lỏng nấu với đường”.

Đại tá Phước đứng dậy, bước tới đài truyền tin của ông. Tôi ngồi lại một mình ở căn phòng nhỏ còn có một cây đèn măng-xông đang chiếu lên tường cái bóng chập chờn của bình trà. Bên ngoài, đêm thật yên lặng.

Phía Gia Kiệm, tiếng đại bác vẫn nổ rền như một cơn bão xa xăm… Tôi nghĩ tới sự ngẫu nhiên kỳ lạ.

Cách đây 28 năm, tôi đang ở một đồn nhỏ có rào tre vạt nhọn, gần hành dinh mà tôi vừa mới đến ban chiều.

Các bạn tôi gồm một người Pháp ở Bretagne, và một người Đức. Ông bạn Pháp vạm vỡ hồng hào tên Massé, là trung úy chỉ huy đại đội thân binh, đi đâu cũng mang theo một máy hát quay tay và cả một chồng dĩa nhạc cổ điển, đã mòn láng vì xài quá nhiều. Ông bạn Đức là một cựu sĩ quan Đức chiến đấu ở Tây Ban Nha, sau đó vào lê-dương (từng chiến đấu chống lại tướng Rommel ở Ý), một lực sĩ với nước da ngăm đen và cái nhìn xám xịt, tên Guerlach. Về sau, khi đã trở thành một nhà trồng tỉa, anh vẫn không rời khẩu súng tự động KAR 43 mà anh gọi là “dụng cụ cá nhân” và khẩu súng lục Walther P.38. Trung úy Massé chết trong trận phục kích đoàn xe ngày 18 tháng 5 năm 1948 chỉ huy bởi Hoàng Thọ, một đặc công có hàm râu như một linh mục mà tàn ác như một con hổ đói. Anh bạn Guerlach bị giết vài tháng sau đó trong một trận phục kích tại đồn điền Courtenay. Nhưng trước khi chết, anh đã hạ chín người với hai khẩu súng mà anh gọi là “dụng cụ cá nhân” của anh.

Nhiều năm đã trôi qua. Và tôi tự hỏi tại sao tôi luôn luôn ở đây. Vẫn là Xuân Lộc chứ không nơi nào khác? Cái thành phố ma quỷ chỉ còn là một cái tên với kỷ niệm về những con ma khác mà tôi đang nhớ đến.

Đại tá Phước trở lại với một chén cà phê nóng.

Ông đặt chén cà phê lên bàn và nói với tôi:

– Này, cái này tốt cho anh đó! Toán Lôi Hổ đã tìm và định được vị trí của một trung đoàn cộng sản Bắc Việt đang di chuyển khoảng 10 cây số cách quận lỵ. Nếu Lôi Hổ mà định được chính xác đường đi của trung đoàn này thì chúng tôi sẽ đập tan họ bằng Không Quân trước khi họ mở cuộc tấn công. Chúng tôi sẽ bớt được một cuộc ẩu đả không tốt. Trong khi chờ đợi, tôi không có quyền đi ngủ.

Sự bình tĩnh của vị sĩ quan hiện rõ trên nét mặt điềm nhiên của một người quen nghĩ tới điều tệ hại sẽ xẩy ra để tính trước cách đối phó gây ấn tượng khá mạnh.

Ông ngồi xuống dựa lưng vào tường, hỏi tôi:

– Anh bạn Thomann của anh thế nào? Không thấy anh ta đến đây chuyến này?

– Anh ta đang ở Paris. Hiện đang có một đứa con trai nhỏ.

– Anh ta không đi làm phóng sự nữa sao?

– Không phải vì mới có con nhỏ đâu. Cơ quan mướn anh ta đã kết sổ cho anh ta luôn rồi.

– Tôi thích anh ta lắm. Anh ta theo chúng tôi hành quân nhiều tháng ở nhiều khu khác nhau. Anh ta dai như đỉa đói, không biết mệt là gì mà cả tuần không nói quá ba tiếng. Anh ta cùng ăn với chúng tôi, cùng ngủ dưới đất như chúng tôi và không bao giờ rời chiếc máy quay phim. Anh ta bị thương 3 lần khi cùng lặn lội với chúng tôi: lần thứ nhất bị thương trên đầu ở thung lũng A Shau, tháng hai 1969, vì miểng đạn súng cối; lần thứ nhì vào tháng giêng 1970 trong vùng Thất Sơn gần biên giới Campuchia cũng vì một trái cối nổ cách anh ta chỉ hai thước. Lần đó tôi có 4 binh sĩ tử thương còn anh ta thì 2 chơn đầy miểng; lần thứ ba vào tháng 7 năm 1972, khi anh ta đang quay cảnh một đoàn dân chúng bị pháo 130 ly Liên Xô bắn xối xả. Lần đó anh ta suýt nằm luôn tại chỗ rồi! Anh ta bị thương rất nặng: cườm tay trái gần đứt lìa và đùi trái bị xẻ sâu hoắm. Biệt Động Quân của tôi đánh giá anh ta cao lắm.

– Họ đánh giá cao anh ta là rất có lý, anh Phước! Tôi biết Raymond Thomann từ lâu rồi. Anh ta là một cựu Biệt Kích Dù của Algérie! Sau đó anh ta thành lính đánh thuê ở Yémen và Congo, trước khi sang Việt Nam làm cho đài NBC và hãng AP của Mỹ. Anh ta đi bộ không biết mệt và không sợ gì cả. Anh ta thành công rất đẹp vào tháng giêng 1969. Không biết do đâu mà anh ta biết Mỹ sắp trao đổi tù binh với Việt Cộng nên đã đi trước hai ngày lên Tây Ninh, rồi từ đó lội bộ vào bưng, lang thang không biết chỗ nào là chỗ nào vì không nắm chính xác địa điểm trao đổi ở đâu. Anh tìm cách qua được Sông Bé bằng xuồng, tránh khỏi nhiều đội tuần tiễu Việt Cộng và cuối cùng tìm đến được một bìa rừng trống trải, nơi sẽ có cuộc trao đổi tù binh. Cả người Mỹ và Việt Cộng đều kinh ngạc khi anh ta xuất hiện. Việt Cộng kinh ngạc vì anh ta đã gạt hết được hệ thống canh gác của họ, còn người Mỹ kinh ngạc vì họ tới đó bằng trực thăng và không thể tưởng tượng nổi một tên da trắng lại đơn thân đột nhập thật sâu tới đây để vụt hiện như một con quỷ đúng lúc không bên nào chờ đợi sự có mặt này. Lần đó Raymond mang về một số hình ảnh tuyệt vời. Việt Cộng thì đội nón vải đi rừng, mặc quần cụt, người chỉ huy có một lỗ mũi kỳ dị, nhọn hoắt và có một cái bướu. Còn đại tá Mỹ cao gầy, xương xẩu, nói rành tiếng Việt, tên Sauvageot (*). Ông ta rất giận khi Raymond có mặt ở ngay buổi trao đổi bí mật này, đã từ chối cho anh ta về bằng trực thăng nên bạn tôi lại phải lội bộ trở về.

Phước cười nắc nẻ, đập tay lên đầu gối, la lớn:

– Tiếc quá, thật tình tôi không biết việc này, nhưng nó chỉ xác nhận những gì tôi đã nói với anh về Thomann. Làm được “cú” đẹp như thế, phải có bản lĩnh lắm! Nếu còn gặp anh ta ở Paris, anh nhớ cho anh ta biết tình cảm bạn bè thật thân thiết của tôi đối với anh ta nhé.

Một đại úy có khuôn mặt hẹp bước tới, đứng nghiêm chào và trình:

– Thưa đại tá, có Lôi Hổ 6 gọi.

Phước bật dậy và chạy tới máy truyền tin. Một giọng nói chắc nịch đang bình tĩnh báo cáo:

– Một trung đoàn cộng quân đang tập trung ở 5 cây số về hướng Đông Bắc chờ xuất phát. Tiền sát của họ đã nằm cách sân bay khoảng 2 cây số. Có hai tiểu đoàn chiến xa yểm trợ. Xin ghi tọa độ.

Phước ghi tọa độ và ra lệnh ngắn gọn:

– Tránh ngay khỏi trục tiến quân của họ. Hết.

Ông báo động ngay về Biên Hòa, chuyển tin tức và xin “yểm trợ nặng”. Tiếp theo, ông liên lạc với chỉ huy Pháo Binh. Tôi ra khỏi ga-ra. Bên ngoài, đêm vẫn yên tĩnh. Thỉnh thoảng chỉ thoáng nghe vài tiếng động nhỏ đều đều của tiếng vá đào đất. Chắc binh sĩ đang tu bổ hầm trú ẩn.

Mười phút trôi qua. Có tiếng động cơ xa xa trên trời cao. Pháo Binh bắt đầu tác xạ. Những tiếng khua động, tiếng đạn rít ngang qua và vài giây sau là tiếng nổ inh tai.

Phước theo ra đứng bên cạnh tôi và nói:

– Họ bắn rải để chận đường rút của trung đoàn địch và che lấp tiếng phi cơ bay đến.

Ba vừng ánh sáng liên tiếp lóe lên, ba tiếng nổ dữ dội nhưng nghẹn lại như lựu đạn nổ dưới nước, cửa ga-ra rung lên ba lần. Mấy ánh lửa lóe lên nhưng lập tức bị che lấp bởi mấy đụn nấm khói đen kịt như đang tụ lại bao vòng một khoảng chân trời… Pháo Binh đã ngừng bắn. Đại tá Phước trở lại đài chỉ huy vô tuyến. Hai chục phút trôi qua. Có tiếng gọi của Lôi Hổ. Bây giờ là 1 giờ sáng rồi.

– Đơn vị Bắc Việt bị đánh trúng rất nặng. Vài tên sống sót đang chạy tán loạn. Thống kê kinh hoàng!

Đại tá Phước ra lệnh qua vô tuyến cho hai tiểu đội Biệt Động Quân tiến chiếm và tảo thanh vùng vừa bị dội bom. Ông xoay qua tôi, nói:

– Anh có thể vào ngủ yên, sẽ không có gì xảy ra trong đêm nay. Bọn chúng phải cần một thời gian mới tiêu hóa xong những trái CBU.55.

– Anh muốn nói loại Cluster Bomb Unit? Tôi biết loại bom đó. Bom nhiều miểng, chống cá nhân, thả từng chùm, khi đụng đất, nổ tung ra nhiều đạn nhỏ bằng trái banh tennis phải không? Loại bom này sát hại đáng kể…

Phước đưa tay chận tôi lại:

– Loại CBU.55 này cũng thả từng chùm, nhưng là một loại đặc biệt, cho đến nay chưa bao giờ sử dụng.

–  Anh nói “đặc biệt” theo nghĩa nào?

– Tôi không muốn nói chuyện đó bây giờ cho anh nghe đâu. Anh sẽ thấy rõ kết quả ngày mai khi trời sáng. Chúng ta sẽ đến đó xem tận mắt. Bây giờ anh đi ngủ đi.

Tôi đến nằm trên một chiếc chiếu và ngủ ngon lành.

6 giờ sáng, có người đánh thức tôi dậy.

Tôi nhận ra viên đại úy hồi hôm.

– Đại tá đang chờ ông.

Chúng tôi đi bằng xe Jeep. Ba cây số về phía Đông Bắc rồi xuống xe đi bộ theo hướng dẫn của ba binh sĩ Biệt Động Quân vai choàng đại liên M.60, mình mang mấy dây đạn. Và bất ngờ vụt hiện giữa những hàng cây trụi lá, một cảnh tượng ghê rợn! Trong một vùng trống mỗi bề khoảng 100 thước, hằng trăm bộ đội Bắc Việt không còn hình dạng rải rác cùng khắp. Một chiến xa bị lật ngửa. Tử thi không có một vết thương nào trên mình. Chỉ thấy vài vết máu quanh miệng và mũi. Có thể nói họ bị cơn lốc cuốn lên cao rồi ném xuống bẹp dí. Đại tá Phước giải thích:

– CBU.55 là loại bom “ngạt”. Công thức của nó còn là “tối mật”. Bộ Tham Mưu chỉ cho biết là nó đốt hết dưỡng khí trong không khí và làm cho ngạt thở, chết tức khắc. Thông thường, dưỡng khí là một nhiệt khí (có nghĩa là không thể cháy). Theo tôi, loại bom CBU.55 này đốt hết không khí, gây sự bùng nổ mãnh liệt tạo ra một làn sóng va chạm cực mạnh làm vỡ hết buồng phổi và người chết không có dấu vết gì gọi là thương tích trên thân thể. (**)

Dù theo cách nào thì kết quả thật khủng khiếp.

Cây cối bị thổi bay hết lá cùng lúc cả một đám người bất thần bị chết chung trong thời gian có thể chưa đầy một giây… Tất cả để lại cảm tưởng như một đoạn phim kinh dị đạo diễn bởi các nhà phù thủy bí mật của phòng nghiên cứu. Nhưng đây không phải một cảnh phim… và người chết ở đây không phải là những hình nộm!

Tôi vội vã ra đi.

Lúc 8 giờ, một trực thăng đưa tôi về Biên Hòa.

Trực thăng chở theo một lô binh sĩ miền Nam bị thương, ở bụng, ở đầu.

Nhiều người đã kiệt sức.

GHI CHÚ:
(*) Đại tá Sauvageot là một nhân viên tình báo thuộc Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ CIA, nói và viết tiếng miền Nam như một người Việt Nam chính cống. Từ tháng 3-1973 đến 30-4-75 đóng vai thông dịch viên chánh thức cho Phái Đoàn Quân Sự Mỹ trong Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên tại Tân Sơn Nhất Sài Gòn nhưng không đeo cấp bực nào của quân đội Mỹ.
(**) Theo giải thích chánh thức của một đại tá Hoa Kỳ, cố vấn trưởng một tiểu khu ở Đồng Bằng Cửu Long: loại bom này khi đến gần mặt đất khoảng 100 thước thì có một chiếc dù bung ra, còn cách mặt đất chừng 10 thước thì nổ. Bom không có miểng, không giết người bằng mảnh bom. Khi nổ sẽ “hút” hết dưỡng khí trong một vùng khoảng 1 cây số đường bán kính. Mọi sinh vật trong vòng ảnh hưởng đều không còn dưỡng khí để thở, (kể cả cây cối, nên cây rụng hết lá), bị trào máu ra miệng và mũi chết tức khắc (kể cả người ở hầm sâu dưới đất). Chẳng những không có vết thương nào trên người mà chết trong tư thế tự nhiên (đang ngồi, nằm, đứng, đi v.v…) Nguyên văn tác giả dùng danh từ “đốt” nhưng sự thật phải nói là “hút đi” mới đúng. Loại bom nầy được giao cho Hải Quân Hoa Kỳ thí nghiệm lần đầu năm 1972 ở đồng bằng Cửu Long.

(Hết Chương 15)

Share this post