Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 22

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 22

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 22
BUỔI LỄ TRAO QUYỀN ĐẦY SÓNG GIÓ

Bớt âu lo và hy vọng, đó là tựa đề được chạy lớn trên trang nhất của tờ báo Anh ngữ Saigon Post trong số báo ra sáng nay — 28-4-1975. Chiều nay, Tổng Thống Trần Văn Hương sẽ trao quyền cho tướng Dương Văn Minh.

Các chuyên viên thảo luận về thành phần tân chính phủ. Họ đưa ra tiểu sử của ba hay bốn nhân vật nổi tiếng nhất để cùng nhau phân tích rất là khoa học.

Luật sư Nguyễn Văn Huyền, vị Phó Tổng Thống vừa được bổ nhiệm sẽ mang đến cho tướng Minh sự kết hợp của khối giáo dân ở miền Nam. Ông Vũ Văn Mẫu, như ông ta từng nói với tôi gần ba tuần lễ nay, hôm nay là Thủ Tướng. Ông ta sẽ đòi hỏi sự ra đi tức khắc của người Mỹ như đã từng xác nhận với tôi chăng? Lý Quí Chung, thủ lãnh của nhóm “tranh đấu trẻ” sẽ là Tổng Trưởng Thông Tin. Giao quyền cho tướng Minh, Tổng Thống mãn nhiệm Trần Văn Hương và các Dân biểu, Nghị sĩ lưỡng viện Quốc Hội hy vọng trước hết sẽ đạt được sự ngưng bắn. Sau khi tránh khỏi sự giao tranh sẽ tiến tới thương thảo để đi đến một thành phần chính phủ “trung lập” gồm có Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam, lực lượng thứ ba và một vài thành phần của chế độ Sài Gòn.

Sự phối hợp quá hấp dẫn này không cần phải xem xét gì nữa. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa đứng vững là nhờ quân đội và viện trợ Mỹ. Nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tự nó đã tan rã rồi, và viện trợ Mỹ cũng không còn nữa.

Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam (GRP: Goverment of Repubic Popular)  ở trong tình thế mập mờ. Họ khẳng định là một chính phủ, tự nhận “đại diện chính thức” cho lực lượng cách mạng của người dân miền Nam trong Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nhưng trên thực tế chỉ là tấm “bình phong” giúp Hà Nội che giấu âm mưu bành trướng đang theo đuổi.

Thành lập năm 1960 qua nghị quyết của Chính Trị Bộ Hà Nội, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (FLN: Front Liberation National) với các du kích mặc quần áo đen và chiến đấu bằng các khẩu súng cũ kỹ, nhưng sau bộ mặt tả tơi thơ mộng đó là cả một thực tế kinh hồn: sự hiện diện của một quân đội chánh quy hùng mạnh với các sư đoàn thiện chiến, hoàn toàn cơ giới hóa, trang bị chiến cụ tấn công hết sức tối tân của miền Bắc. Hà Nội không muốn thấy Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sẽ trở thành một thực thể chính trị có thể yêu sách được dự phần trong chiến thắng quân sự của mình hoặc có thể nhân danh cá biệt địa phương để chống đối một sự thống nhất Việt Nam. Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, 1968, có thể đã vĩnh viễn loại trừ nguy cơ này. Được sử dụng như người dẫn đường và tiền sát viên trong cuộc tấn công vào các đô thị, du kích quân và cán bộ chính trị gốc miền Nam đã bị diệt gần hết.

Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam thành hình năm 1969, trùng hợp với những vận động đầu tiên của Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội để giải quyết vấn đề “cái bàn vuông 4 cạnh” trong thương thuyết. Bắc Việt dự kiến nhu cầu phải có 2 thành phần đại biểu để cân bằng với con số của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa. Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam gồm một số người gốc miền Nam để quảng cáo, không có lực lượng quân sự mà cũng không có cả phương tiện quân sự. Lực lượng duy nhất thúc đẩy cái chính phủ này tiến tới chính là quân đội chánh quy Bắc Việt dưới quyền điều động và chỉ thị của Quân Ủy Trung Ương tại Hà Nội.

“Lực Lượng Thứ Ba” mà chính phủ Pháp nghĩ rằng sẽ có một nhiệm vụ quan trọng trong vấn đề hòa giải giữa hai bên thù địch (cộng sản và chống cộng sản) thì không có một thực trạng chính trị nào cả. Trên thực tế, lực lượng thứ ba chưa bao giờ đạt tới tinh thần tập thể thống nhất giữa các nhân vật đến từ nhiều phía khác biệt luôn chia rẽ và cạnh tranh sâu xa. Người chống ông Thiệu cũng như người chống cộng sản hoàn toàn bất lực trong sự thỏa thuận về tổ chức và hoạch định một chương trình hành động chung.

Trước hết, phải ghi nhận lực lượng thứ ba ở miền Nam Việt Nam khó thể mang nhãn hiệu “trung lập”, và vài tuần lễ trở lại đây, hầu như họ cũng không hề có quan hệ nào với các nhóm trung lập thành lập ở Ba Lê. Một trong những nhóm kỳ cựu và đáng tin cậy nhất là Ủy Ban Tranh Đấu cho miền Nam Hòa Bình và Tiến Bộ mà Chủ Tịch là ông Trần Văn Hữu, cựu Thủ Tướng Việt Nam từ 1950 đến 1953. Hai nhóm khác nhỏ hơn rất thân cận với các tổ chức đấu tranh do tòa đại sứ Hà Nội và đại diện Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam dựng lên rất tích cực từ năm 1973: Đó là Lực Lượng Tự Do cho Việt Nam do đại tá Trần Đình Lan, cựu trưởng Phòng Nhì thời Pháp thúc đẩy, và Lực Lượng Đấu Tranh cho Dân Chủ và Hòa Bình của các cựu Tổng Trưởng Nguyễn Hữu Châu, Hồ Thông Minh. Sự hợp tác giữa các nhóm này trên thực tế chỉ giới hạn trong việc ký tên vào vài bản “thông cáo chung” mỗi năm mà thôi.

Tại Sài Gòn, từ lâu vẫn có ấn tượng “lực lượng thứ ba” chạy theo chùa Ấn Quang, một thành trì đối lập cực đoan với ông Thiệu. Nhưng chùa Ấn Quang cũng chia ra nhiều nhóm nhỏ. Vì thế, khoảng tháng 9 năm 1974, khi Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu thành lập Lực Lượng Hòa Giải Quốc Gia, chỉ có một khuynh hướng thiểu số của hòa thượng Thích Trí Quang, người cầm đầu nhóm Phật tử chống Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963 ủng hộ phong trào này.

Cũng cần nhận định rõ thêm là về phía bà Ngô Bá Thành, chủ tịch Phong Trào Phụ Nữ Việt Nam Đòi Quyền Sống, chỉ có thể huy động một số quần chúng rất hạn chế.

Do vậy, không thể chối cãi là mặc dù lập đi lập lại nhiều lần vị trí của mình, lực lượng thứ ba cũng thiếu hẳn sự kết hợp. Thời kỳ 1973, Tổng Thống Thiệu có lần đã nói rất đúng: “Chỉ có 2 lực lượng, lực lượng của chúng ta và lực lượng của cộng sản“. Hai năm sau đó, chỉ vài ngày nay thôi, lực lượng thứ nhất của ông Thiệu tan dần tháng này qua tháng khác và hầu như sắp sụp đổ. Lực lượng thứ hai là lực lượng cộng sản sắp sửa là lực lượng chiến thắng; Sài Gòn và chính quyền đang ở trong tầm tay của họ.

Các bản thông cáo hay lời tuyên bố tốt đẹp của vài nhân sĩ trí thức dù có thiện chí mà không có binh sĩ, súng đạn sẽ không thay đổi được gì đối với diễn tiến tình hình.

Người dân Sài Gòn trước một thực tế bi thảm, chẳng biết làm gì hơn với những sự phân tách mà họ thấy là quá tầm phơ và quá trễ. Họ chỉ tự hỏi: Cộng sản sẽ tiến chiếm thủ đô bằng võ lực hay đợi thủ đô tự đầu hàng cho đúng hình thức? Họ hy vọng nhưng không tin tưởng về “một sự ngưng bắn có thể xảy ra trong tuần”.

Nhưng những trận đánh khốc liệt vẫn đang xảy ra về hướng Đông thành phố và Sài Gòn không bao lâu nữa sẽ có nguy cơ hứng chịu đạn pháo của loại trọng pháo 130 ly Bắc Việt. Đã có một loạt đụng độ rất nặng ở thị trấn Long Thành (chỉ cách Sài Gòn 32 cây số) ngay nơi mà trường Kỵ Binh Thiết Giáp đóng ở đó.

Các chiến xa đang trực xạ với nhau ở cự ly thật gần. Cách đó 20 cây số về hướng Bắc, trên con lộ Xuân Lộc, điểm chốt Trảng Bom sắp sửa mất. Một trung đoàn Bắc Việt và các toán đặc công cộng sản được chiến xa T.54 yểm trợ đã đánh bọc vị trí phòng thủ để tiến vào Hố Nai, nơi mà các thanh thiếu niên Công giáo từ 13 đến 16 tuổi đã chống cự chỉ với vũ khí hư cũ và lựu đạn.

Hai nhà báo Pháp bị kẹt bẫy giữa cuộc chiến trên đường phố tại đó: Christian Hoche của tờ Le Figaro, và Michel Laurent của hãng thông tấn Gamma, cả hai đều được kể  là bị mất tích.

Christian vừa đến Việt Nam vài ngày trước và tôi chưa bao giờ gặp mặt. Nhưng tôi biết rõ Michel Laurent, chàng trai ốm yếu, mảnh khảnh, kín đáo ít nói, có gương mặt thanh tao với mớ tóc dài uốn quăn không đúng cách làm tăng vẻ yểu điệu của một “con mèo”. Nhưng đừng vì thế mà tưởng lầm! Dưới lửa đạn trên trận địa, Michel luôn bình tĩnh lạ thường trước mọi nguy hiểm. Phóng sự đầu tiên của anh ở Việt Nam vào mùa hè 1972. Tuy mới vào nghề, anh đã được biết đến với giải Pullizer đoạt được khi anh ở Bengla Desh. Những người lão luyện vẫn đang chờ hoạt động của anh rồi mới có ý kiến. Họ không thất vọng lắm! Ngày 23-7-72, lúc sáng sớm, một toán nhiếp ảnh trong số có Michel Laurent và Raymond Thomann đến với đơn vị Dù Việt Nam đang chạm súng ở 5 cây số phía Nam thành phố Quảng Trị, lúc họ đang tiến lên tái chiếm thành phố này. Pháo binh Bắc Việt tập trung hỏa lực 130 ly trên quốc lộ 1, trong khi các đoàn dân tỵ nạn vừa tuôn chạy vừa la hét. Raymond Thomann đứng ở nơi trống trải bình tĩnh quay cảnh này… Đạn pháo đã rơi đến gần. Các nhiếp ảnh viên khác phải phân tán tìm chỗ núp sau những tảng đá lớn. Một trái pháo làm Raymond ngã xuống. Mình anh đầy máu, cườm tay trái bị cắt đứt gần nửa, đùi trái bị nhiều mảnh đạn. Hai nhiếp ảnh viên Mỹ và một nhiếp ảnh viên Úc nằm sát sau những mỏm đá, không nhúc nhích. Đạn bắn quá rát. Cách đó gần 10 thước, Michel Laurent đứng bật dậy, bước qua đường trống trải rất bình tĩnh, thu nhặt các máy ảnh và máy quay của Raymond, rồi xốc nách Raymond dìu đến chỗ núp. Làm việc cứu người xong, vẫn bình tĩnh và thoải mái, anh tìm 2 y tá Việt Nam đến săn sóc sơ khởi cho Raymond để giúp cho khỏi mất quá nhiều máu. Sau khi bạn mình được băng bó cấp thời, Michel trở về phía sau, chận xe một nhà báo da đen thuộc hãng AP vừa chạy đến. Xe này không ngừng, nhưng anh chận được xe Jeep của một trung sĩ Dù, đặt Raymond lên băng sau với tất cả dụng cụ máy móc của anh ta và tin chắc anh sẽ được tản thương bằng trực thăng về Đà Nẵng. Sau đó, anh mới lấy lại dụng cụ thu hình của anh, bình thản trở lại mặt trận, tiếp tục công tác. Hai tháng sau ra khỏi bệnh viện, Raymond Thomann gặp lại Michel Laurent trên quốc lộ dẫn đến An Lộc, luôn thoải mái… giữa tiếng nổ của đạn pháo và rốc kết.

Sáng qua, 27-4-75, ở Hố Nai, cũng như khi ở Quảng Trị, Michel đã băng giữa lửa đạn để tiếp cứu một người bạn khác đang bị thương… và anh mất tích trong đám khói lửa mù của đạn pháo. Mong là vận may ngạo mạn cố hữu của anh đừng bỏ anh…

Tin từ mặt trận không vui lắm. Tân Uyên, một quận lỵ nhỏ cách căn cứ Không Quân Biên Hòa khoảng mười cây số đã bị pháo binh cộng sản biến thành một đống tro. (2000 trái pháo chỉ trong 3 giờ). Biên Hòa đã có lệnh giới nghiêm 24/24. Cỡ 5 cây số về hướng Đông Bắc Sài Gòn, trực thăng đã tiêu diệt bằng rốc-kết và liên thanh một đơn vị nhỏ đặc công đang cố phá một chiếc cầu. Cách đó khoảng 4 cây số về hướng Đông là trung tâm Thành Tuy Hạ, kho đạn chính của quân đội Miền Nam, không xa căn cứ hải vận Cát Lái trên bờ sông Sài Gòn bao nhiêu. Nếu cộng sản làm chủ được khu này, tình hình sẽ không còn hy vọng gì cho quân đội Miền Nam. Nhiều tàu chiến của giang đoàn đã đổ bộ lên đây 3 đại đội Thủy Quân Lục Chiến để họ bám trụ.

9 giờ sáng, tôi đi theo xa lộ Biên Hòa. Một đoàn xe gồm hơn mười chiếc thiết giáp bắn đạn 105 ly, có thiết vận xa M113 chở đầy bộ binh dẫn đầu đang trên đường ra trận tuyến. Cảnh sát dã chiến bố trí liên thanh trong các hố dọc bên đường. Trước cầu sông Đồng Nai, cách 25 cây số về Đông Bắc Sài Gòn, quân đội đã dựng một hàng rào cản. Bên kia hàng rào cản không còn bảo đảm an ninh. Các chiến xa đến vị trí của họ. Một đại úy chận xe tôi lại:

— Ông đi đâu?

— Tôi đi Long Thành.

Vừa nói tôi vừa đưa thẻ báo chí.

Sĩ quan này lắc đầu nói với tôi:

— Ông có thể đi thử. Nhưng, chắc ông không đến được đâu, hoặc nếu ông đến được thì cũng gặp rất nhiều khó khăn để phải trở về. Các chiến xa đang đánh nhau trong vùng. Nhiều đơn vị Sư Đoàn 18 đã rút về Bà Rịa và đã đến tiếp trợ các sĩ quan tập huấn của trường Thiết Giáp đang bị bao vây và bị T.54 bắn. Binh sĩ của chúng tôi di chuyển rất khó khăn vì các đoàn dân chúng tản cư. Pháo binh cộng sản đã bắn hàng chục loạt rốc-kết và đại bác 30 ly vào trại tiếp cư An Lợi, kế cận Long Thành, nơi đang tập trung gần 100 ngàn dân tỵ nạn. Hơn 200 người chết. Tất cả dân tỵ nạn đều bỏ chạy về hướng biển. Nhưng họ không đi xa được vì đường đi Vũng Tàu đã bị cắt đứt. Đoàn xe Hội Hồng Thập Tự Việt Nam rời Sài Gòn từ sáng hôm qua mang theo lương thực cho những người dân khốn khổ trong tuyệt vọng này, đã có nhiều xe bị cháy khi gần đến Long Thành nên họ phải thối lui.

Hai người Pháp thuộc hiệp hội Bác Sĩ Không Biên Giới, một tổ chức thiện nguyện gửi bác sĩ làm việc không thù lao đi khắp nơi nào có trận mạc trên thế giới, đến trình diện ngay rào cản. Họ có giấy thông hành và muốn cố gắng đến bệnh viện mà họ đã làm việc trong trại An Lợi mấy ngày trước. Binh sĩ xem giấy tờ và cho họ đi qua.

Viên sĩ quan trả thẻ báo chí lại cho tôi, nói thêm:

— Trái với tin đồn ở Sài Gòn, căn cứ Biên Hòa vẫn còn. Và các chiến xa của chính phủ đã vào Hố Nai để tiếp tay cho các chiến sĩ trẻ ở đó. Chào ông.

Đến lượt tôi bước qua rào cản.

Quốc lộ gần như vắng tanh. Dân chúng đã cân nhắc kỹ nên tránh xa quốc lộ, băng đồng mà đi. Xa hơn một chút, nhưng tôi hiểu ngay tại sao. Phía bên trái cách lề đường chừng 20 thước có 2 xe vận tải bị vỡ tan vì đạn pháo, đang cháy và bốc lên một mùi khét rất khó chịu của dầu lẫn thịt người. Phía bên phải, một sườn xe nát vụn của chiếc xe ba bánh Lambretta làm tôi nổi da gà: tử thi một đứa trẻ khoảng 10 tuổi treo lủng lẳng phía sau thùng xe, hai tay lòng thòng, đầu bị mảnh đạn cắt đi quá nửa đến cặp mắt. Trong một góc thùng xe phía sau còn hai xác chết, một người đàn bà và một bé gái ôm nhau nằm bất động, ngực và mặt đều bể nát máu me vung vãi. Cách đó 2 thước gần một lỗ được đào hơi cạn dựa nền đường nhựa, còn một mảnh kim khí cong vẹo đánh dấu nơi viên đạn rốc-kết đã nổ và gây ra sự tàn sát bẩn thỉu mù quáng này.

Một sự yên lặng kỳ lạ bao trùm quanh căn cứ Long Bình cũ của người Mỹ. Các làng mạc đầy sức sống vừa mấy ngày trước đây ồn ào náo nhiệt nay đã tản cư hết rồi.

Các lô cốt dọc quốc lộ được sinh viên sĩ quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt trấn giữ. Những sinh viên sĩ quan trẻ từ 18 đến 20 tuổi, sạch sẽ, gọn ghẽ và bóng láng như những chú lính trong tủ kính. Trên ba-lô của họ đặt dưới đất là mũ cát kết truyền thống vàng đỏ của sinh viên võ bị. Một sinh viên sĩ quan nói với tôi bằng một giọng gần như trịnh trọng:

— Chúng tôi sẽ đội mũ sinh viên lên khi thấy mình phải chết!

Thời kỳ 1965-1972, Long Bình là một trong những căn cứ tiếp vận lớn nhất của Hoa Kỳ ở Viễn Đông. Một doanh trại quân sự mênh mông trải dài trên 7.000 mẫu tây đất, gồm hơn 100 trại lính, các sân trực thăng, bệnh viện… nối liền nhau bằng một hệ thống đường sá đẹp như xa lộ. Trên 30.000 lính Mỹ và Lữ Đoàn Không Kỵ số 1 với gần 3000 trực thăng đã đóng tại đây. Một “trung tâm giải trí” gồm một sân khấu ngoài trời (dành cho các màn biểu diễn của các cô gái tóc hồng, tóc hoe của anh hề trứ danh Bob Hope), một hồ bơi lội thế vận, một nhà chơi bowl, nhiều sân quần vợt, 3 sân bắn tên, những câu lạc bộ đánh bạc, các phòng đấm bóp và một nhà hàng Tàu. Bây giờ Long Bình chỉ còn là một cảnh trí rộng lớn đầy cỏ dại với một vài gian nhà rỉ sét, những ụ chiến đấu bằng bao cát và trăm bạn trẻ gan dạ đang sẵn sàng chết với chiếc mũ sinh viên sĩ quan truyền thống trên đầu.

Xa xa là tiếng đạn pháo binh bắn đi từng trái một hòa với tiếng quay đều đều của cánh quạt trực thăng đang bay từng đoàn hai hay ba chiếc trên không.

Đi tới một đỗi nữa, tôi gặp một trung đội Biệt Động Quân, mũ nâu trên đầu, quần áo đầy vết mồ hôi loang lổ, với các khẩu trung liên hay M.16 trên tay. Tiếp theo đó là các đơn vị tiền sát của Sư Đoàn 18 từ Bà Rịa đến. Đơn vị chính của họ đang chạm súng quanh Long Thành, cố phá vỡ vòng vây cộng sản để tiến tới bố trí sát những tường bao che Biên Hòa. Nhưng vòng vây khó mà phá nổi.

Hai cây số kế tiếp thì quốc lộ trở nên đen kịt: một làn sóng người tỵ nạn vĩ đại đang bám theo các toán binh sĩ, ép sát nhau, người thì chống nạng, người khập khiễng chân giả, các bà thì gánh gồng đủ loại vật dụng, trẻ nhỏ 6, 7 tuổi cõng em chúng trên lưng, mấy ông già mù được các em bé gái nắm tay dắt…

Quân đội đang đụng trận hai bên đường, cách đây cỡ 3 cây số, nơi có nhiều cột khói đen dày đặc bốc cao.

Khi đi vòng theo con đường mòn dẫn tới một vị trí phòng thủ hơi cao do 2 chiến xa, một đại đội thuộc Sư Đoàn 18 trấn đóng với vài khẩu pháo 105 ly, tôi mới khám phá ra tầm rộng lớn kinh khủng của đoàn người. Trải dài ba hay bốn cây số trên đường là một dòng người nhấp nhô như một dòng sông vĩ đại chảy về Long Bình và Biên Hòa. Cả trăm ngàn con người cùng một tâm trạng hoảng hốt trong ngơ ngác, cùng một nỗi lo sợ và một quyết tâm phải chạy trốn… đang im lặng tiến từng bước, không một lời nói, không một tiếng kêu la, một sự yên lặng hoàn toàn cực kỳ kinh ngạc!

Tất cả đều chạy từ trại tiếp cư An Lợi, cộng thêm một số lớn dân Long Thành. Một sĩ quan đang dùng ống nhòm quan sát đoàn người di chuyển, nhận xét. Hai vị bác sĩ mong đến An Lợi đã hiểu họ không bao giờ thấy được bệnh viện của họ nữa nên quay trở lại. Làm sao đủ can đảm tìm lại chiếc xe và đi ngược về phía An Lợi, xuyên qua khối người khốn khổ đi bộ này mà không thể giúp được gì để làm vơi nỗi khổ đau của họ?

Viên sĩ quan mang ống nhòm quay lại tôi và nói:

— Ông biết tại sao họ phải đi như vậy không? Họ phải đi chung từng nhóm cả gia đình vì cả cha mẹ lẫn con cái đều biết chỉ một chút lơ đễnh thôi là họ có thể bị xa rời nhau vĩnh viễn, không còn nhìn thấy nhau nữa, không bao giờ còn được gặp lại nhau. Nhờ thế mới có động lực kết chặt họ với nhau một cách xúc động như vậy.

Để trở lại Biên Hòa, phải vạch lấy đường đi và chạy thật chậm, đòn cản xe luôn dính sát với người đi bộ nên phải thật tỉnh táo để khỏi cán lên họ. Đoàn người giạt ra từ từ. Không một hành động hay cử chỉ nào tỏ ra chống đối, tuyệt nhiên không một lời trách móc. Tôi thì không biết làm cách nào “bay” ra khỏi đoàn người dày đặc này…

Đến đoạn giữa Biên Hòa và Sài Gòn, dòng người tản cư tự cắt thành nhiều đoàn đi vào hàng chục trại tiếp cư được cấp tốc dựng lên từ nhiều ngày trước. Những người có trách nhiệm của Hội Hồng Thập Tự ở miền Nam Việt Nam đang cố bảo đảm sự tiếp tế cũng như sự tạm trú cho cả đoàn người khổng lồ đang chạy loạn này. Nhưng người quá đông và số trại dựng lên hối hả không đủ chỗ chứa. Và những người tội nghiệp này đành phải nằm vật xuống đất và không còn muốn đi đâu nữa. Vài bác sĩ, các hướng đạo sinh Phật giáo, Công giáo phân phát cho họ đường, sữa hộp và những túi cơm nhỏ. Đủ cho họ sống trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Một linh mục đến nói với họ là họ sẽ được đưa về tạm cư ở miền Đồng Bằng Cửu Long bằng xe vận tải hay xe buýt.

Trên đường cũ đi Biên Hòa, thường vắng xe từ khi có xa lộ, dân chạy loạn cố giữ bên phải nhường đường cho xe quân sự chở đầy đạn dược. Tuy nhiên người rất đông, hàng chục ngàn đi từng hàng dài với đủ mọi loại phương tiện. Xe bò của nông dân có bò kéo, xe ba bánh đầy ắp đến độ sàn xe muốn đụng mặt đường, xe đạp thồ chở nặng còn hơn lừa. Người đi bộ mang theo tài sản duy nhất còn lại: một con gà trống nhốt trong giỏ tre, một chú heo con trong một thùng mủ nhỏ đầy cơm. Ba cô tu sĩ đèo chung trên một chiếc mô-tô đang qua mặt mọi người. Không ai chú ý đến một thân người rách nát lưng đang lê lết bên đường. Khi đám đông tràn qua đường dành cho quân xa đang ra tiền tuyến, binh sĩ bắn chỉ thiên để họ tránh ra hai bên.

Trong Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, một nghĩa trang lớn nhất ở miền Nam, hàng chục hố vừa được đào quanh một ngôi mộ còn dang dở. Hơn hai chục quan tài có phủ cờ đặt dài gần văn phòng nghĩa trang, mỗi chiếc đều ghi tên tuổi, ngày tháng, địa điểm hy sinh.

Hầu hết các binh sĩ này tử thương vào mấy ngày gần đây ở quanh thành phố. Người ta đang chôn một thiếu tá Dù. Trong số vài người dân đứng quanh đội kèn quân sự và tiểu đội lính mũ đỏ, có một bà vợ trẻ, nghiêm trang, rất đẹp, mặc áo tang trắng, đang khóc trong lặng lẽ. Một bé gái khoảng 10 tuổi ôm sát mẹ như con chim đang sợ sệt.

Biên Hòa còn sống động cách đây 2 ngày mặc dù phi trường bị pháo kích, giờ đây là một thành phố chết. Phần lớn dân chúng đã di tản, các cánh cửa sắt tiệm buôn đều đóng lại và khóa cẩn thận. Tại bệnh viện dân y, trên 50 người bị thương vì rốc-kết được mang đến sáng nay, nằm chật các hành lang. Chỉ có một bác sĩ giải phẫu và một bác sĩ gây mê còn làm việc. Bác sĩ trưởng đã biến mất.

Căn cứ không quân còn hàng chục phi cơ đang nằm trên sân bay. Phi công đang ráp thêm bình xăng phụ. Chắc để cho đủ xăng bay đến Thái Lan hay bay ra Hạm Đội VII trước khi quân cộng sản đến.

oOo

Mãi 3 giờ chiều thì tôi mới về đến Sài Gòn.

Và 4 giờ rưỡi thì tôi quyết định đi một vòng quanh chợ Sài Gòn. Dọc theo các hành lang trong chợ, những con buôn nhỏ và chủ sạp nói chuyện như bắp rang sau khay hàng hay ngay trước sạp hàng của họ. Nhiều bà ngồi xổm dưới đất bày hàng ra cả trên đường đi, mời mọc đủ mọi thứ, từ những chiếc đèn bấm, đồng hồ reo, kem cạo râu, rượu tây, thuốc lá và các cơ phận thay thế của xe hơi. Tại các quầy bán vải cũng còn vài bà mặc áo dài màu đang chọn hàng tơ lụa và trả giá với mấy ông Ấn Độ… Các quán rượu nhỏ và nhà hàng vẫn đông nghẹt khách ngồi bàn, ăn uống trước những ly bia lạnh hay những tô phở nóng đang bốc hơi nghi ngút.

Tất cả đều chờ đợi tới 5 giờ chiều và xì xào nho nhỏ. Giờ đó, Tổng Thống Trần Văn Hương sẽ từ chức, chuyển giao quyền hành cho tướng Dương Văn Minh. Buổi lễ sẽ được trực tiếp truyền thanh và bình luận qua đài phát thanh Sài Gòn.

Tôi ngồi trong một phòng sơn màu xanh lá cây ở tiệm cà phê Thanh Bạch, gần rạp hát. Đứng sau quầy tính tiền, người chủ tiệm đang điều chỉnh tần số và chiếc máy thâu băng Akai. Đúng 17 giờ, quốc thiều Việt Nam Cộng Hòa được trỗi lên. Khách khứa đều im lặng nghe bình luận gia giải thích:

— Trong phòng tiếp tân rộng lớn của Dinh Độc Lập, trước bức hình của các vua Hùng, Tổng Thống Trần Văn Hương bước chậm chậm đến bàn vuông hình chữ nhật có khắc phù hiệu của ông: hai con rồng vàng nằm trong một vòng tròn đỏ. Ông bước lên bục và hướng về cử tọa, trên hai trăm người đại diện cho lưỡng viện Quốc Hội, một vài tướng lãnh, và một số đông nhà báo Việt Nam cũng như ngoại quốc.

Với giọng nói khàn khàn mà ông cố gắng tự chế, vị Tổng Thống già nua cất lời:

Một trang sử đã lật qua. Một trang mới sẽ được Đại tướng Dương Văn Minh viết tiếp. Chúng tôi không nghĩ rằng phải đổ thêm máu và phải đánh nhau đến viên đạn cuối cùng và đến người lính cuối cùng, thưa Đại tướng. Đây là một trọng trách rất lớn được giao phó cho ông. Chẳng những ông cần phải có thiện chí, mà cần phải có can đảm nữa! Khi từ bỏ giải pháp quân sự, chúng tôi đã chọn con đường của hòa giải, của hòa hợp, và cuối cùng, của hòa bình…

Cựu Tổng Thống Hương bước xuống bục. Một vị trưởng tòa bước đến gỡ phù hiệu của ông và gắn lên đó phù hiệu của Đại tướng Dương Văn Minh: một bông mai, loại hoa biểu tượng cho ngày Tết (năm mới), dấu hiệu của sự đổi mới.

Tướng Minh, vị tân Tổng Thống của nền Cộng Hòa, đến đứng sau bàn vuông hình chữ nhật, quay sang vị Tổng Thống tiền nhiệm, cung kính cúi đầu chào và nói “Thưa Thầy!” (Ông Hương từng là giáo sư của ông Minh ở trung học) rồi khởi đọc bài diễn văn:

Nhận điều khiển Đất Nước trong hoàn cảnh hiện tại, không có gì vui hết. Chính phủ mà tôi đã được ủy thác phải thành lập sẽ là một Chính Phủ Hòa Giải Quốc Gia, và tôi tin chắc rằng chính phủ đó sẽ có thể thương nghị trở lại với Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam.

Chính phủ bảo đảm sẽ tôn trọng những Tự Do Dân Chủ và sẽ thả hết những người bị giữ vì lý do chính trị dưới chế độ cũ.

Thưa đồng bào thân mến, những ngày sắp tới đây sẽ rất khó khăn. Chúng ta sẽ phải can đảm cùng nhau đương đầu…

Tôi thoáng nhận thấy giọng nói không được bình tĩnh, sự diễn đạt không chắc chắn. Ông Minh đảo lộn chữ này qua chữ khác và phải đọc lại. Ông chưa bao giờ là một diễn giả tốt. Quay sang binh sĩ, ông tìm lại được phần nào giọng nói của một vị chỉ huy:

— Các bạn phải giữ chặt phần đất còn lại, bảo vệ hòa bình và giữ một tinh thần cao. Khi lệnh ngừng bắn được thi hành, các bạn phải triệt để tôn trọng. Trong những vùng kiểm soát của mình, các bạn phải bảo vệ an ninh và tài sản của dân chúng, không được đào ngũ, không được bỏ súng và trong bất cứ mọi trường hợp, phải nghiêm chỉnh tuân hành lệnh ban ra, mọi hành động vô kỷ luật sẽ bị trừng trị ngay tức khắc.

Ngỏ lời kêu gọi phía Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam, tướng Minh tuyên bố:

Các anh em ở phía bên kia, tôi thật sự muốn có một sự hòa giải, và các anh em cũng biết điều đó. Tôi muốn rằng mọi tầng lớp dân chúng phải tôn trọng quyền sống của nhau. Đó cũng là tinh thần của Hiệp Định Ba Lê. Các anh đã từng kêu gọi tôn trọng Hiệp Định này và chúng tôi cũng kêu gọi như vậy. Do đó chúng ta phải ngồi lại với nhau chung một bàn để tìm giải pháp có ích lợi nhất cho đất nước và cho dân tộc. Để chấm dứt nhanh chóng sự khốn khổ của dân chúng và của binh sĩ chúng ta, tôi hy vọng là các anh chấp thuận đề nghị này và những cuộc thương thuyết sẽ có thể bắt đầu ngay sau khi Chính phủ được thành lập.

Buổi truyền thanh chấm dứt. Một chương trình khác được tiếp nối sau bài phát biểu của Tổng Thống. Sau lưng tôi, một ông cụ nhỏ con có râu rìa tuôn ra một câu chua chát: “Ông Tổng Thống của chúng ta có vẻ tốt đấy, với bông mai của ông, trong khi các chiến xa của tướng Giáp chỉ còn cách Dinh của ông có 20 cây số!. Ông khách già có cái nhìn thật sắc bén, không thiếu chút hài hước hay sáng suốt nào. Tổng Thống Hương nắm quyền không quá 8 ngày, và lúc các chiến xa cộng sản tương đối còn ở xa…

Tôi trả tiền, bước ra khỏi tiệm cà phê.

Trời đang vần vũ mây đen…

oOo

Hai tiếng đồng hồ nữa, tôi sẽ rời Sài Gòn trên chuyến bay chót của hãng Hàng Không Trung Quốc. Điện báo quốc tế của Bưu Điện đầy nghẹt các liên lạc điện báo chánh thức cũng như tư nhân nên các công điện tôi gởi về nhà báo của mình quá trễ. Tôi sẽ ghé lại Bangkok 48 tiếng để dùng điện thoại trao thẳng vài bài và tôi sẽ trở lại…

Thình lình một tiếng nổ kinh hoàng rung rinh cả thành phố. Trong vài giây, đám đông quanh tôi sững sờ kinh ngạc. Xe đang chạy đột nhiên thắng gấp, ngừng lại tại chỗ. Tiếp theo nhiều tiếng nổ khác mạnh hơn, và ngay sau đó súng liên thanh, đại bác phòng không lên tiếng. Đám đông hoảng hốt chạy tứ tán thành nhiều nhóm nhỏ, chạy qua chạy lại khắp tứ hướng, đụng đầu nhau. Các xe bắt đầu mở máy chạy lại và chạy nhanh. Nhiều người chạy xe gắn máy xe bị hất tung lên rồi ngã xuống vỡ sọ.

Tiếng súng, cả tiếng tiểu liên thanh được nghe khắp nơi. Cảnh sát và binh lính thi nhau bắn chỉ thiên. Các bà la hét, chạy đến gõ cửa bất cứ nhà nào để xin vào ẩn. Một số trẻ em bị lạc giữa rừng người đang chạy, đứng khóc la run rẩy. Một cơn hoảng hốt hoàn toàn, hay đúng hơn là một cơn cuồng loạn. Tài xế bỏ xe giữa đám đông. Một tài xế xe vận tải bị một loạt súng làm vỡ kính xe, quýnh quáng nhảy vội khỏi xe và xe không người lái cứ thế tiếp tục lăn bánh, leo lên lề, phá tan cửa một tiệm bán đồng hồ và tuôn vào phá sập luôn cửa tiệm.

Các tàu chiến từ sông Sài Gòn bắn đại bác 30 ly lên trời, vào những mục tiêu vô hình. Ngay trên kinh đào, một chiếc C.130 chở dân tỵ nạn bị nhiều đạn lửa bắn lên khiến phi công phải hạ thấp cao độ để tránh đạn, bay sát kho cảng Sài Gòn gần như có thể đụng gẫy cột buồm của mấy chiếc tàu hàng, rồi lấy cao độ lại, bay về hướng Nam.

Các tiệm café trên đường Tự Do lật đật đóng cửa, còn khách thì nằm bẹp xuống gầm bàn.

Phía trước Quốc Hội, rất bình tĩnh, một anh bạn to con, chĩa máy đứng quay cảnh dân chúng chạy tán loạn tìm nơi trú ẩn. Hai anh lính bắn nhiều loạt M.16 lên khắp bốn phía, ngang tầm người, làm một bà trúng ngay ngực ngã ngồi xuống, lưng đầy máu.

Cách đó một đỗi, trong hẻm cạnh rạp Eden, có người xác nhận mấy đặc công Việt Cộng lợi dụng chuyện bom nổ tấn công Dinh Độc Lập và Bộ Quốc Phòng. Người khác lại nói khác cho là nhóm của tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh. Quanh Nhà thờ Đức Bà, các pháo đội phòng không vốn có nhiệm vụ phòng thủ Dinh Độc Lập gần đó, đã nã đại bác bắn hết lên trời. Đại lộ có quá nhiều xe xích lô máy nằm chỏng gọng la liệt. Tài xế bỏ xe chạy hết vào nằm ở vườn cây lớn bên đường. Nhiều quân xa trí súng liên thanh 50 và đại bác 20 ly cặp đôi, đến bố trí trên đường Thống Nhất, cũng bắt đầu tác xạ. Tiếng nổ inh ỏi khắp nơi nghe rợn cả người! Hơi khét của thuốc súng ngửi đến tận cổ, và các vỏ đạn đồng nóng bỏng rơi đầy đường.

Chừng 15 phút sau, tự nhiên các vũ khí nặng ngưng hẳn. Chỉ còn tiếng súng cá nhân, nhưng cũng thưa dần. Trước câu lạc bộ thể thao cũ, một ông cảnh sát già rất bình thản cho tôi biết với giọng đều đều: “Máy bay cộng sản dội bom Tân Sơn Nhất và nghe như đã có thiệt hại”.

Tôi chạy về đường Pasteur nhặt hết giấy tờ và hành lý du lịch, xong gọi một xe tắc xi đang chạy rong. Với giá 10 ngàn đồng (coi như đắt gắp 10 lần), anh ta chấp nhận đưa tôi lên phi trường Tân Sơn Nhất. Mưa bão bây giờ mới bắt đầu: Mưa như trút và rất nặng hạt. Chúng tôi chạy trong cơn mưa dày đặc và đường sá gần như vắng tanh. Hơn 7 giờ mới tới trạm kiểm soát vào phi trường. Quân cảnh và cảnh sát dã chiến xem giấy tờ rất kỹ, súng vẫn cầm tay. Mười phút sau, tôi mới được cho vào phi trường.

Cơn mưa dứt hột thình lình. Vẫn có nhiều cột khói đen bay lên từ sân bay đang còn nhiều tiếng nổ nhỏ. Tiếng còi của đội chữa lửa thuộc Không Quân vẫn hụ inh ỏi. Tất cả phóng pháo cơ đều bay lên hết. Các quân xa chở đầy binh sĩ từ khắp nơi đang đổ vào phi trường. Tất cả cửa sổ phi cảng đều bị thổi tung, trên mặt đất còn vương vãi các mảnh kiếng vụn.

Một sĩ quan an ninh cho tôi vài tin chính xác: 3 phản lực A.37 bị cộng sản lấy được ở miền Trung đã dội chừng 20 quả bom 500 cân Anh xuống căn cứ Không Quân và đã bay rất thấp. Toán trực hoàn toàn bị bất ngờ vì mấy chiếc A.37 này vẫn mang cờ Việt Nam Cộng Hòa và hình như đã đến đây từ căn cứ Biên Hòa. Thiệt hại cũng khá nặng: Một kho đạn lớn, 11 phi cơ (trong đó có 3 chiếc F.5), và 4 trực thăng bị phá hủy. Trên 60 người tử thương và mấy trăm bị thương. Tất cả phi vụ đều phải hủy bỏ. Chính phủ của tướng Minh vừa cho lệnh thiết quân luật 24/24 cho đến khi có lệnh mới. Thế mà một chiếc phi cơ thuộc Hàng Không Việt Nam lại cất cánh được với hơn 100 hành khách.

Dù sao tôi cũng không thể trở xuống thành phố. Tôi đi đến một hầm trú ẩn làm bằng bao cát. Trên đường đi tôi gặp nhiều toán khiêng cáng đang làm công tác tản thương.

Tôi qua đêm trong hầm trú ẩn này. Đạn rốc-kết rơi vào phi trường không dứt. Vẫn có những tiếng rít xé gió và những tiếng nổ choáng tai, và sau đó là các trái pháo 130 ly. Cứ mỗi lần đạn pháo rơi trúng một phi cơ nào đó lại có một vừng sáng lóe lên xé tan màn đêm mưa gió và một cột khói đen bốc lên cao.

Lúc 23 giờ, một tiếng nổ lớn làm rung cả hầm trú ẩn của tôi. Cách đó chừng 50 thước, một trực thăng vận tải Chinook chở đầy binh sĩ bị cháy và đang rơi xuống đất. Rất nhiều mảnh kim khí đỏ như lửa bắn tung tóe khắp phi đạo và thây người vừa bị cháy vừa bị bắn tung khắp một vùng khét lẹt mùi xăng dầu và thịt người bị cháy. Từ xa, về hướng Đông, đạn pháo vẫn nã vào Biên Hòa không dứt và đã biến vùng bị pháo kích thành một biển lửa vàng hực.

Tôi biết những ngọn lửa trong đêm tối đó đã hủy hoại cả một thị trấn, những ngôi nhà sẽ sụp đổ sau nhiều loạt đạn pháo nối tiếp của cộng sản nghiền nát nhiều gia đình mà tôi quen. Tôi nghĩ tới các bạn thân của tôi, nghĩ tới Trinh, người thợ máy với hai bàn tay sù sì lúc nào cũng đầy dầu mỡ cặm cụi làm việc trong chiếc ga-ra lợp tôn của anh. Tôi nghĩ đến Cha Alain, một người Pháp già đã 83 tuổi mà không bao giờ muốn đóng cửa nhà hàng của ông. Tôi nghĩ tới Giang, nhà điêu khắc luôn loay hoay với các tượng Phật trong căn xưởng dựng lên bằng giấy bồi và vài tấm tôn. Tôi nghĩ tới những tự vệ Công giáo trẻ của Hố Nai, những thiếu niên 15, 16 tuổi chỉ với một khăn choàng cổ và hai quả lựu đạn vẫn đương đầu với các chiến xa cộng sản! Cùng lúc đó, dưới ánh sáng ở thánh đường, cha mẹ chúng quỳ gối cầu xin Chúa ban cho chúng đầy đủ can đảm để  không chùn bước trước cái chết…

Ngày mai này, các bạn tôi và những em bé kia chắc chỉ còn là những xác chết không mồ mả, bỏ mặc làm mồi cho chuột bọ và lũ chó hoang giữa dấu tích điêu tàn của một thị trấn câm lặng và tang tóc…

Trời rạng sáng thì tiếng súng chấm dứt và tôi trở lại phi cảng. Ba xác phi cơ vận tải cong queo và cháy đen nằm giữa bãi đậu. Hai trung đội Dù đang đi qua phi đạo, Vẫn đội mũ nồi đỏ, quân phục chỉnh tề, súng ống sạch bóng, ánh mắt lạnh lùng, họ bước chậm rãi, nhẹ nhàng, dửng dưng trước mọi chuyện xung quanh.

9 giờ sáng, tôi gặp được một người bạn, đại tá Lập. Anh chỉ huy một không đoàn phi cơ săn giặc và vừa đáp xuống sau một phi vụ. Anh có vẻ mệt mỏi với bộ đồ bay dính vết máu. Anh nói bằng giọng uể oải:

— Tất cả rồi sẽ sụp đổ, từng giờ thôi. Căn cứ Không Quân Biên Hòa bị 600 trái pháo 130 ly đã hoàn toàn hư hại và đang bị cô lập. Sư Đoàn 18 của thiếu tướng Đảo vẫn còn đánh với bọn chúng và đang bám trận địa. Nhưng sư đoàn thiệt hại quá nặng và gần 2000 binh sĩ coi như phải thức trắng suốt 5 ngày nay. Sư Đoàn 5 thì bể rồi và coi như tan hàng. Thủy Quân Lục Chiến đang đụng nặng trên đường phố Vũng Tàu, nhưng thiếu đạn và không có pháo binh yểm trợ. Bốn  sư đoàn cộng sản Bắc Việt có chiến xa T.54 mở đường, có hàng trăm khẩu pháo yểm trợ đã tiến đến gần Sài Gòn rồi. Đơn vị tiền sát của họ gồm toàn đặc công đang lùa cả chục ngàn dân tỵ nạn đi trước coi như làm khiên đỡ đạn cho họ. Họ đã đến Tân Cảng, cách trung tâm thành phố không đầy 3 cây số. Các toán nhỏ Dù đã phản công và có nơi đang cận chiến, xáp lá cà.

Trả lời câu hỏi của tôi về các phi cơ cộng sản từ đâu bay đến bỏ bom ở đây, anh lắc đầu chán nản:

— Họ cất cánh từ phi trường Phan Rang, và tôi gần như chắc chắn rằng họ toàn là các bạn cũ, bực tức nhất thời vì sự tan vỡ của chúng tôi nên đã theo cộng sản. Họ biết rất rõ các hành lang bay và tỏ ra là chủ thật sự phi cơ của mình, chớ không phải phi công Bắc Việt. Tôi tự hỏi, ông Minh đó, ông ta đang tìm cái gì đây? Chiều hôm qua, ngay sau khi cuộc bỏ bom ở đây chấm dứt, ông ta đòi Hoa Kỳ phải đóng cửa ngay tòa đại sứ, và tất cả tùy viên quân sự Mỹ phải ra đi tức khắc không được chậm trễ. Gì chớ chuyện đó thì Hoa Thịnh Đốn mừng quá: họ chỉ chờ bấy nhiêu thôi, họ sẽ nhận gấp. Và tôi nghĩ cuộc di tản những người Mỹ cuối cùng sẽ tiến hành chỉ vài giờ sắp tới. Cũng vì thế mà từ sáng sớm pháo binh Bắc Việt không bắn vào đây nữa để cho cuộc hành quân di tản này được tiến hành dễ dàng, nhanh chóng. Tất cả hành động của cộng sản chỉ nhằm tạo ra một tình trạng hoảng loạn để có một kết thúc nhanh chóng. Ông Minh đã cúi đầu tự chui vào tròng, và sự ra đi của tất cả người Mỹ chắc chắn sẽ tạo ra một tình trạng hốt hoảng khủng khiếp.

Đại tá Lập ngưng một chút rồi đặt tay lên vai tôi và nói với tôi bằng một giọng chối tai nhưng đầy tình bạn:

— Một phi cơ của công ty Đài Loan, đậu ở đây 2 ngày nay, sẽ cất cánh trong vòng 30 phút nữa mang theo trên 100 hành khách đến Bangkok. Tôi biết anh bạn phi công này, anh ta sẽ cho anh đi, Pierre, anh đi đi, đi ngay khỏi nơi đây. Đi ngay đi, trước khi bọn “chó chết”  kia vào thành phố…

oOo

Tánh tò mò nghề nghiệp không mạnh bằng nỗi buồn đang siết chặt tim tôi.

Sài Gòn là thành phố của tôi.

Tôi đã được sinh ra ở đây. Tôi không muốn và cũng không thể chứng kiến cảnh “bộ đội” miền Bắc vào đây, vào cái thành phố mà tôi biết từng ngõ ngách. Tôi không muốn thấy những người có hạnh phúc cùng thời thơ ấu với tôi sẽ biến mất dưới bộ mặt nạ bằng chì mà họ phải chịu mang suốt đời. Tôi cảm thấy không còn hơi sức…

Sáng Thứ Ba đó [29-4-1975], lúc 11 giờ, lẫn lộn giữa hàng trăm người Á Đông âu lo và hối hả ra đi trong khẩn cấp, tôi rời khỏi Tân Sơn Nhứt, phi cảng của Sài Gòn. Chiếc phi cơ Đài Loan đi Bangkok, cất cánh rất bạo, phóng thẳng ra biển, đi về hướng Tây Nam. Phía dưới chúng tôi là thành phố rộng mênh mông với nét đẹp lộng lẫy, có con sông uốn khúc bao quanh… một thành phố đã bị những tràng tiếng nổ và khói bao vây ở xung quanh rồi.

Một người Hoa ngồi bên tôi, kỹ sư điện toán, nói với tôi là chỉ trong vài giờ nữa thôi, trung tâm hệ thống viễn thông đầy mìn, sẽ “được điều khiển” cho nổ tung. Tất cả thông tin với bên ngoài sẽ bị cắt đứt và Sài Gòn hoàn toàn cô lập với thế giới, sẽ rơi vào câm lặng.

Tôi thấy cổ họng như bị se thắt lại, tuyệt vọng. Bây giờ tôi mới biết tôi sẽ không bao giờ còn trở lại đất nước này, đất nước mà tôi rất yêu thương.

Một dân tộc khốn khổ bị dày vò, bị bóp họng, bị tàn phá chỉ vì bị xô vào cái bẫy của một tấn tuồng chính trị bi hài ngu xuẩn và khủng khiếp mà chính họ cũng không hề hiểu gì cả… Xin vĩnh biệt tất cả, vĩnh biệt những anh em đã từng chia xẻ với tôi hạnh phúc cũng như đau khổ trong nhiều năm dài… Các sư đoàn sắt từ miền Bắc vào đây sẽ mặc tình ban ơn trả oán. Người Mỹ bị xua đuổi sẽ đáp xuống những hàng không mẫu hạm của Hạm Đội VII, một hạm đội bất lực và vô ích vẫn đang tuần tra ngoài khơi Việt Nam mấy tuần lễ nay.

Còn người dân Việt Nam, có thể họ sẽ biết là cơn ác mộng vô nghĩa và khủng khiếp của họ đã qua rồi. Chọn lựa mà họ được dành cho chỉ đơn giản là một điều không thể  lay chuyển: đầu hàng để được sống hay chống cự và sẽ chết. Chỉ vài giờ nữa, họ sẽ gánh chịu luật lệ khắt khe của kẻ chiến thắng.

Chú Sam đã biến mất một cách thảm hại với các khẩu hiệu lỗi thời. Chủ thuyết “đô-mi-nô” đã qua.

Con cháu Bác Hồ sẽ đến, với tư cách kẻ chiến thắng, mang theo các khẩu hiệu khác và một chủ thuyết khác để buộc họ phải đọc thuộc lòng. Phải thay đổi lối sống, thay đổi màu cờ, phải tự phê bình. Phải hoan nghinh trật tự mới, phải vâng lời các cán bộ hom hem bí hiểm với quân phục màu xanh lục được đào luyện ở học viện bưng biền và nghèo đói khắc nghiệt.

Đáng thương cho những người bại trận!

(Hết Chương 22)

Share this post