Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 18

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 18

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 18
NGỌN ĐỒI CUỐI CÙNG

Thứ Tư 23 tháng 4 năm 1975

Cứ mỗi 3 phút là các phóng pháo khu trục cơ cất cánh và đáp xuống phi trường. Trên bãi đáp trực thăng số 42, đang có 2 trực thăng vận tải Chinooks và 2 trực thăng võ trang UH.1B sắp sửa cất cánh.

Nhiệm vụ: tiếp tế đạn cho 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 48 bộ binh đang đụng địch ở chân Núi Thị, một ngọn núi chế ngự toàn khu vực đồn điền cao su An Lộc rộng lớn (S.I.P.H) và đang chuẩn bị chống trả những trận tấn công dữ dội hơn của cộng sản.

Thiếu tá Luân, 36 tuổi (với 4000 giờ bay và 12 huy chương), một trong số phi công ưu tú nhất thuộc Không Quân chiến thuật, thuận cho tôi cùng bay. Chúng tôi sẽ nghỉ đêm tại mỏm núi và sáng sớm mai sẽ lượn trên khắp vùng trận địa – trải rộng 60 cây số – của chiến trường Xuân Lộc trên quốc lộ 1 và tỉnh lộ 24.

Các thợ máy trong y phục chống cháy đang gắn những tấm lưới thép dưới lườn trực thăng Chinooks và chất đầy các thùng đạn vào đó. Khoác chiếc áo giáp chống đạn và đội nón sắt có kính che mắt, tôi nịt dây an toàn rất kỹ lưỡng. Trên phòng lái là thiếu tá Luân và sĩ quan hoa tiêu. Bên trái tôi là một sĩ quan pháo binh với ống nghe trên mũ và ống nói dưới cằm. Phía sau tôi, ở hai ụ súng là hai xạ thủ với hai khẩu đại liên 50 chĩa ra ngoài, và dưới lườn phi cơ có hai ống phóng mỗi ống chứa 7 quả rốc kết.

Chúng tôi cất cánh lúc 18 giờ 15 phút.

Trực thăng lấy cao độ nhanh, và trực chỉ hướng Đông. Xuyên qua các đám mây chúng tôi thấy một đường thẳng dài của quốc lộ 1, lấm chấm vài dấu nổ của đạn pháo: đó là tác xạ ngăn chặn của pháo binh Sư đoàn 5 Bộ Binh đang phòng thủ các ngõ vào Trảng Bom.

Trực thăng sau đó chui qua các đám mây xuống thấp, bay rà rà trên các ngọn cây cao su của đồn điền S.I.P.H. Trên con đường mòn đất đỏ vắt ngang đồn điền cao su, nửa tá xe vận tải Molotova chở đầy bộ đội cộng sản đang chạy rất gần. Thiếu tá Luân bẻ cần quẹo gấp đưa trực thăng nằm đúng ngay trên trục của đường mòn. Thình lình, hai rồi bốn sự rung chuyển ngắn làm chấn động chiếc trực thăng. Bốn quả rốc kết đã được Luân phóng đi từ hai ống phóng và nổ đúng vào đoàn xe vận tải. Nhiều tiếng nổ dữ dội cho thấy là các quả rốc kết đều trúng mục tiêu. Lửa, khói và miểng đạn bắn tung tóe gần như bao trùm chiếc trực thăng, vì nó bay rất thấp. Tôi nghĩ là chúng tôi cũng có thể gặp nguy cơ… Chiếc trực thăng rung lên từng chập. Đại liên nhả đạn xối xả. Xuyên qua cửa ngang hông mở toang, trong chớp nhoáng, tôi thấy một chiếc xe đang cháy và những bộ đội bé nhỏ quân phục xanh hỗn loạn nhảy tứ tung như những tia lửa bắn lên tứ hướng từ một lò nung hừng hực. Rồi không còn nghe thấy gì nữa. Chiếc Chinooks lại bay rà trên tấm thảm xanh của rừng cao su với tiếng phành phạch của cánh quạt. Cuộc tấn công chỉ kéo dài cỡ 20 giây.

Sáu phút sau, chúng tôi đã thấy Núi Thi, một mỏm đá với một chòm cây và một gian nhà lớn chỉ còn nửa nóc. Đó là biệt thự của viên thanh tra đồn điền cao su. Thiếu tá Luân đáp xuống bãi trống được đánh dấu bằng mấy trái khói mầu vàng, nằm cao hơn mỏm đá. Một thiếu úy đưa chúng tôi đến bộ chỉ huy của trung tá Phát, một phòng lớn ở tầng trệt của biệt thự, có bao cát xung quanh và một số bàn đầy máy móc truyền tin, điện thoại.

Cằm bạnh, đầu húi trọc, trung tá Phát toát ra một ấn tượng về sức mạnh và nghị lực. Xung quanh ông, một nhóm nhỏ sĩ quan khoẻ khoắn, tề chỉnh, nghiêm túc đang chờ nhận lệnh. Trung tá Phát bắt tay tôi, khẽ đấm Luân rồi đãi chúng tôi mỗi người một cốc cà phê nóng có chế rượu mạnh, xong vừa cười vừa nói:

– Các anh đừng lo, căn nhà này chắc lắm, toàn là xi măng cốt sắt và từ trước thời có loạn, nghe! Năm 1947 biệt thự này bị cháy và người Pháp đã bỏ đi. Hai chục năm sau người Mỹ sửa lại, tăng cường tới nóc bằng các tấm thép. Họ đặt mấy chiếc tủ lạnh và còn sơn màu xanh lá cây các cánh cửa.

Rồi ông ta nghiêm sắc mặt, nói với thiếu tá Luân:

– Tôi đã mang được lên đồi này 4 khẩu 105 ly và 3 khẩu 155 ly. Nhưng tôi thiếu đạn, tôi chỉ có 30 quả cho mỗi khẩu. Tôi cần gấp ba lần như thế và một số đạn súng cối nữa. Anh cố tìm cách mang lên đây cho tôi trong 6 hay 8 chuyến. Và làm sao để tôi có một trực thăng võ trang C.119 trước 12 giờ đêm và cho nó trực sẵn sàng chờ lệnh, vì lũ khốn kiếp Bắc kỳ chắc chắn sẽ chơi tôi vào lúc 2, 3 giờ sáng gì đó.

– Hai chiếc Chinooks đang mang đến cho Anh 3 tấn đạn, thiếu tá Luân đáp. Họ sẽ đến đặt trước nhà anh vài phút nữa. Về phần còn lại tôi sẽ làm cho anh tối đa.

Thiếu tá Luân tiến tới máy truyền tin và gọi Biên Hòa. Trung tá Phát bật lửa bằng cách quẹt que diêm trên khóa dây lưng, đốt điếu thuốc, lật bản đồ ra, giải thích cho tôi nghe về tình hình:

– Sư đoàn 18 và liên đoàn Biệt Động Quân của đại tá Phước đã chiến đấu như những con sư tử suốt 14 ngày giữa các đống gạch vụn của Xuân Lộc. Họ phải lãnh hơn 20.000 trái pháo và rốc kết mà không hề giao động. Họ đã bắn sụm 37 chiến xa T.54 và cho đo ván hơn 5000 cộng quân. Thứ Hai vừa rồi, Bắc Việt bọc vòng phía sau thành phố, chiếm giao lộ Suzannah và sơi luôn một đoàn xe tiếp tế. Họ bố trí cẩn thận hai bên ngã tư, điều chỉnh sẵn tác xạ và đặt 2 sư đoàn gần đó trong tư thế chờ đợi, hy vọng đánh tan xác chúng tôi khi rút quân. Nhưng tướng Đảo đã “chộp” được họ. Chiều thứ Hai, Tướng Đảo đã phản công giải tỏa phần đất quanh phi trường hơn 2 cây số… đồng thời xin tiếp tế thật nhiều đạn cả bằng trực thăng và thả dù. Ngày thứ Ba, nghĩa là mới hôm qua đây, thay vì lui về, ông đã cho cả sư đoàn đi thẳng tới theo trục các đồn điền Courtenay – Xà Bàng – Bình Ba – Bà Rịa. Ông đã bất thần phá vỡ vòng vây Bắc Việt, mang theo tất cả thương binh, tất cả xe cộ, 50 xe vận tải và trên 30 chiến xa. Không quân đã yểm trợ dọn đường cho sư đoàn bằng cách dội bom CBU, loại bom mà bộ đội Bắc Việt rất khiếp sợ. Để giúp tướng Đảo điều quân thành công, chúng tôi đã cho 2 tiểu đoàn đánh ngược hướng tiến quân của sư đoàn (1 tiểu đoàn Dù và tiểu đoàn của tôi), để cho cộng quân tưởng rằng chúng tôi sẽ rút lui về hướng Sài Gòn theo quốc lộ 1. Tiểu đoàn Dù tình nguyện đâm thẳng vào Gia Kiệm để cầm chân một trung đoàn địch. Tiểu đoàn của tôi bất ngờ băng ngang đồn điền S.I.P.H. đánh ngay sau lưng địch, hạ sát trên 300 bộ đội, cắt hết đường dây điện thoại của họ, và bắn hạ 2 chiến xa T.54. Rồi chúng tôi lên thẳng trên ngọn đồi này vốn chỉ có một đại đội Địa Phương Quân phòng thủ, và chúng tôi đã mất hai ngày hai đêm dùng cuốc, xẻng để tổ chức vị trí phòng ngự. Muốn đuổi chúng tôi ra khỏi đây, hả? Họ cũng phải trả một giá hết sức đắt.

Đại úy Nhân đưa tôi đi xem vị trí phòng ngự.

Thiếu tá Luân đã cất cánh với chiếc trực thăng. Ngọn đồi này, một khối đá cao trên 100 thước, phía Tây thẳng đứng rất hiểm trở, phía Bắc và phía Đông toàn là rừng, duy phía Nam có một lô cao su khá lớn bao quanh, chiếm một vị trí rất đặc biệt. Là cao điểm độc nhất giữa một khu đồng bằng rộng lớn, vị trí này chế ngự toàn vùng, địch khó thể tiến đến đây mà không bị lộ, và không thể leo lên hay tràn ngập vị trí phòng thủ bằng một cuộc tấn công trực diện. Dưới chân đồi, cách khoảng 1500 thước với một hệ thống đường sá như bàn cờ dưới làn sóng lá xanh um, là trung tâm đồn điền An Lộc. Một bên là sân bay và bệnh xá, bên kia là dãy nhà kho, câu lạc bộ, biệt thự của giám đốc đồn điền, nhà của các nhân viên phụ tá, hồ tắm, sân tơ-nít và trung tâm truyền tin. Chỉ là một thị trấn nhỏ nhưng hiện đại do một nhúm người Pháp điều hành, nơi đây đã nuôi sống được hằng ngàn công nhân và kỹ thuật gia Việt Nam cư ngụ trong các làng khéo tổ chức với những căn nhà khiêm tốn nhưng đầy đủ tiện nghi (điện, nước v.v…).

oOo

Các nhà trồng tỉa Pháp ở Việt Nam thật đáng phục.

Cần cù, thẳng tánh, kín đáo, họ sống với nhau rất đoàn kết. Đã quen với nguy hiểm, đối đầu với nhiều bài toán tế nhị, thường bị lực lượng Việt Cộng địa phương quấy nhiễu, bị bắt cóc để đòi tiền chuộc, đôi khi bị Không quân bắn phá và di chuyển thì phải đi trên những con đường hay bị phục kích, số người Pháp này làm việc trong những điều kiện hết sức khó khăn.

Hằng ngày, họ phải đi khắp các lô cao su theo dõi việc cạo mủ, tu bổ dụng cụ, kiểm soát số lượng mủ, số cây ương và còn phải chú ý đến sức khỏe của công nhân mà họ vừa là chủ vừa là những người đỡ đầu. Họ phải giải quyết mọi bài toán về nhân sinh, như dàn xếp các cuộc gây gổ trong gia đình, giữ cả sổ sách về hộ tịch và giúp đỡ về dịch vụ săn sóc y tế cấp thời miễn phí nữa. Họ không bao giờ phàn nàn và chỉ có một lo âu: làm sao cho công việc mà họ có trách nhiệm được chạy đều.

Lúc này, cũng gần như mỗi buỗi chiều, họ có nghe tiếng đại bác. Đêm nay, có thể họ gặp nguy cơ bị kẹt giữa hai lằn đạn. Có phải vì thế mà dù đêm đã xuống, đồn điền An Lộc vẫn chưa lên đèn?

Tôi chia xẻ nhận xét đó với đại úy Nhân. Người sĩ quan trẻ này đáp lời:

– Không phải đâu, những người Pháp của đồn điền này không ở đây nữa. Họ đã gặp nhiều khó khăn. Trước hết là với những người dân chạy giặc từ Miền Trung vào, sau đó là dân Xuân Lộc. Hàng ngàn người bất thần bị bom đạn đã ùa vào đồn điền cao su lánh nạn. Chủ đồn điền là ông Parnès, không lo xuể. Ông ta thiếu gạo nên đã phải băng qua vùng lửa đạn để tìm xe lấy gạo. Ông đã săn sóc cho đàn bà và trẻ con, đích thân chích thuốc cho họ, nhưng không có cách nào để điều trị người bị thương và những bệnh nhân nặng. Vả lại có quá nhiều người. Ông đã cố xuống Xuân Lộc tìm một trong năm bác sĩ của bệnh viện dân chính, nhưng không còn ai. Họ chạy hết rồi. Ông lại phải trở về đồn điền và tiếp tục tìm các bác sĩ trong số dân tỵ nạn đang ở giữa các lô cao su. Cuối cùng, ông gặp được một người đang giả dạng thường dân, mặc bộ đồ bà ba đen, choàng khăn và đội nón lá sùm sụp để che mặt. Ông nắm lấy bác sĩ này, lôi về xe Jeep của ông. Vị bác sĩ khẩn khoản xin ông chờ một thời gian: “Tôi đang tìm vợ của tôi, vợ tôi sắp tới ngày sinh con mà lạc mất 3 ngày nay. Khi nào tôi gặp lại vợ tôi thì tôi theo ông ngay”. Ông Parnès đã giúp bác sĩ này đi tìm. Cuối cùng họ đã gặp người đàn bà bất hạnh này nằm trên vũng bùn gần một con rạch nhỏ. Bà đã sanh con trên miếng đất trống, giống như một con thú vậy!

– Và ông bác sĩ đã làm gì?

– Bụng vợ ông căng lên đầy mủ. Bà ta qua đời vài giờ sau đó. Ông bác sĩ đã giữ lời hứa, mang đứa con của ông về bệnh viện đồn điền và sau đó làm việc túi bụi với những người dân chạy loạn.

Đại úy Nhân đưa tôi một điếu thuốc, dẫn tôi tới xem một ụ phòng thủ và nói tiếp:

– Các ông chủ sở cao su này còn nhiều ưu phiền khác. Các đơn vị Bắc Việt đã đi ngang đồn điền. Một trung đoàn “bộ đội” (*) quá khát đã tràn vào nhà máy và nốc sạch cả bồn nước, làm nhà máy phải ngưng hoạt động vì bồn nước này dùng để làm nguội máy móc. Không lâu sau đó, một trung đoàn khác đi ngang. Toán tiền sát đến trung tâm đồn điền. Toàn là người Bắc và nông dân chưa từng thấy cái gì hết. Họ lục lọi mọi thứ và dùng báng súng đập vỡ các thứ kể cả các máy thu thanh. Sau đó họ bắt 3 vị phụ tá, trói lại dẫn vào rừng, đe dọa giết chết vì là “gián điệp của Mỹ”. Công nhân chạy đi tìm nhóm Việt Cộng địa phương, một chính trị viên người Nam đã đến gặp bộ đội Miền Bắc và cuối cùng 3 phụ tá được thả với một “giấy đi đường”. Họ về làm việc ở sở. Rồi một đơn vị Bắc Việt khác đi qua, lại bắt họ trói dẫn vào rừng. Lần này thì không ai biết số phận của họ ra sao.

– Còn công nhân thì sao?

– Họ vẫn làm việc nhưng luôn sợ bị trả thù. Cách đây hai ngày, một tiểu đoàn chánh quy Miền Bắc bị chết hơn 100 người trong một bãi mìn. Họ tràn vào làng công nhân ở khu D, dùng loa kêu tất cả phải ra ngoài. Một số nghe theo nhưng phần đông đều ở trong nhà không ra. Binh sĩ Bắc Việt đã thản nhiên nổ súng và liệng lựu đạn vào từng căn nhà. Hơn 100 người phần đông là đàn bà và trẻ con đã bị tàn sát như vậy.

(*) Trong nguyên tác đều ghi: “Bo-Dois”.

oOo

Đêm đã xuống. Binh sĩ đã vào vị trí chiến đấu. Rải rác phía bên đường dẫn xuống đồng bằng, giữa những hòn đá, vị trí pháo binh và bách kích pháo, các xạ thủ cũng sẵn sàng. Dài theo bìa đồn điền là một đại đội Biệt Động Quân với các khẩu trung liên, súng phóng lựu và súng không giật 57 ly. Phải biết chờ đợi và biết giữ yên lặng.

10 giờ đêm, tiếng phành phạch của Chinooks nghe mỗi lúc một gần… Binh sĩ cho đốt những ngọn đèn mà ánh sáng chỉ có trên không mới nhìn thấy, đánh dấu bãi đáp để nhận hàng tiếp liệu. Những chiếc trực thăng đảo tròn trên Bộ Chỉ Huy, với những kiện hàng nặng trong các lưới thép lòng thòng dưới lườn. Chỉ trong vài phút, họ đã đặt các kiện hàng tiếp liệu xuống đất, hệ thống dây bịt thả ra hết và trực thăng lại bay đi. Rồi họ trở lại hai lần nữa. Từ xa, tiếng đại bác gầm thét như những tiếng sấm trong cơn mưa. Nhưng cơn bão mà chúng tôi đang chờ đợi không thấy tới.

Nằm gọn trong một hốc đá, tôi không tài nào ngủ được. Chỉ nghe tiếng dế gáy liên hồi…

Lúc 3 giờ sáng thì mọi sự đều biến chuyển. Nhiều chùm lửa đỏ rực bay vào ngọn đồi. Một số cây bị trốc cả gốc. Rồi một đợt tiếng la vang dội từ các mỏm đá dưới chân đồi. Đó là lệnh xung phong. Quân Bắc Việt tấn công trực diện dọc theo hai bên đường. Binh sĩ miền Nam không bắn phát nào. Họ chờ “bộ đội” đến gần hơn dưới 100 thước. Lúc đó, các loại súng đều nổ một lượt. Súng cối nã đạn vào hai bên đường, nòng súng gần như thẳng đứng cho tầm tác xạ ngắn lại. Pháo 105 ly tác xạ ở cự ly 0 độ. Phía dưới, về phía bên trái, các khẩu trung liên của Biệt Động Quân nổ như bắp rang. Trái sáng được bắn lên xé tan màn đêm cho thấy các bóng người tan tác, ngã lăn oằn oại với những tiếng la thảm thiết. Rồi hai trực thăng võ trang C119 xuất hiện, xé gió bay tới… sau tiếng gầm, lao xuống như hai con chim ưng gặp mồi và dùng các khẩu đại liên điện bắn như mưa xuống đám người còn sống sót đang tháo chạy tán loạn dưới cánh đồng. Nhiều tràng pháo 130 ly bắn quá ngắn nên rơi hết xuống đám rừng làm trốc gốc thêm một số cây. Pháo 155 ly của miền Nam dữ dội như sấm sét.

5 giờ sáng, mọi tiếng súng đều ngưng. Lúc trời sáng hẳn, binh sĩ mới thận trọng rời phòng tuyến, đi lần xuống đồi, súng lăm lăm trong tay sẵn sàng nhả đạn. Trên mặt đất phủ đầy những xác chết mặc quân phục xanh lá cây.

Đại úy Nhân trao cho tôi một ly cà phê nóng và nói:

– Đêm rồi mọi việc đều rất tốt. Nhưng họ sẽ trở lại. Một tiếng đồng hồ nữa thiếu tá Luân sẽ có mặt ở đây và anh sẽ đi về với ông ta.

7 giờ sáng, tôi lên trực thăng của thiếu tá Luân.

Chúng tôi cất cánh, lên cao độ 1200 bộ, bay về hướng Bắc… Nhìn từ trên cao, Xuân Lộc là một đống gạch vụn đầy bụi, duy nhất chỉ còn mỗi lầu chuông của nhà thờ sừng sững như một ngọn hải đăng. Trực thăng đổi hướng về hướng Đông và xuống thấp là là trên ngọn cao su. Qua đồn điền Hàng Gòn, chúng tôi thấy một đoàn quân xa cộng sản, chiến xa, xe pháo binh, xe vận tải chở đầy binh sĩ đang di chuyển dài trên mấy cây số ngang nhiên như chỗ không người và không nghi trang.

Thiếu tá Luân tạt thật nhanh đi chỗ khác, dùng vô tuyến báo động cho Biên Hòa rồi vọt lên cao độ 1500 bộ. Mười phút sau, chúng tôi chứng kiến một cảnh tượng kinh hồn. Hai, bốn, rồi sáu chiến đấu cơ A.37 đâm bổ xuống tác xạ từ phía sau đoàn xe gây nhiều đám cháy, lửa khói mịt mù. Vài giây sau, lại có hai vận tải cơ C.130 thả từ trên cao xuống hai thùng tròn đen có dù, khi gần chạm đất gây hai tiếng nổ thật kinh khủng tỏa ra hai lằn ánh sáng ngắn màu xanh kỳ dị. Hai cột khói hình nấm tròn bốc lên với một luồng gió mạnh phi thường đến đỗi trực thăng của chúng tôi ở cao độ 500 thước bị ảnh hưởng, lắc lư rung chuyển thật mạnh rồi rơi tuột xuống khoảng không như một hòn đá, đến cao độ 800 bộ mới lấy lại được thăng bằng. Khi khói tan biến hết, hiện quang cảnh con đường ngổn ngang xe cộ bị lật ngã, nghiêng ngửa, tan nát, các khẩu pháo bị tung xuống hố và thây người nằm rải khắp trên 200 thước bề ngang, cây cối trốc gốc lộn nhào đưa rễ lên trời. Thật là một cảnh khiếp đảm, một sự hủy diệt trong nháy mắt. Thiếu tá Luân cho trực thăng bay sà xuống, bắn tất cả rốc kết dọc theo hai bên đường. Không một tiếng súng bắn trả: Thiếu tá Luân đã bắn vào một đoàn người chết.

oOo

Sau khi đáp xuống sân bay Biên Hòa, thiếu tá Luân vừa cởi nón sắt ra vừa nói với tôi;

Anh thấy rõ mức độ thiệt hại không? Hai thùng tròn đen được thả xuống ban nãy là hai trái bom CBU.55. Một đầu đạn được gắn vào phía trước hai thùng đen là bộ phận kích hỏa phát nổ gần mặt đất. Như vậy là không có góc độ “tử giác”. Trong vòng 150 thước bán kính, không không khí bị hút hết, tức là không còn dưỡng khí ở đâu cả. Cộng thêm là làn sóng cực mạnh của sức nổ. Đây là một loại vũ khí kinh hoàng, chỉ dùng khi địch quân tập trung đông đảo để đạt hiệu quả cao.

– Như vậy dùng thuốc nổ loại nào?

– Tôi cũng không biết chính xác. Công thức này còn “Tối Mật”, chỉ có người Mỹ có thể biết thôi. Tôi nghĩ đây là một sự pha trộn giữa chất nổ TNT và một chất hóa học nào đó. Loại bom này có lâu rồi, nhưng vì sợ dư luận của dân chúng Hoa Kỳ nên người Mỹ chưa bao giờ sử dụng. Khi rời Việt Nam, họ để lại trên 20 trái bom này và dặn là chỉ nên sử dụng khi nào tối cần thiết, coi như đó là biện pháp sau cùng. Gần như đây là loại vũ khí của “cơ may cuối cùng”… Chúng tôi đã sử dụng 7 trái trong vòng 3 ngày nay.

(Hết Chương 18)

Share this post