Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 2 (Tiếp Theo)

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 2 (Tiếp Theo)

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài & Hồi Ký.

CHƯƠNG 2
HÀ NỘI ĐÁNH PHÁ UY TÍN CỦA SÀI GÒN

(Tiếp theo)

Không khí chính trị và xã hội tại miền Nam Việt Nam rất nặng nề. Một cuộc khủng hoảng trầm trọng do các lãnh tụ đối lập gây ra nhiều tháng đã làm lung lay chính phủ Sài Gòn trong lúc đang cố gắng lo đối đầu với những chỉ trích từ mọi phía.

Mọi sự bắt đầu từ tháng 5-1974, với bản cáo trạng chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh — một tu sĩ thuộc dòng Chúa Cứu Thế, đại diện một giáo khu nghèo nhất vùng ngoại ô Sài Gòn. Bản cáo trạng sau đó được sự ủng hộ của 301 tu sĩ Công Giáo, tố cáo chính phủ về vấn đề buôn lậu và hối mại quyền thế của một số tướng lãnh và tỉnh trưởng.

Vấn đề được đưa ra bàn thảo ở Hạ Viện và Thượng Viện, tranh cãi rất sôi nổi và hứng thú, nhưng cuối cùng thì ngòi nổ cũng được tháo gỡ khéo léo theo cách có lợi cho chính phủ, chỉ để lại một ấn tượng về sự tự do phát biểu đúng mức cho thính giả sau cuộc tranh luận.

Tuy nhiên không vì thế mà có thể dập tắt được hành động của những người chống đối. Nó được tái phát trở lại, dữ dội hơn, tai tiếng hơn và có phương pháp hơn, và lần này thì mũi dùi chĩa ngay vào Tổng Thống Thiệu, gia đình ông, và các cộng sự viên thân cận nhất của ông.

Ngày 8 tháng 9-1974, Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng, Cứu Quốc và Kiến Tạo Hòa Bình cho lưu hành bản cáo trạng số 1, cáo trạng đầu tiên của một loạt 3 cáo trạng, phơi bày thực sự ra ánh sáng những sự lạm dụng công quỹ và những lợi tức bất hợp pháp. Các tác giả bản cáo trạng cho rằng sự tố cáo này dựa trên “những chứng tích không thể chối bỏ” và gồm 6 điểm:

— Tậu quá nhiều bất động sản: mua một biệt thự của hãng Shell cho con trai giá 40  triệu đồng, mua cho vợ một cơ sở thương mại cũ của Công Ty Đất Đỏ, 90 triệu đồng, và một nhà ở Thụy Sĩ.

— Lợi dụng chiếm đất: Tổng Thống Thiệu sẽ làm chủ một miếng đất 3 mẫu ở Đà Lạt, một miếng đất gần Giá Rai trên quốc lộ 1, khai thác ở Long Khánh nhiều trăm mẫu.

— Dùng công quỹ giao cho công ty Hải Long tích trữ phân bón, giám đốc công ty này là ông Nguyễn Xuân Huyến, anh em đồng hao của Tổng Thống Thiệu.

— Vấn đề “bệnh viện Vì Dân” do bà Thiệu và Hội Phụ Nữ Việt Nam Phụng Sự Xã Hội đứng ra xây cất. Việc xây cất bệnh viện này, có 100 phòng miễn phí cho người nghèo là nhờ tiền lời của quỹ xổ số quốc gia và tiền bán số hàng do quan thuế tịch thu 4 năm qua. Bà Thiệu bị cáo buộc đã “chọn lựa bệnh nhân” và “điều khiển các bác sĩ”.

— Buôn bán ma túy: dựa trên cuốn sách của người Mỹ, M.W. Mac Coy, Những chính khách của bạch phiến ở Đông Nam Á, bản cáo trạng chỉ đích danh tướng Đặng Văn Quang, cố vấn đặc biệt của Tổng Thống Thiệu về quốc phòng và an ninh, điều hành việc bán ma túy ra nước ngoài với sự đồng lõa của những hệ thống quốc tế dính với băng Triều Châu của người Hoa ở Chợ Lớn.

— Việc bán gạo ở miền Trung: chính phủ tài trợ việc chuyên chở gạo trong vùng này nhằm ổn định nhu cầu của dân chúng và để giữ giá gạo ở đây không cao hơn giá gạo tại Sài Gòn. Việc tài trợ lên đến 40 triệu đồng mỗi tháng. Công chức của chính phủ mua gạo với giá thấp và bán ra cho bọn buôn lậu ở địa phương để chia với họ tiền lời và tiền trợ cấp… Người khai thác việc chuyên chở là ông Phạm Sanh, giám đốc ngân hàng Nam Việt, và người chịu trách nhiệm phân phối gạo là bà Ngô Thị Huyết, dì của Tổng Thống Thiệu.

Đài phát thanh Hà Nội và báo chí của chính phủ Bắc Việt cũng như sách báo thân cộng được Bắc Việt tài trợ ở Ba Lê và Âu Châu phổ biến rất rộng rãi bản “cáo trạng số 1” này.

Ở miền Nam Việt Nam, song song với hành động của đối lập, cán bộ cộng sản tiến hành phổ biến tràn lan khắp nông thôn dưới hình thức truyền đơn hay các tờ quảng cáo truyền tay.

Chiến dịch đánh phá uy tín này lúc đầu chỉ nhằm vào các thành phố lớn, lần lần lan rộng xuống các tỉnh, là một đòn rất nặng đối với uy tín của Tổng Thống Thiệu vốn vẫn còn được lòng hàng ngũ quân nhân và nông dân.

oOo

Một số sự kiện nêu lên trong bản cáo trạng cần phải được làm sáng tỏ. Một sự giải thích thật rõ ràng và chính xác chỉ đích thân Tổng Thống Thiệu mới cung cấp được. Những sự kiện khác không nêu được đầy đủ hoặc không đúng sự thật.

Thí dụ việc bán gạo mà nhân vật chính chịu trách nhiệm là giám đốc ngân hàng Phạm Sanh đã bị trừng phạt. Ông này bị câu lưu từ tháng Bảy, tài sản bị tịch thu, các trương mục đều bị phong tỏa, và đang chờ ngày ra Tòa.

Vấn đề độc quyền phân bón cũng vậy. Chính phủ đã có phản ứng kịp thời, bằng cách cho lịnh bán hết phân bón và tái phân phối cho nông dân với “giá chánh thức”.

Phía đối lập cho rằng đây là một quyết định đáng khen, nhưng chỉ là một nhát kiếm chém xuống nước mà thôi. Vì những đại lý bán sỉ người Tàu có mặt khắp mọi giai tầng kinh tế trong nước đã thu xếp để mua lại phần lớn số phân bón bán lại đó và đến lượt họ đem về  tích trữ, bảo đảm trước là họ sẽ có một số lời khả quan rồi, vì thị trường hối đoái ngoại tệ cứ tiếp tục đi lên.

Tổng Thống Thiệu phản ứng ra sao? Đối với sự cáo buộc của phe đối lập, trước hết ông đã trả lời bằng một diễn văn dài trên hệ thống truyền hình về tình hình chính trị của đất nước và cuộc chiến đấu cho sự tự do, có đề cập đến “những lời gièm pha” được tung ra về cá nhân ông cho đó chỉ là một chuyện dàn dựng ác ý “của cộng sản và của những kẻ hợp tác và đồng lõa với họ” mà thôi.

Nhưng với những sự kiện nghiêm trọng như việc buôn bán ma túy của tướng Quang, vị cố vấn của ông, và chuyện lươn lẹo về đất đai và lợi tức bất chính được gán cho vợ ông thì ông lại không nói một tiếng nào. Quân đội, dân chúng, người dân ngoài phố đã chờ đợi ở ông một lời bác bỏ những cáo buộc này. Do đó khi ông Thiệu tỏ ra quên hẳn và khinh thường không lý tới những chuyện đó thì ông không thuyết phục được ai hết.

Tay của ông không còn sạch sẽ nữa rồi!“, đó là lời phê bình với vẻ miệt thị của một số sĩ quan trẻ đau khổ và chán chường. Vậy ông Thiệu có thể làm được gì để phục hồi uy tín đang bị lung lay trầm trọng và tháo gỡ những cáo buộc của phe đối lập?

Một hành động gợi nhắc lạ kỳ về những gì đã dẫn đến cuộc đảo chánh tháng 11 năm 1963, và cái chết của Tổng Thống Diệm. Vị nguyên thủ quốc gia người Công giáo này cũng là người chống cộng tích cực. Nhưng dù là một con người rất thanh liêm và yêu nước trung thực, ông vẫn bị tấn công và đánh gục bằng một chiến dịch phỉ báng được tổ chức hết sức nhịp nhàng, có sự hỗ trợ của một phe đối lập tôn giáo, tố cáo sự tham nhũng, lợi dụng quyền thế của anh em ông, của cha mẹ ông và của những người thân cận của ông. Được tiến hành âm thầm bên trong nhưng do bàn tay thiện nghệ của người Mỹ, chiến dịch đó đã đưa Việt Nam vào hỗn loạn và làm cho cuộc chiến lại tái diễn.

Người kế vị ông, Tổng Thống Thiệu, lại bị cáo buộc lạm dụng quyền thế và không làm tròn chức năng, có bị đe dọa về một kết thúc tương tự hay không? Một vài nhà phân tách thường hay liên hệ các diễn biến song song có vẻ sẵn sàng tin như vậy. Dù muốn dù không, tình hình ở miền Nam đang sôi sục.

oOo

Sài Gòn với 4 triệu dân, thủ đô chính trị, hành chánh, kinh tế và quân sự, là nơi thu gọn tất cả các vấn đề của miền Nam Việt Nam với những mâu thuẫn, những mưu mô, sự phong phú và sự nghèo nàn của nó.

Một mặt, đây là một thành phố với những đường phố thênh thang, ngổn ngang đủ loại xe hơi, xe gắn máy, với những công viên đẹp, những công thự luôn được bảo trì rất cẩn thận, với những chợ búa đầy ắp lương thực, với một hải cảng tối tân có đầy đủ trang thiết bị, một sân bay quốc tế và với những đường liên lạc viễn thông tuyệt hảo. Mặt khác, là một vòng đai các lều tôle, lều cây, lều ván và giấy bồi, ở đó chen chúc nhau những người tỵ nạn nghèo khổ, không việc làm, những binh sĩ đào ngũ và hằng ngàn người tàn tật.

Dính liền với thủ đô Sài Gòn là Chợ Lớn, một thành phố của 800.000 người Hoa, những chú con trời đã mọc rễ trong nước từ 3 thế kỷ, được tổ chức để thu lợi, là chủ ngân hàng, là trung gian mậu dịch, buôn bán đủ loại kim khí, gỗ, gạo, tổ chức chuyên chở đường bộ, đường thủy, chuyên đầu cơ tích trữ, cho vay, là nhà tài trợ cho các thú vui và các loại hàng lậu, cho tất cả những gì có thể mua được và tất cả những gì có thể bán được.

Ở giữa tập hợp Việt-Hoa này, có Dinh Độc Lập được binh sĩ Nhảy Dù canh gác cẩn thận, có lưỡng viện Quốc Hội (Thượng Viện và Hạ Viện), Tối Cao Pháp Viện, đài truyền thanh truyền hình và… một số báo chí phong phú.

Trung tâm điểm của tất cả là đường Tự Do (Catinat cũ), với các khách sạn đồ sộ, những tiệm buôn tráng lệ, những tiệm nữ trang sáng chói, những quán rượu và phòng trà để những người chạy áp phe, những luật sư, dân biểu, những người đối lập, những danh kỹ, những mật báo viên và những nhân viên đặc biệt… có nơi hội họp, trò chuyện, bàn mưu tính kế, mua bán đổi chác, trao đổi tin tức hay phao đồn “tin vịt” và những “đường dây tốt”… đến độ có một dạng tin tức song hành, dựa trên những chuyện ngồi lê đôi mách và chuyện dèm pha có chủ ý, nhằm xuyên tạc hay ngược lại với các thông cáo của chính quyền, thường được gọi  với một danh xưng không mấy tốt là “radio Catinat”. Cái “radio” này suốt thời kỳ 8 năm Hoa Kỳ tham chiến thường mớm bài cho hàng trăm ký giả, đã phần nào xuống cấp không còn thích hợp nữa từ ngày ra đi của các thông tín viên ngoại quốc. Bây giờ nó vụt sống trở lại những giờ phút huy hoàng của nó. Phía đối lập, bất ngờ về mức táo bạo và sự tự do trong phát biểu khi tung ra chiến dịch đánh phá Tổng Thống Thiệu, đã chuyển động, phấn khích và tưởng mình sắp đạt được chính quyền bởi đã tố cáo những điểm yếu và những sự lạm quyền của Tổng Thống mà không bị sự trừng phạt nào.

Trong các cuộc họp mật và các vận động ngoài hành lang, phe đối lập đã chọn lựa và đưa lên những lý luận, liên kết với nhau, phân phối các chức vụ trong chính phủ. Các chỉ trích càng ngày càng nhiều. Báo chí phản ảnh “tin tức chính xác” thật khó mà phân tách được đó là giả hay thật: Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi — cháu họ Tổng Thống Thiệu — đang là Tư Lệnh Vùng IV (đồng bằng Cửu Long) là một người bất tài. Bà vợ của Thủ Tướng chính phủ đã mua một lâu đài lớn bên Pháp với giá một triệu quan. Vài ông tướng sẵn sàng giúp phe đối lập với binh sĩ của họ. Các cựu quan chức của cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA từng dính vào cuộc đảo chánh 1963, sẽ quay lại. Nhưng đề tài của cuộc nói chuyện sôi nổi là sự “thất sủng” mới xẩy ra mà người rớt đài sẽ là ông Hoàng Đức Nhã, Tổng Trưởng Thông Tin Chiêu Hồi, người em họ của Tổng Thống Thiệu, được mệnh danh là “ông Tổng Thống nhỏ”.

Ba mươi hai tuổi, cao 1 thước 83, với thể lực của một “tay chơi” [nguyên văn: “playboy“], kỹ sư “Supelec”, “cử nhân” chính trị  học, Hoàng Đức Nhã là một mẫu tiêu biểu cho đẳng cấp mới của giới kỹ thuật trẻ Việt Nam. Là một  thể tháo gia, năng nổ, làm việc không biết mệt, có phương pháp và có đủ tài liệu, nói trôi chảy cả tiếng Pháp và tiếng Anh, ông đã làm thư ký riêng cho Tổng Thống Thiệu 5 năm trước khi được đưa vào chức Bộ Trưởng. Là một kẻ thù cuồng nhiệt của cộng sản, ở cương vị mới, ông đã cố gắng vận dụng mọi phương tiện kỹ thuật sẵn có để bọc ngăn dân chúng và tách họ khỏi gọng kềm tuyên truyền Việt Cộng. Và ông ta đã đạt đúng ý.

Các địch thủ trách ông “bịt miệng” báo chí và vượt khỏi thực quyền của ông ta để can thiệp vào quá nhiều lãnh vực. Nguyễn Minh Đăng, một dân biểu trẻ người Bắc đã dùng diễn đàn tố cáo sự “lạm dụng quyền hành” của ông Nhã, qua việc đặt người “thân cận” vào các trung tâm tin tức được mở ra ở ngoại quốc, và sử dụng công quỹ sai nguyên tắc. Ông Nhã lạnh lùng phản bác lại bằng cách nhấn mạnh rằng tất cả những người mà ông ta “che chở” đều được đào tạo tuyệt hảo có trình độ học vấn đại học và nêu ra những chi tiết chính xác về chi thu để chứng minh chi phí của ông ta còn thấp hơn ngân khoản được ấn định.

Là một người quốc gia đa nghi, ông Nhã cũng là cộng sự viên khó tính và không mấy thích nghi đối với người Mỹ. Trong giai đoạn chót của cuộc thương thuyết tại Ba Lê, ông ta đã đương đầu với tiến sĩ Kissinger, và cùng Tổng Thống Thiệu thảo ra bản quyết nghị nổi tiếng “Bốn Không”. Các tương quan của ông ta với Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ có những khoảng cách. Các cố vấn Hoa Kỳ làm việc tại Sài Gòn than phiền rằng cả nửa năm ông ta từ chối không trả lời điện thoại cho họ. Được các nhà báo Anh hỏi về thái độ đối xử “quá cực đoan” đó, ông Nhã đã trả lời với giọng khó chịu: “Người Mỹ là đồng minh của chúng tôi, tôi rất thích xem họ như những người anh em, nhưng tôi không muốn gọi họ bằng Cha! [nguyên văn: “Papa“]. Ông ta đã đệ đơn xin từ chức. Cùng lúc, 3 thành viên khác của chính phủ đều thanh liêm, có khả năng và được nể trọng là các tổng trưởng Tài Chánh, Kinh Tế và Nông Nghiệp cũng xin từ chức.

Trực diện với nhóm đối lập ngày càng lớn mạnh đang tổ chức chống lại và bài xích nhóm kỹ thuật gia trẻ cương quyết tách khỏi hàng ngũ bộ trưởng, Tổng Thống Thiệu bắt đầu giữ im lặng.

Bị chạm mạnh do sự tố cáo công khai của các đối thủ và “đào tị” của những phần tử ưu tú trong chính phủ, Tổng Thống Thiệu với gương mặt luôn “tươi tỉnh”, khó đoán được ý nghĩ và rất bí mật, không bao giờ hốt hoảng. Là người khôn khéo, lanh trí và đáng sợ, ông kiểm điểm lại các lá bài trước khi có phản ứng. “Ta còn một số con bài chủ”, ông vừa cười vừa trấn an các cộng sự viên thân cận.

Ông lạnh lùng kiểm lại “các lá bài chủ” này. Trước hết là vị thế của Hoa Kỳ. Mặc dầu ông Nixon đã ra đi, và sự chống báng của Quốc Hội Mỹ, thái độ của Tổng Thống Ford vẫn nhiệt tình và tốt bụng.

Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, ông Martin, tỏ ra là một bạn đồng minh vững chắc và cương nghị hơn hẳn người đã giúp ông lên ghế Tổng Thống là ông Bunker.

Về phía VNCH, hệ thống quân giai thiết lập từ giới “chuyên nghiệp”, được lựa chọn cẩn thận, đã nắm chặt quân đội trong tay. Không có nguy cơ về một cuộc đảo chánh. Phe đối lập dựa phần lớn vào các linh mục và các vị dân cử Công giáo, nhưng ít được khối tín đồ đi theo vì họ không thích các tín hữu can dự vào chính trị. Do đó đối lập không mạnh như họ vẫn tưởng. Còn khối Phật tử (85% dân chúng) thì rất dè dặt và không tham gia các cuộc xuống đường.

Sau khi đánh giá kỹ lưỡng về những khả năng tính toán của mình, Tổng Thống Thiệu quyết định chuyển qua “hành động”. Ông bắt đầu nắm chặt quân đội (vì đó là cột trụ chống đỡ chính của chế độ) bằng cách tái phối trí hệ thống chỉ huy và thanh lọc hàng ngũ sĩ quan. Tại Vùng I Chiến Thuật (Huế và Vùng Phi Quân sự), ông duy trì tướng Ngô Quang Trưởng, người đã bẻ gãy cuộc tấn công của cộng sản năm 1972, trong chức vụ Tư Lệnh. Tại Vùng II (Cao Nguyên Trung Phần), ông bổ nhiệm Tư Lệnh là tướng Phạm Văn Phú, người  hùng Việt Nam trong trận Điện Biên Phủ. Tại Vùng III (khu Tam Giác Sắt và khu Mỏ Vịt), ông chỉ định tướng Dư Quốc Đống, cựu Tư Lệnh Binh Chủng Nhảy Dù, một tay chiến đấu gan lì và sừng sỏ của vùng rừng núi, vào chức vụ Tư Lệnh. Vùng IV Chiến Thuật thì ông cho tướng Nguyễn Khoa Nam thay thế tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, người cháu của ông. Tướng Nam cũng thuộc binh chủng Nhảy Dù và là kỹ thuật gia của chiến thuật trực thăng vận. Ba trăm sáu mươi bảy sĩ quan cấp tá xét thấy không đủ khả năng hay tham nhũng được cho về hưu hoặc xoá tên trong danh sách cán bộ.

Sau quân đội là chính trị và dư luận. Dự luật giao toàn quyền hành động cho Tổng Thống Thiệu vừa được thông qua và ban hành. Nhiều biện pháp được Quốc Hội chấp thuận đã mở đường cho các đảng phái hoạt động trở lại. Sự kiểm duyệt đang đè nặng báo chí được tháo gỡ. Một chính phủ mới hình thành. Nhưng sau khi các biện pháp mở rộng vừa ban hành thì Tổng Thống Thiệu lại có thái độ cứng rắn, mời phe đối lập hãy hành động trong tinh thần xây dựng và trong khuôn khổ luật pháp quốc gia, qua Quốc Hội vào dịp bầu cử lập pháp sắp tới, qua các tòa án (bằng đơn tố cáo) và qua báo chí. Chiến dịch trong sạch hóa được tiếp tục, hàng bộ trưởng và công chức cao cấp không tròn nhiệm vụ sẽ bị điều tra và nếu có đủ bằng cớ đúng theo đơn tố cáo sẽ phải được truy tố và xét xử.

Tất cả đều xong hết, ông còn xác nhận là những cuộc biểu tình bị xem như hành động phá rối trật tự công cộng sẽ bị trừng trị nghiêm khắc. Nhiệm vụ của các linh mục không phải để tấn công cảnh sát ngoài đường phố hay lớn tiếng rao giảng bằng loa sự bất phục tùng mà phải chăm sóc cho giáo khu và các nhà thờ của họ. Tương lai chính trị của Việt Nam được bảo đảm bằng máu ngoài chiến trường chớ không nên bàn cãi trên hè phố.

Bị phản đối, vì không có người cầm đầu thực sự, nên phe đối lập thất bại không kéo dân chúng nổi dậy được. Những cuộc biểu tình lớn dự trù và được thông báo trước không thực hiện được. Linh mục Thanh muốn động viên tất cả dân chúng trong cuộc chống phá lớn nhưng cho tới lúc đó chỉ có được vài cuộc quậy phá nhỏ. Cơn khủng khoảng coi như bị bóp nghẹt. Người em ruột của Thủ Tướng, người cầm đầu cơ quan chống buôn lậu, vừa bị bắt giam.

Tổng Thống Thiệu lại có thể tiếp tục lo cho cái mà ông gọi là “những vấn đề của đất nước”. Và trước hết là chuẩn bị cho cuộc bầu cử Tổng Thống dự trù vào năm 1976. Quyết định của ông không thay đổi: ông sẽ ra ứng cử. Bất chấp những phúc trình bi quan dồn dập gởi tới, ông Thiệu vẫn tự tin có khả năng vượt khỏi trở ngại của một nhiệm kỳ thứ ba. Mặc dầu có nhiều nguy hiểm trước mặt, ông vẫn nhất quyết nghĩ rằng ông là “hoa tiêu có đủ điều kiện nhất để lèo lái con thuyền Việt Nam”.

Tháng Hai năm 1975, ông viết cho Tổng Trưởng Tài Chánh: “Viễn ảnh kinh tế cho thấy phần bất lợi đã giảm, Bằng mọi giá ta phải thu hút vốn đầu tư ngoại quốc. Mọi nỗ lực của ông phải được dồn hết vào việc này. Không cần phải quảng cáo. Hồ sơ của chúng ta đã tốt rồi. Thị trường miền Nam đã trên hẳn mức trung bình ở Á Châu. Với dân số 20 triệu mà 9 triệu là nhân công, chúng ta đã hơn hẳn Úc Châu, Hồng Kông, Mã Lai, Tân Gia Ba và Đài Loan. Giá thuê nhân công rẻ là một lợi thế rất quan trọng cho các cuộc đầu tư ngoại quốc. Một số lớn nhân công của ta lại có khả năng nói tiếng Pháp và tiếng Anh. Chúng ta có sẵn 100.000 thợ chuyên môn, 10.000 thợ máy và nhân viên điều hành đã được huấn luyện để coi sóc các dụng cụ máy móc có phần phức tạp là tàu bè và trực thăng nữa. Con số chuyên viên kỹ thuật có giá trị (từ tin học đến máy móc) cần thiết cho kỹ nghệ sẽ rất cao khi cuộc giải ngũ có thể xảy ra. Trang thiết bị cho ngân hàng khá nhiều và nhân viên cũng thành thạo. Đó là những luận cứ mà từ đó ông phải triển khai thêm. Tôi đã viết thư cho Tổng Thống Ford để nói với ông ta rằng một sự viện trợ đúng mức trong 3 năm là quá đủ để bảo đảm nền độc lập của chúng tôi. Chỉ 3 năm thôi, không quá một ngày nào!“.

Vô ý thức? Mộng du chính trị hay lạc quan của lãnh đạo để kích thích các cộng sự viên kém nhiệt thành?

Trên thực tế, sự táo bạo của Tổng Thống Thiệu trong cách tính toán và lòng tin cứng rắn của ông đối với tương lai đều dựa vào một cuộc khám phá huyền diệu ngoài khơi bờ biển miền Nam Việt Nam: dầu lửa.

Phải, đã có dầu lửa ngoài khơi Vũng Tàu và đảo Poulo Pajang. 6 mũi khoan, mũi nào cũng trúng đích!

Như vậy, người dân miền Nam và Tổng Thống  của họ có quyền mơ ước: Sáu giếng dầu mà khai thác từ năm 1977 sẽ đem lại lợi tức một tỷ M kim! Nhưng còn cần phải giữ vững được từ nay cho đến ngày đó. Vả lại 3 năm cũng không lâu lắm.

Nhưng ở đây lại dài vô tận!

Bởi vì để chống lại cơ may phồn thịnh phi thường của miền Nam, Hà Nội chỉ có một mong cầu: chiến tranh.

Một hành động gọi là “trừng trị” đã vang dội khắp nơi: Ngày 6 tháng Giêng 1975, lực lượng cộng sản miền Bắc công khai tiến chiếm tỉnh Phước Long giữa đồng trống, chỉ cách Sài Gòn không hơn 65 cây số về hướng Đông Bắc.

Sự thụ động của Hoa Kỳ sau hành động vi phạm nghiêm trọng Hiệp Định Ba Lê về Ngừng Bắn này được Hà Nội kể như trắc nghiệm rất có lợi cho một cuộc tấn công mới. Lúc đó sự từ khước của Quốc Hội Hoa Kỳ về một ngân khoản 300 triệu mỹ kim viện trợ quân sự cho miền Nam do Tổng Thống Ford yêu cầu, được coi như dấu hiệu chắc chắn Mỹ sẽ không tái can thiệp vào miền Nam Việt Nam nữa.

(Hết Chương 2)

Share this post