Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 23

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 23

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 23
CÁI CHẾT CỦA MỘT THÀNH PHỐ

Sài Gòn bắt đầu hấp hối từ buổi chiều Thứ Hai 28 tháng 4 với cuộc nổ súng như đùa giỡn tiếp sau bài diễn văn của vị tân nguyên thủ quốc gia… Khi những trái bom đầu tiên rơi xuống Tân Sơn Nhứt và các loại súng bắn loạn xạ khắp nơi trong một thành phố sắp bùng lên một cơn bão, dân chúng chưa hề nhận một lời giải thích nào nên hốt hoảng nằm sấp xuống các rãnh bên lề đường hoặc chạy vào nấp bên các cửa phố. Nhưng dân chúng cũng biết là chiến cuộc – vẫn tránh xa thủ đô từ 30 năm giặc giã– nay đã đến đây rồi… và không bao lâu, có thể trong vài ngày hay chỉ vài giờ nữa, bàn tay sắt máu sẽ giáng xuống Sài Gòn để bắt thành phố này phải tùng phục họ.

Hai giờ sau cuộc nổ súng, đài phát thanh Sài Gòn vẫn chưa đưa ra lời giải thích nào rõ ràng cho dân chúng đang hấp tấp trở về nhà khi nghe có lệnh thiết quân luật 24/24. Do đó, trong cơn bão của một buổi hoàng hôn đầy sấm sét, người dân Sài Gòn bắt đài Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Đài cộng sản không hề nói đến hòa bình! Toàn là những đòi hỏi và hăm dọa được nhắc đi nhắc lại ngang tàng như kiểu cối xay ghiền bột với những luận điệu cũ mèm vẫn dùng để lên án cựu Tổng Thống Thiệu: “Chính quyền Sài Gòn dù mang nhãn hiệu nào cũng phải biến mất…. Bộ máy chiến tranh Mỹ Ngụy không thể tồn tại… Chiến cuộc chỉ chấm dứt khi nào tất cả quân đội Sài Gòn buông súng hết và tất cả chiến hạm Hoa Kỳ rời khỏi lãnh hải miền Nam Việt Nam. Binh sĩ nào còn nghe lệnh chỉ huy của Mỹ Ngụy sẽ bị trừng trị đích đáng để làm gương…

Cùng giờ này tại Paris (giờ địa phương), các “trung tâm quyền lực” Pháp, sau lời tuyên bố của tướng Dương Văn Minh, vẫn nhấn rõ là “viên đạn hiện đang ở trong doanh trại của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam“.

Vài giờ sau, hồi 4 giờ sáng (giờ địa phương), dân chúng Sài Gòn nghe được câu trả lời của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam đáp lại phần bình luận lạc quan đến không thể tin nổi về tài ngoại giao của người Pháp: Một trận mưa rốc-kết trút xuống thủ đô miền Nam Việt Nam và phi trường Tân Sơn Nhất bị tấn công bằng đủ các loại pháo lớn.

Sáng Thứ Ba 29 tháng Tư, đài Mạc Tư Khoa ghi nhận bằng giọng mỉa mai là: “Tướng Minh trên thực tế không còn gì nữa để mà trị vì. Vài giờ sau, đài Sài Gòn truyền đi lời phát biểu của tân thủ tướng Vũ Văn Mẫu: “Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hoan nghênh việc thi hành Hiệp Định Ba Lê, đặc biệt là các điều khoản 1, 4 và 9 qui định Hoa Kỳ phải tôn trọng các quyền tự do căn bản của dân tộc Việt Nam về vấn đề “quyền tự quyết” trong việc quyết định và chấm dứt mọi giao tranh quân sự, cũng như mọi sự can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam“.

Lời tuyên bố công khai này đã được nói ngay sau một thông cáo đòi “Đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin, phải đóng cửa tòa đại sứ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, đồng thời phải làm mọi cách để tất cả người Mỹ còn lại rời khỏi lãnh thổ miền Nam Việt Nam trong thời hạn đó. Và ông M. Martin đã tức khắc cho biết là ông sẽ làm đúng theo đòi hỏi.

Cuộc di tản những người Mỹ cuối cùng và những người Việt Nam “có liên hệ” với Hoa Kỳ, theo kế hoạch trù liệu trước của Ngũ Giác Đài, sẽ tiến hành cho đến ngày Thứ Tư tuần tới, 7-5-1975. Nhưng tình hình diễn tiến quá nhanh. Ngay chiều Thứ Hai 28-4, Tổng Thống Ford họp khẩn cấp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Cầu Không Vận thiết lập để di tản người Mỹ và người Việt Nam từ phi trường Tân Sơn Nhứt đã bị ngưng trệ: nhiều loạt rốc-kết và đạn pháo 130 ly và cả bom, đã trút vào căn cứ Không Quân lớn nhất này. Ngoài 11 phi cơ của miền Nam bị phá hủy do bị dội bom vừa qua, 1 phi cơ vận tải C.130 của Hoa Kỳ bị cháy. Một trực thăng miền Nam chở 40 binh sĩ Dù trên đường bay đi Tây Ninh đã trúng hỏa tiễn, nổ tung và cháy trên không thật khủng khiếp.

Nhiều đạn rốc-kết đã rơi vào Chợ Lớn, một thành phố mà cư dân hầu hết là người Hoa, nằm sát Sài Gòn. Một phóng pháo oanh tạc cơ Skyraider có nhiệm vụ oanh tạc các vị trí cộng sản ở 7 cây số về hướng Tây Bắc Sài Gòn đã trúng một hỏa tiễn tầm nhiệt SA7. Và nhiều cuộc chạm súng dữ dội diễn ra tại các vùng ngoại ô thành phố.

Hoa Thịnh Đốn không còn thời gian chờ đợi. Tổng Thống Ford ra lệnh cho Hạm Đội VII tiến hành ngay cuộc di tản.

oOo

Lúc 11 giờ trưa ngày Thứ Ba 29-4, Sài Gòn hỗn độn không tả nổi. Người Pháp cư ngụ ở các khu quanh thủ đô cũng bị đặt dưới tầm đạn pháo cộng sản nên đổ dồn về trung tâm tìm nơi trú ẩn nhờ bạn bè đồng hương. Họ  không thể vào tạm trú ở trường trung học Saint Exupéry theo chỉ thị trước đây của tòa đại sứ Pháp, do vị hiệu trưởng từ chối tiếp nhận với lý do “không đủ nước uống và lương thực dự trữ để bảo đảm sinh hoạt cho mọi người”. Người Pháp cư ngụ ở thủ đô gồm giáo chức, các nhà trồng tỉa từ các nơi chạy về, thương gia, chủ tiệm ăn hay giám đốc xí nghiệp, đều treo cờ Pháp trước nhà ở, văn phòng, tiệm tùng. Nhiều người Việt Nam bắt chước họ. Tất cả hình như tin rằng lá cờ tam tài của Pháp có thể cứu sinh mạng và tài sản của họ nếu xảy ra các cuộc giao tranh trên đường phố. Và cờ xanh trắng đỏ bỗng được treo rợp trời vào những giờ bi thảm ngột ngạt khiến vài khu phố đã có quang cảnh bất thường kỳ lạ của ngày lễ hội 14 tháng 7. Nhưng, hỡi ôi, chỉ là một ảo tưởng, một ảo tưởng xót xa dưới gánh nặng lo âu sợ sệt đã tràn ngập thủ đô miền Nam đang rơi vào cảnh vô trật tự và vô chính phủ.

Trên xa lộ Biên Hòa, trước khi đến cầu Sài Gòn mà gần đó là những căn cứ tối tân nhất của Tân Cảng, 50 binh sĩ Dù dưới sự điều động của một đại úy, đang chận đánh từ chiều Thứ Hai một toán đặc công, cố ngăn không cho họ đến được dạ cầu. Đặc công cộng sản đã 5 lần chiếm cầu và cả 5 lần binh sĩ Dù đều chiếm lại. Trên 50 xác đặc công Bắc Việt nằm trên đường, mình đầy vết đạn bởi vì dù đã chết họ vẫn tiếp tục lãnh đạn của binh sĩ miền Nam quá cẩn thận!

Bất chấp chiến trận đang diễn ra, một đám dân đông như đàn kiến đã tràn vào các kho hàng Tân Cảng hôi của. Đó là đám dân khốn khổ ở các khu đồng lầy, ổ chuột nghèo túng, đói khát. Họ chia thành 2 đoàn rõ rệt, những người mới tới với tay không và những người trở về mang đầy chiến lợi phẩm. Năm trăm ngàn? Có thể một triệu? Không ai đếm nổi một cách chính xác, toàn đàn bà và trẻ nít, rất ít đàn ông… càn quét hết các kho đầy ắp hàng viện trợ Mỹ.

Đám đông xô đẩy nhau ùa đến nơi cướp bóc, giẫm bừa lên các xác chết đặc công miền Bắc làm bật lên tiếng kêu răng rắc của xương gãy như cành cây khô! Để trở về, đám đông này phải vượt qua sông, lội lõm bõm trong bùn. Một em nhỏ khoảng 10 tuổi toàn thân đầy bùn đen thối hoắc tay đưa cao một bó cao su xốp rửa chén! Hai bé gái chín chắn hơn, quần áo cũng đầy bùn, mang một số nấm, pa-tê và trái cây đóng hộp. Một người đàn bà nhặt được hai bịch thuốc lá thơm và một máy xay sinh tố. Một thiếu niên khệ nệ bê một thùng sốt cà chua một cách khó khăn.

Một “chợ chồm hổm” họp ngay bên đường: mọi người mua bán, trao đổi trong cơn sốt tiền bạc giữa một ngày dồn dập khủng hoảng. Những đoàn quân xa lao vào đám đông. Binh sĩ trên xe phải bắn chỉ thiên để mở lối đi. Tấn thảm kịch sắp buông màn. Chưa phải là một cảnh hoảng loạn nhưng là một cuộc tháo chạy toàn bộ.

Từ sáng nay, nhà báo không còn nhận được tin tức gì từ giới chức “thẩm quyền” về tình hình, vì một lẽ rất đơn giản là các giới chức này không còn ở đó nữa hoặc họ đã bị “mất chức” không biết từ lúc nào. Tướng Minh đã cách chức tướng Bình, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát và An Ninh Quân Đội. Kết quả: sáu chục ngàn cảnh sát và mười ngàn cảnh sát đặc biệt (hầu hết là binh sĩ có tuổi từ các binh đoàn thiện chiến), đang kiểm soát thủ đô, không còn ai chỉ huy và ra lệnh cho họ. Tổng tham mưu trưởng quân đội miền Nam được thay 3 lần trong vòng 24 giờ đồng hồ. Hôm kia là tướng Cao Văn Viên, nhưng ông đã ra đi cùng vị tham mưu phó lẽ ra phải thay thế ông mới đúng. Sáng hôm qua là tướng Nguyễn Văn Minh, nhưng ông chỉ ngồi đó mấy giờ trước khi xách va-li chuồn mất. Chiều hôm qua là tướng thiết giáp Vĩnh Lộc, một cây rượu mạnh, anh em họ với cựu hoàng Bảo Đại, đã cổ võ binh sĩ trên đài phát thanh, yêu cầu đừng “lủi trốn như chuột giống như Tổng Thống Thiệu“. Bộ Tổng Tham Mưu gần sân bay Tân Sơn Nhứt vắng vẻ, chỉ còn lưa thưa vài sĩ quan cấp tá trên các hành lang vắng ngắt. Các viên chức còn ở nhiệm sở, nhưng không thấy ông tướng nào trả lời khi điện thoại reo cả ở văn phòng lẫn ở nhà. Trên trận địa, đơn vị trưởng nào còn tiếp tục chiến đấu phải tự lo liệu cho mình.

oOo

Tại trung tâm Sài Gòn, sự căng thẳng vụt lên cao độ, vì bây giờ mọi người đều biết người Mỹ sẽ ra đi. Cuộc di tản của Hoa Kỳ bắt đầu khoảng 11 giờ ngày Thứ Ba 29-4. Người Mỹ và những “bạn” Việt Nam được giới chức ngoại giao Hoa Kỳ báo trước đều nhận lệnh đến tập trung ở 13 điểm hẹn dự trù: các sân thượng hoặc các vườn chơi công cộng. Rồi màn xiếc lớn bắt đầu. Trực thăng vận tải lớn của Thủy Quân Lục Chiến từ Hạm Đội VII, trực thăng riêng của CIA,  trực thăng màu trắng bạc của hãng Air America xuất hiện liên tục bay là là trên các nóc nhà trong thành phố, có trực thăng võ trang (trang bị rốc-kết và đại bác tự động) bay theo yểm trợ. Trên cao lại có chiến đấu phản lực cơ Phantoms sẵn sàng can thiệp, nếu cần.

Tòa đại sứ Hoa Kỳ hối hả đốt các hồ sơ lưu trữ cuối cùng. Ngay trên nóc tòa đại sứ, các trực thăng Huey nối nhau đều đặn đáp xuống bay lên.

Nhìn từ các cao ốc là một cảnh tượng hết sức lạ lùng. Phía trước những chiếc xe du lịch thượng hạng đến đậu sát hàng rào sắt tòa đại sứ, các tài xế mặc áo chống đạn, nhưng vẫn không quên đội mũ cát-kết trắng, vì các viên chức Việt Nam vẫn nhất định tôn trọng lễ nghi cho đến cùng. Không biết các tài xế này nghĩ gì sau khi ông chủ của họ đã lên trực thăng và họ phải quay về các khu bình dân giữa tiếng nổ của đạn rốc-kết?

Người Mỹ ra đi bỏ lại xe đầy đường. Tức khắc xuất hiện những toán tháo gỡ từ ngoại ô đến “làm thịt” ngay tại chỗ. Thời gian càng trôi qua, đám người tụ tập trước cửa rào tòa đại sứ càng đông thêm, bu kín cửa sắt, tường bao và còn tính trèo qua tường. Giữa đám đông cố bám vào tường như những chùm nho với hy vọng cuối cùng là chạy trốn hoặc tìm được tự do…, có mọi hạng người, sinh viên, công chức, lính cứu hỏa với mũ đồng còn trên đầu, các cô gái ăn sương, các bà mẹ trẻ bồng con đưa lên thật cao như trình lên một mẫu giấy thông hành sống là các chú bé con lai mà cha chúng là một anh lính Mỹ da trắng hay da đen, tóc nâu hay tóc đỏ nào đó… Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến canh gác vẫn bình thản và lạnh lùng dùng báng súng đẩy họ ra.

Một cảnh thiểu não xảy ra ngay bên lề đường. Tướng Đặng Văn Quang từng bị tố là kẻ cầm đầu đường dây buôn lậu ở miền Nam không có tên trong danh sách di tản do Hoa Kỳ thiết lập. Khi ông đến trình diện trước cổng tòa đại sứ, binh sĩ đuổi ông ra. Ông chạy lại gặp Nghị sĩ Nguyễn Văn Ngãi nài nỉ giúp đỡ để được trực thăng bốc đi. Khó thể ngờ một cựu cố vấn quân sự của Tổng Thống, một người đầy ngạo mạn và kiêu căng chễm chệ tác oai tác phúc mấy năm liền ở Dinh Độc Lập, giờ đây chỉ còn là một đống mỡ run rẩy vì sợ sệt. Ông lạy van, cầu khẩn rồi viện dẫn đến mạng sống của vợ con và chính bản thân sẽ bị cộng sản giết v.v… xuống nước, kính cẩn, khúm núm van xin. Động lòng, Nghị sĩ Ngãi đưa ông cùng đi với mình, cẩn thận không nói rõ tên ông là ai, mới đưa được ông lên trực thăng.

Nhìn từ bên ngoài, với đám đông khốn khổ khóc lóc, kêu la, cầu xin một lối đi để ra khỏi địa ngục này, cuộc di tản rất ồn ào và vô trật tự. Nhưng với những người đã lọt vào khuôn viên tòa đại sứ rồi, bộ máy di tản hoạt động hết sức chính xác. Hành khách được đưa lên lầu thượng, từng toán 3 người, đưa lên trực thăng (chở 12 người một chuyến). Từ đó bay thẳng qua phi trường Tân Sơn Nhứt. Ở đây họ được đưa vào các dãy nhà thuộc cơ quan DAO — Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ — trên nóc vẫn tung bay quốc kỳ Mỹ. Các dãy nhà này lẽ ra là mục tiêu rất tốt của cộng sản, nhưng vẫn nguyên vẹn, không hề hấn gì. Dù lửa đạn bùng gần suốt đêm qua trong khu vực phi trường, các dẫy nhà này hình như được cố ý chừa ra. Nhiều trực thăng vận tải Chinook đến từng toán 4 chiếc, mỗi toán đổ xuống một đại đội Thủy Quân Lục Chiến trang bị đại bác không giật, hỏa tiễn chống chiến xa với đầu đạn Tows có hồng ngoại tuyến. Thủy Quân Lục Chiến có nhiệm vụ giữ an ninh cho khắp vùng di tản. Mỗi chiếc Chinook sau khi đổ Thủy Quân Lục Chiến và quân dụng xuống thì bốc luôn 45 hành khách Việt Nam, xong mới bay đi. Thời gian bay khoảng 1 giờ đến các chiến hạm của Hạm Đội VII và trên 20 tàu vận tải đang đậu chờ rước họ ở 30 cây số ngoài khơi Việt Nam, ngoài tầm tác xạ của pháo binh cộng sản.

Hành trình không gặp trở ngại nào. Không một viên đạn, một hỏa tiễn, một trái đạn pháo nào bắn đi từ dưới đất lên các trực thăng to lớn đang nối đuôi nhau rất đều đặn bay ra biển để đáp xuống một trong hai hàng không mẫu hạm, Hancock hoặc Okinawa, mà từ đó các trực thăng đã cất cánh bay vào Sài Gòn. Khi đặt chân xuống chiến hạm, người Việt Nam đều bị binh sĩ Mỹ rất đứng đắn nhưng cũng rất lạnh lùng khám xét thật kỹ, để bảo đảm là không mang theo vũ khí, ma túy hay các loại y dược nguy hiểm. Sau đó họ mới được chuyển xuống các thuyền cao su hay thuyền máy để sang các tàu vận tải. Các thuyền máy này chạy qua chạy lại như con thoi giữa các chiến hạm và các tàu vận tải. Và, các tàu vận tải này sẽ đưa họ về các trại định cư ở đảo Guam. Nhiều tàu vận tải được Hạm Đội gọi trở lại cả ban đêm để “vớt” những người tỵ nạn Việt Nam khác đang lênh đênh ngoài biển cách bờ hàng trăm cây số, trên các tàu đánh cá, các thuyền buồm thô sơ, có đèn đốt sáng rực. Người trên thuyền dùng đuốc và đèn bấm, đèn báo… vừa vẫy gọi, vừa chạy lại các tàu chiến Mỹ. Tất cả các làng đánh cá dọc bờ biển từ Phan Thiết đến Bình Tuy đều ra khơi và kêu cứu. Hơn 20.000 dân tỵ nạn được cứu đưa lên tàu, thoát khỏi vòng kìm kẹp cộng sản.

oOo

Tại Sài Gòn, lưu lượng trực thăng Mỹ tiếp tục đều đặn bay suốt buổi chiều. Trước tòa đại sứ Mỹ, hơn 20.000 người chen chúc đứng chờ trước các hàng rào sắt với va-ly cầm tay, nước mắt ràn rụa. Một số lọt được qua cổng và được bốc đi. Nhiều người khác giơ từng xấp giấy trăm đô-la dưới mũi các Thủy Quân Lục Chiến Mỹ nhưng họ vẫn lạnh lùng không lay chuyển. Hàng trăm xe chở đầy người nhấn kèn inh ỏi chạy vào Tân Sơn Nhất, nhưng không phi cơ nào cất cánh. Ngay trước cổng phi trường, quân cảnh đã lập hàng rào cản bố trí súng liên thanh.

Hàng ngàn người ùa chạy xuống bến cảng, cố nhảy theo các tàu chiến, tàu buôn, xà-lan hoặc bất kỳ thuyền bè nào đó để thoát khỏi thành phố bằng đường sông.

Khoảng 200 người gồm vừa sĩ quan vừa công chức, thương gia xuống được một tàu hàng còn tốt đang nhổ neo lúc 3 giờ chiều để chạy ra biển. Họ không đi xa hơn được, vì vừa qua khỏi Nhà Bè thì chiếc tàu trúng đạn pháo, nổ tung và chìm. Những người may mắn sống sót lội vào bờ lại bị cắt cổ hoặc bị súng liên thanh bắn chết. Dĩ nhiên đô-la và vàng họ mang theo đều bị vét sạch.

Cuối buổi chiều, tướng Trần Văn Đôn và người con trai là một bác sĩ được một trực thăng bốc đi. Trước đó vài giờ, rất lịch sự như đã nổi danh, ông đến từ giã vị đại sứ Pháp… và luôn tiện cũng để nhận thông hành Pháp của ông. Đại sứ Mérillon từng vài lần nhờ vả đến ông. Từ nhiều tháng, nhất là trong cơn khủng hoảng vừa qua, tướng Đôn được coi như phụ tá đắc lực cho hoạt động trung gian chính trị của người Pháp. Ông đã tích cực tham gia đẩy già Hương khỏi ghế đồng thời thúc tướng Dương Văn Minh đi tới, và trước lưỡng Viện Quốc Hội, ông đã có một buổi thuyết trình về tình hình quân sự thảm hại. Ông Mérillon có lúc hy vọng đặt ông Đôn vào ghế thủ tướng của ông Minh. Chiều thứ hai, chấn động vì sự chống đối thù nghịch giữa các trung tâm chính trị miền Nam, tướng Đôn đã tỏ ý muốn tự tử. Nhưng sau đó được giới thân cận lên dây cót an ủi… nên cuối cùng, ông quyết định nhờ Mỹ đưa đi. Trước khi lên trực thăng, tướng Đôn nói với toán binh sĩ cận vệ, những người đã không rời ông nửa bước, rằng: “Tôi bắt buộc phải ra đi thôi, vì nếu cộng sản mà tóm được tôi thì chúng hành quyết ngay. Các anh thì khác, các anh chỉ là cấp nhỏ, sẽ chẳng có gì nguy hiểm hết… và các anh có thể lẩn vào trong đám đông“.

Mấy binh sĩ với gương mặt rắn rỏi, ánh mắt nặng trĩu u buồn, tức giận và khinh bỉ, nắm chặt tay nhìn chiếc trực thăng cất cánh mang theo ông cựu tổng trưởng Quốc Phòng bốc lên cao, khuất dạng giữa những đám mây.

Tướng Trần Văn Đôn không phải vị sĩ quan cao cấp duy nhất rời khỏi miền Nam Việt Nam. Gần 60 tướng lãnh khác đã ra đi. Tướng Vĩnh Lộc, vừa sáng hôm qua còn kêu gọi binh sĩ “đừng lủi trốn như chuột“. Tướng Bùi Thế Lân, vị chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến, một người hùng rút quân bằng đường bộ từ Đà Nẵng về Sài Gòn, vừa lui binh vừa đánh du kích. Tướng Trưởng, tư lệnh Quân Đoàn I và Vùng I Chiến Thuật. Tướng Thắng, binh chủng Pháo Binh, một cử nhân toán học và vô địch cờ. Tướng Toàn, tư lệnh Quân Đoàn III và Vùng III Chiến Thuật, một “đụn rạ” (*) nặng cả trăm kí lô, người đã giữ vững mặt trận miền Đông của Sài Gòn trong 4 tuần lễ. Tất cả giám đốc An Ninh và Quân Báo. Vị tư lệnh Không Quân. Tướng Lưỡng, tư lệnh sư đoàn Nhảy Dù, một lực sĩ với nước da nâu luôn được binh sĩ dưới quyền ái mộ. Tướng thần phong râu kẽm Cao Kỳ, người đã thề sống chết với khẩu súng trên tay và chê Tổng Thống Thiệu hèn nhát…

(*) Nguyên văn: une “baraque”

Tuy nhiên, đã có một số người dứt khoát từ chối rời khỏi vị trí chỉ huy và binh sĩ khi được các tùy viên quân sự tòa đại sứ Mỹ trực tiếp liên lạc hay kêu gọi qua điện đài. Đặc biệt là tướng Nguyễn Khoa Nam, người có nhiệm vụ phòng giữ Đồng Bằng Cửu Long; tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã giữ vững Xuân Lộc và là người trả lời: “Binh sĩ của tôi đã dũng cảm chiến đấu, làm sao tôi có thể bỏ rơi họ trong lúc họ rất cần sự có mặt của tôi?; tướng Lý Tòng Bá chống giữ mặt trận phía Bắc, một kỵ binh thiết giáp từng được đồng đội đặt cho biệt danh Burt Lancaster; tướng Lê Nguyên Vỹ đã chiến đấu với phần còn lại của Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Trảng Bom; tướng Phú, vị tướng nhỏ con đang bị phạt giam và đã nói với vị cố vấn Hoa Kỳ khi ông này đến đón đi: “Tổng Thống Thiệu đã chà đạp danh dự tôi khi ông công khai đổ lỗi cho tôi về chuyện mất Cao Nguyên Trung Phần… Ông ta đã ra đi như một khách du lịch với những chiếc va ly được sắp sẵn….Phần tôi, tôi sẽ ở lại, tôi sẽ tự tử và máu của tôi sẽ rơi trên người ông ta. Tôi chỉ còn cách đó để đính chánh lời cáo buộc của ông ta mà thôi.

oOo

Sài Gòn đã vào đêm. Vài cây số về hạ lưu sông Sài Gòn, để tránh những kẻ tò mò, mấy chiếc sà-lan đang bốc hằng ngàn đàn bà trẻ con thuộc gia đình Hải Quân. Các sà-lan này được tàu lớn kéo đi, có thuyền máy võ trang hay tàu phóng ngư lôi hộ tống ra biển, nơi có trên 30 chiếc tàu đang chờ họ. Tất cả tàu chiến thuộc các đơn vị lớn của Hải Quân miền Nam đều rút về đảo Guam. Trong bầu trời tối đen như mực của thủ đô, những trực thăng Hoa Kỳ với đầy đủ đèn hiệu chiếu thành những vệt dài sáng rực cắt đứt hẳn màn đêm. Ở dưới đất, những cọc tiêu và đèn rọi đánh dấu các nóc nhà mà trực thăng sẽ đáp xuống bốc người đi. Trên các sân thượng khác, những kẻ đau khổ lo âu đang đốt những cuộn giấy hay giẻ có tẩm dầu với hy vọng lửa sẽ dẫn dụ những con chim sắt khổng lồ đến giải thoát họ ra khỏi nỗi kinh hoàng và đưa họ ra khơi. Hoàn toàn vô hiệu.

Đại sứ Graham Martin, người đánh giá cuộc di tản như một việc “không ra gì”, muốn ở lại Sài Gòn và chết ở đó. Ông chỉ rời khỏi thành phố lúc 4 giờ sáng theo lệnh bắt buộc của Kissinger. Với tâm trạng điên đảo, mệt mỏi rã rời do đã thức suốt 72 giờ liền, ông đáp xuống hàng không mẫu hạm Blue Ridge nằm chờ ông xa tít ngoài khơi… Và ngay lập tức, ông vào phòng, xập cửa lại, giấu kín nỗi thất vọng của mình.

Lúc rạng đông, những binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến cuối cùng ra đi mang theo lá quốc kỳ, sau khi phá hủy các dụng cụ điện tử ở tòa đại sứ.

Mười tám ngày sau cuộc di tản ở Phnom Penh, Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam bỏ lại thành phố Sài Gòn cho nỗi lo sợ và những tai họa dồn dập. Hoa Kỳ chỉ để lại sau lưng những căn nhà bỏ ngỏ, vài nhà báo muốn ở lại và khoảng 50 người có quốc tịch bị bỏ quên.

Tức khắc các căn nhà đều bị cướp phá.

Trong lúc những ánh lửa đỏ rực sáng vùng trời quanh thủ đô và các khu vực vòng đai thành phố, hàng trăm hàng ngàn đàn ông, đàn bà, trẻ nít đua nhau chộp giựt mọi mảnh di hài của những tàn cốt Mỹ. Từ cặp đựng hồ sơ, nệm giường, tủ lạnh, máy chữ, điện thoại, máy giặt, máy sấy, máy rửa chén, máy thâu thanh, truyền hình, máy ảnh, máy quay phim, quạt trần, quạt máy và cả từng cuộn giấy vệ sinh… món nào cũng tốt. Từ trước, lúc nào chính phủ cũng nghiêm cấm và tuyên bố xử bắn tại chỗ những kẻ cướp bóc. Nhưng bây giờ, những người có bổn phận phải xử bắn kẻ cướp lại hùa với kẻ cướp để kiếm chút chiến lợi phẩm…

(Còn tiếp – Chương 23)

Share this post