Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 24 (Tiếp theo)

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 24 (Tiếp theo)

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 24
“BỘ ĐỘI” XÂM NHẬP THỦ ĐÔ

(Tiếp theo)

Thứ Năm 15 tháng 5, một cuộc diễn binh rầm rộ để nói lên sức mạnh quân sự của kẻ thắng trận.

Dẫn đầu, sau một con rồng đỏ đang uốn khúc tượng trưng cho niềm vui và hạnh phúc, là các em nữ sinh rất ngoan với quần đen áo dài trắng, rồi đến các phái đoàn dân chúng mang các biểu ngữ đầy khẩu hiệu.

Kế tiếp, các trung đoàn thép của Bắc Việt đi thành khối: bộ đội đi hàng mười, có bước đi như ngỗng, súng mang choàng qua cổ, mặt lạnh lùng.

Nối theo là các chiến xa đi thành hình vuông, đồ sộ, ồn ào, xe ra-đa, xe thiết giáp và hàng trăm khẩu pháo cùng những giàn hỏa tiễn. Tất cả pháo binh Liên Xô ghê gớm đó lẽ ra đã bắn 70.000 quả đạn (3000 cho mỗi khu) và 6000 hỏa tiễn để nghiền nát thành phố này, nếu không đầu hàng.

Đó là một cuộc trình diễn vĩ đại của chiến xa T.54, hỏa tiễn SAM.6 và SAM.7… những chiếc Kalachnikov, những chiếc Molotova và những cỗ pháo 130 ly kinh hoàng. Các phi cơ Mig 19 và 21 gầm rú trên bầu trời. Nhưng trên hết là chiến thắng của những người miền Bắc. Ở giữa rừng người đang liên tiếp đi tới như những làn sóng lớn… họa hoằn lắm mới nhận thấy vài xe vận tải chở đám “du kích quân” của Mặt Trận Giảo Phóng Miền Nam và một xe Jeep chở nữ binh mặc đồ đen, đội nón “tai bèo” nhỏ.

Các hàng ghế danh dự trên khán đài được dành cho phái đoàn 12 “anh lớn” dẫn đầu là 3 nhà lãnh đạo trong Bộ Chính Trị: Chủ Tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Tôn Đức Thắng, Bộ Trưởng Lê Đức Thọ và Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Bắc Việt, tướng Văn Tiến Dũng.

Chủ Tịch Tôn Đức Thắng hôm nay hẳn là người có một niềm vui thật lớn. Ông gốc miền Nam, sinh ở Long Xuyên, 85 tuổi, từng là một người nổi loạn ở Hắc Hải, một thợ điện cũ của hãng Renault, nay là một lão trượng mệt mỏi và gần như điếc, được huân chương Lê-Nin, có một quá khứ đấu tranh cách mạng hơn nửa thế kỷ. Năm 1927, chính ông là người đã thành công trong việc đánh cướp đầu tiên cho đảng Cộng Sản Đông Dương trên đường sông khi ông cầm đầu một toán đeo mặt nạ dùng súng lục chận cướp chiếc tàu đò Mỹ Tho. Ông bị bắt và bị kết án tử hình năm 1929, sau đó được ân xá giảm án xuống còn 16 năm tù giam ở Côn Đảo trước khi vượt ngục năm 1945 để tiếp tục cuộc đấu tranh,

Ông Lê Đức Thọ, một thương thuyết gia bền bỉ của Hiệp Định Ba Lê và lý thuyết gia của đảng Cộng Sản Việt Nam, là một nhân vật được biết nhiều ở Tây phương .

Tướng Văn Tiến Dũng, người chiến thắng trong cuộc tổng tấn công khắp Miền Nam, là chỉ huy của tất cả lực lượng võ trang Bắc Việt từ khi tướng Võ Nguyên Giáp bị lu mờ (*). Người béo lùn, cương nghị và bí mật, tướng Dũng là người Bắc chính cống, gốc ở tỉnh Nam Định giàu có. Là người từng tham gia mọi chiến trận, cựu quân ủy trung ương, một đảng viên cộng sản trung kiên và chủ chiến không chối cãi được… cũng là một trong những nhân vật lãnh đạo chủ chốt của chế độ Hà Nội.

Không quá kiêu ngạo và với một trình độ văn hóa kém hẳn ông Giáp, con người tự học bền bỉ này đã chuẩn bị hành động có tính cách quyết định số phận của miền Nam. Ông là người thành lập một sư đoàn đặc công để thi hành trọng trách làm tan rã hệ thống tiếp vận của địch quân và là người đã biết sử dụng hợp đồng binh chủng giữa chiến xa và pháo binh một cách toàn hảo.

(*) Tác giả chú thích: Tướng Võ Nguyên Giáp mắc một chứng nan y, phải nằm ở một bệnh viện Mạc Tư Khoa một thời gian dài.

Sự có mặt của ba nhân vật này ở Sài Gòn đã mang lại cho buổi lễ “giải phóng” một biểu tượng rất có ý nghĩa: ánh sáng đã đến từ Hà Nội. Dù muốn dù không, tương lai của Việt Nam cũng bị cột chặt vào một sự thật: sẽ là một quốc gia cộng sản, cách mạng, và không thể chia cắt. Lời phát biểu sau cùng của Lê Duẫn, tổng bí thư đảng Cộng Sản Bắc Việt, khi nói tới Việt Nam đã coi như một quốc gia thống nhất. Ông nói: “Nước Việt Nam tốt đẹp đã trở nên toàn vẹn từ Lạng Sơn đến Cà Mau.

oOo

Sự mềm dẻo tạm bợ của những chủ mới ở miền Nam chỉ là trạm dừng chân trên con đường đưa người dân miền Nam đi những bước đầu vào cuộc cách mạng. Một sự tạm nghỉ có tính cách chiến thuật vì nhu cầu phải đặt lại cơ cấu cải tạo và khung cán bộ cần thiết cho đám dân chúng còn cứng đầu khó dạy, quen lối sống dễ dãi và khó thuyết phục, khó buộc tuân hành bằng biện pháp quân sự.

Thời gian vui chơi đã qua. Các cán bộ chính trị miền Bắc hoàn tất mọi công tác chuẩn bị. Cứng rắn, dẻo dai và năng nổ, họ đặt dân chúng Sài Gòn vào một mảng lưới, rồi càng ngày càng siết chặt lại. Sài Gòn không còn được gọi là Sài Gòn nữa, mà là “thành phố Hồ Chí Minh” để kỷ niệm người cha đẻ của cách mạng Việt Nam.

Đã hết rồi thời của “nụ cười và bàn tay thân thiện”. Bây giờ là thời của “đe dọa” và những “bước đi mới”. Gọng kềm đột nhiên khép chặt, trước hết tại các khu vòng đai ở Gia Định, Tân Định, Gò Vấp.., nơi các “ủy ban nhân dân” đã được lập, rồi tiếp theo là thành phố. Từng khu, từng đường, từng ngõ hẻm, từng nhà một… tất cả đều được thanh lọc. Kiểm tra từng người, ai cũng được gọi lên, được hỏi về cá nhân, về gia đình, về những người xung quanh, và được trưng tập vào một lớp học tập chính trị… cũng được gọi là “công tác làm sạch đường phố” hay là “dọn cho sạch rác rến”.

Các trường từ tiểu học trung học đến đại học đều phải đóng cửa. Tất cả tổ chức và sinh hoạt văn hóa “phản động, đồi trụy và dơ bẩn của đế quốc và tay sai Thiệu” đều triệt để bị nghiêm cấm. Nói rõ ra là tiêu hủy hết mọi phim ảnh, đĩa nhạc ngoại quốc, tất cả tác phẩm văn hóa thế giới như của Balzac, Dostoϊevski, Faulkner, Camus, Gogol đều bị đốt cùng với các tạp chí tình dục loại Playboy, kể cả các cuộc phiêu lưu của Tarzan. Giáo sư, sinh viên, học sinh mỗi ngày phải đến họp từ 9 giờ sáng đến 1 giờ trưa để tập đồng ca những bài hát cách mạng, tập vỗ tay cho ăn nhịp hay tập “đọc”, tập “hô” các khẩu hiệu.

Nhiều đoàn người mệnh danh là trưởng giả, là tư sản, trí thức, cựu công chức đã biết “ăn năn hối cải” bắt đầu đi riễu trên đường phố với những tấm bảng đeo trước ngực với nội dung đại loại “Tôi đã phản bội cách mạng, tôi có bạn người Mỹ, tôi đã cộng tác với kẻ thù” vv… Hết khu này đến khu khác, nhiều toán người nhỏ thó mặc quân phục xanh lá cây trèo lên bao lơn, hay các cột điện để chăng dây và mắc loa cho dân chúng nghe ra rả những bản nhạc quân hành ầm ĩ suốt ngày.

Trên tường đâu đâu cũng treo đầy hình to lớn của một ông già có chòm râu dưới cằm: hình Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Nguyện vọng duy nhất của ông là toàn thể nhân dân Việt Nam phải tôn thờ ông. Mọi sự tuyên truyền đều tập trung vào ông, cuộc đời của ông, những tác phẩm của ông, những bài thơ của ông mà ai cũng phải học nằm lòng. Ông vừa là một thánh nhân, một nhà tiên tri vừa là một thần hộ mạng của cựu thủ đô miền Nam lúc này đã mang tên ông. “Di chúc” của ông là sự chỉ dẫn hoàn hảo, một giáo lý cho mọi người “Việt Nam thật sự” phải theo…

Để hoàn thành tốt hơn hành động tâm lý chiến phối trí bởi “cán bộ”, quân đội nhân dân Bắc Việt mỗi ngày một gia tăng ảnh hưởng và càng lúc càng hướng theo cung cách của một quân đội chiếm đóng.

Ban ngày, từng toán tuần tra gồm 20 bộ đội với nét mặt cứng cỏi, căng thẳng, đi cách khoảng nhau chừng năm thước, tay ghì cò súng, rảo khắp thành phố, canh chừng các ngã tư hoặc thiết lập các rào cản.

Ban đêm, cả một trung đội đi khắp nơi trên đường phố lúc nào cũng vắng ngắt, vừa đi vừa lắc cắc khua cò súng AK47. Thường thì họ phục kich sau các cây trồng dọc đường và bắn nhiều tràng súng dài vào các bóng đen thoáng qua, lặng lẽ.

Tuy nhiên, bất chấp mật độ những âm thanh quảng cáo, những bích chương, phim ảnh bắt buộc phải xem, những buổi học tập cải tạo tập thể… người dân Sài Gòn vẫn cứng rắn và tham gia các buổi “sinh hoạt cách mạng” một cách hững hờ, lặng lẽ. Cả ba buổi họp lớn đầu tiên trong tháng 5 (ngày 1, ngày 7 và ngày 15-5) chỉ qui tụ khoảng không hơn vài chục ngàn người.

Ngày 15 tháng 5, “ngày lễ chiến thắng”, trong khi các sư đoàn Bắc Việt rầm rộ diễn hành, các toán cán bộ cổ vũ đặt tại các ngã tư không thành công trong nhiệm vụ hô hào dân chúng vỗ tay hoan nghênh quân đội chiến thắng. Trái lại, đã có rất nhiều khán giả miền Nam khóc tức tưởi.

Chế độ cũ từng phát hàng chục ngàn súng cho dân vệ trẻ tại các khu gia cư. Thủ đô có gần trăm ngàn cảnh sát được trang bị súng M16, súng lục 32 và lựu đạn. Phía Bắc Việt đã thú nhận là dù đã treo nhiều giải thưởng cao cho sự tố giác, nhưng chỉ thu hồi một số rất ít ỏi vũ khí này.

Nhiều người dân Sài Gòn còn đi xa hơn qua sự từ chối đầu hàng. Một số tướng lãnh đã tự tử như tướng Phú, cựu tư lệnh Vùng Cao Nguyên, chết tại bệnh viện Grall sau khi uống trọn một ống nivaquine, tướng Lê Nguyên Vỹ, cựu tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Vùng Đồng Bằng Cửu Long…

Nhiều sĩ quan khác, các nhân vật và các chính trị gia cũng tự kết liễu bằng thuốc độc hay bằng cách tự bắn vào đầu. Trong số này có ông Trần Chánh Thành, cựu tổng trưởng thông tin, một người đối lập hàng đầu với Tổng Thống Thiệu; tất cả thành viên một gia đình công chức cao cấp, sáu người trong gia đình (*) và cả 3 người giúp việc. Một hạ sĩ quan Dù tự tử ngay giữa chợ bằng cách tháo chốt trái lựu đạn, nằm lên trên và la lớn:
“Tụi bay không bao giờ bắt sống được tao đâu… bọn ăn cướp đểu giả!
“. Trái lựu đạn nổ tan xác anh thành nhiều mảnh, trừ chiếc mũ bê-rê đỏ, nhưng không ai dám nhặt…

(*) Nguyên văn: “Tous les membres d’une famille de hauts fon-tionnaires, les Ha Tuc Ky (six personnes) et leurs trois domes-tiques. Có người nghĩ đây là gia đình lãnh tụ Đại Việt Hà Thúc Ký, nhưng ý nghĩ này là lầm lẫn. Riêng bản dịch không ghi rõ tên người vì khó  xác định tên phiên âm Ha Tuc Ky ra sao.

Một tuần lễ sau khi tượng đài “chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa” bị hạ bệ, một binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến của miền Nam tẩm xăng tự thiêu như các nhà sư trước kia đã làm để phản đối “chế độ thối nát”. Ông ta bốc cháy như ngọn đuốc suốt nửa giờ trước hàng trăm người dân Sài Gòn đứng nhìn sững ngọn lửa phủ trên bụng rồi đốt thành than cả hai cánh tay. Một giờ sau, đài phát thanh Giải Phóng cố giảm nhẹ biến cố này bằng một bản tin nói rằng: “Người tuyệt vọng này cầm trên tay một tấm giấy trên đó ông viết tôi đói lắm“! (*)

(*) Mảnh giấy nằm trong tay người tự thiêu mà không cháy để Ủy Ban Quân Quản lấy được là một phép lạ.

Hôm sau, phát ngôn viên của Uỷ Ban Quân Quản lại đưa ra lời giải thích thứ hai: “Đó là một phật tử chống đối chế độ Thiệu. Anh ta để lại một bức thư nói rằng:Cuối cùng đất nước tôi đã được giải phóng khỏi ách độc tài, nhiệm vụ tôi đã hoàn tất và tôi chỉ còn có chết mà thôi.

Cả hai luận cứ mâu thuẫn này không dối gạt được ai. Người dân Sài Gòn chứng kiến tận mắt cái chết của người Thủy Quân Lục Chiến có thể không nói được tại sao anh tự tử. Nhưng họ biết rõ nơi anh chết: Đó là trên đống xi măng nát vụn của tượng đài hai Thủy Quân Lục Chiến tượng trưng cho lòng can đảm của người lính Việt Nam Cộng Hòa. Tất cả những người chọn cái chết để khỏi kéo lê kiếp sống nô lệ đều xứng đáng được tôn kính.

Giới báo chí đôi khi hay đưa ra những nhận xét đơn sơ không muốn nói nhiều hay chỉ chiều lòng độc giả bằng một câu bâng quơ bóng bẩy.

Một người trong số đó, rất nổi tiếng, tài năng điêu luyện, có độc giả khắp thế giới, đã nói một câu bất công và tàn nhẫn khi viết về cái chết của tướng Phú: “Tướng Phú, Tư Lệnh Vùng Cao Nguyên từng là một người lính rất tốt ở Điện Biên Phủ, đã không còn tốt nữa khi ông ta nhận bổng lộc của ông Thiệu như những người khác“.

Nhà báo này không có quyền chửi bới, mạt sát hay lên án một người đã chết, nhất là khi anh ta chưa biết người đó là ai và dĩ nhiên chưa bao giờ thấy được hành động của người đó trên trận địa. Những người từng được coi là chúa tể của Dù ở Điện Biên Phủ, như Langlais, Bigeard, Bizard, Touret và Botella, can đảm tột bực và không bao giờ biết xúc động, đã rất quý mến và đánh giá cao ông trung úy nhỏ con tên Phú mà họ coi như một sĩ quan rất có giá trị trong quân đội Việt Nam. Tướng Phú là bạn của tôi. Tôi biết ông từ lúc 23 tuổi. Ông luôn tham gia trận mạc và đánh trận giỏi… trên khắp Việt Nam, trong vùng sình lầy Cao Lãnh, khi ông là tư lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, cũng như ở Hạ Lào, khi ông chiếm lại Tchépone và trong 2 ngày đánh tan một trung đoàn thiện chiến thuộc sư đoàn 312 Bắc Việt chuyên về chiến đấu ở rừng núi. Ở phía Tây thành phố Huế năm 1972, ông đã giữ vững vùng Bastogne với sư đoàn I của ông và đánh bại sư đoàn 308 được mệnh danh là sư đoàn sắt của quân đội Bắc Việt. Tướng Phú chỉ còn một lá phổi, thường hay khạc ra máu và bị các bác sĩ cấm bay 10 năm nay nhưng ông vẫn lên trực thăng mỗi ngày, bay tới mặt trận và đáp xuống tiền tuyến. Tôi thường đi theo ông, thường ăn chung và ngủ chung một lều với ông. Tôi cũng biết bà Phú, một phụ nữ quê mùa chất phác và 9 người con. Tướng Phú nghèo nhưng được binh sĩ kính trọng. Ông không biết buôn lậu và coi rẻ tiền bạc. Ông chỉ ở ngoài mặt trận, không bao giờ nghĩ đến chính trị và cũng ít lui tới Dinh của Tổng Thống Thiệu. Một chiều ở Huế, ông đã buồn bã tâm sự với tôi: Ở Điện Biên Phủ, thiếu tá Botella mà tôi thương mến như cha tôi vậy, đã nói là tôi sẽ được tuyên dương với Bắc Đẩu Bội Tinh. Nhưng tôi chưa bao giờ nhận được nó. Tôi đã được tuyên dương 27 lần với tất cả huy chương cao quý nhất của Việt Nam và của Hoa Kỳ. Nhưng tấm huy chương “Đỏ” đó mới là huy chương đẹp nhất thế giới!

Một buổi sáng năm 1954, tướng Phú là sĩ quan Việt Nam cuối cùng bắt đoàn quân hát bài quốc ca Marseillaise của Pháp trên một trận tuyến ở Đông Dương khi ông dẫn quân xung phong chiếm vị trí “Élianne I” ở Điện Biên Phủ. Hai mươi mốt năm sau, mất hết quyền chỉ huy, lại bị vu khống và tuyệt vọng, ông tìm cái chết trong một bệnh viện của người Pháp, trước các bác sĩ quân y người Pháp, dưới bóng của lá cờ tam tài Pháp. Để được biết chắc rằng các người bạn cuối cùng, các bạn chiến đấu của ông khi về Pháp hiểu rõ là ông không hề phản bội hai chữ Danh Dự mà họ đã cùng nhau thề thốt trên những ngọn đồi đẫm máu ở Điện Biên Phủ.

Thật kỳ lạ và bi đát cho số phận các tướng lãnh nói trên và các chính trị gia miền Nam hay Campuchia được kết hợp với nhau không phân biệt trong chiến dịch bôi nhọ và vu khống, được phổ biến rộng rãi khắp thế giới từ bao nhiêu năm qua. Nhất là báo chí Mỹ không ngớt nhắc đi nhắc lại Phnom Penh và Sài Gòn “đầy rẫy tham nhũng”. Đặc biệt tôi nghĩ tới ông Long Boret, thủ tướng Campuchia và hoàng thân Sirik Matak, nhân vật thứ hai ở Campuchia. Lẽ ra họ có thể an toàn ra đi trên một trực thăng Mỹ cùng ông đại sứ Hoa Kỳ, khi ông này ra đi với lương tâm thanh thỏa của một công chức cao cấp đã thi hành xong khế ước, còn bình tĩnh ôm theo lá quốc kỳ Mỹ được xếp cẩn thận, y như trong một kịch bản vậy. Hai người này thích ở lại đất nước họ để chết trên mảnh đất quê hương, giữa đồng bào của họ, hơn là sống lưu vong trong một đất nước xa lạ đã phản bội họ. Họ không phải những người độc nhất đã ở lại, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng và chọn cái chết để chứng minh phẩm cách và giá trị niềm tin của mình. Còn nhiều người nữa, rất nhiều người cả ở Phnom Penh và ở Sài Gòn.

Người ta còn tiếp tục nói về những người này bằng cách gọi họ là “bọn tham nhũng”. Vào một thời kỳ khác, khi mà Tây Phương được những nguyên tắc vĩ đại của lịch sử La Mã soi tỏ thì người ta phải gọi họ là những “anh hùng”!

Ngoài ra, ở Sài Gòn đâu phải chỉ có những vụ tự tử. Từ ngày 30-4 đến tuần lễ thứ ba của tháng 5, hơn 60 binh sĩ Bắc Việt đã bị ám sát ngay trên đường phố. Tử thi một đại tá bộ binh Bắc Việt mình đầy vết dao được khám phá trong con hẻm rạp Eden, trước khách sạn Continental. Ba sĩ quan Bắc Việt khác bị hạ sát “rất lặng lẽ” gần sở Ba Son. Chính quyền nói thủ phạm là “du đãng” và “trộm cướp”. Để răn đe, họ đem ra xử bắn công khai một số “can phạm” trước mặt gia đình họ và hàng ngàn khán giả.

oOo

Ngày 24-5, lúc 7 giờ sáng, 80 người ngoại quốc rời miền Nam Việt Nam trên một phi cơ 4 máy, Iliouchine 18 sơn xanh trắng của Liên Xô. Đó là các phóng viên nhiếp ảnh, những nhà báo từ khắp nơi trên thế giới đã đến Sài Gòn và kẹt lại sau khi bị Bắc Việt chiếm. Trong số này có gần 50 nhà báo Pháp và một tướng lãnh Pháp đã về hưu bị trục xuất khỏi Việt Nam vì lý do “hai bàn tay của ông đã dính đầy máu của nhân dân Việt Nam“! (*)

(*) Đại tướng Vanuxem

Các nhà báo đã gặp mọi phiền nhiễu về hành chánh mới có tờ chiếu khán xuất cảnh, rồi phải nằm chờ được ghi tên vào một chuyến bay kéo dài ngày này qua ngày khác. Trước khi lên phi cơ, tất cả phải qua một cuộc khám xét tỉ mỉ, kéo dài và rất lạnh lùng.
“Bộ đội” nhờ một nữ tiếp viên hàng không quân sự làm thông dịch, đã bóc hết hành lý của họ. Nhiều xấp thư và phim ảnh bị tịch thu. Sau đó, họ được đưa đến Vạn Tượng (Lào) với giá 120 đô-la, phải trả bằng tiền Mỹ (gấp đôi giá bình thường), hộ tống bởi một “bộ đội” đội nón cối và các phi công Việt Nam đeo súng lục.

Xuyên qua cửa kính, các nhà báo nhìn Tân Sơn Nhứt lần cuối. Hình ảnh sau cùng mà họ cố mang theo từ Việt Nam là cảnh tượng một phi trường bị tàn phá: nhà kho sập, phi cơ nằm phơi bụng, chiến xa bị cháy đen…

Trong số những kẻ gan lỳ và đầy tình huynh đệ về Pháp chuyến này, vắng mặt một anh bạn hạng nặng: đó là anh Michel Laurent, bị một tràng liên thanh tự động bắn hạ trong trận chiến ở Hố Nai.

Anh là nhà báo cuối cùng chết ở Đông Dương. Chúng tôi vẫn hy vọng đến giây phút cuối cùng anh còn sống để trở về. Nhưng bây giờ thì hết mong rồi. Chúng tôi không còn thấy bóng dáng mảnh khảnh, trẻ trung mãi của anh nữa, cũng như gương mặt thiên thần với mớ tóc lòa xòa và một điếu xì-gà cắn chặt ở môi. Anh công tử có vẻ uể oải nhưng không lo lắng gì cả này thuộc nòi nhà nghề sáng giá.

Có cả thảy 52 nhà báo đã chết ở Việt Nam từ năm 1945. 26 anh khác coi như mất tích ở Campuchia. Phần đông là các nhiếp ảnh viên, những tinh hoa trong nghề. Họ không tường thuật về chiến tranh mà chuyển chiến trận thành hình ảnh, gay cấn, tàn bạo và lâm ly thống thiết. Những hình ảnh này các nhiếp ảnh viên thường thu nhặt từ tư thế đứng, giữa những người sắp chết mà họ chứng kiến được cử chỉ và cái nhìn cuối cùng. Tới khi Thần Chết tức giận vì bị thu hình quá nhiều và quá gần nên đã đến phiên của họ. Khi đó, đột nhiên những người còn sống sót mới khám phá ra là luôn luôn những người tử thương đều là người rất giỏi trong nghề. Người đầu tiên mà tôi thấy chết vào ngày 28 tháng 12 năm 1946 là một anh người Bỉ ốm yếu mà tôi quá xấu hổ vì không nhớ được tên, làm việc cho một thông tấn xã Hoa Kỳ. Anh đến từ Nam Dương, một quốc gia chán chê chiến trận, nhưng các trận đánh trong đường phố tuy lẻ tẻ nhưng hung tợn đến dã man tại Hà Nội đã kích thích anh như một cuộc đi săn kích thích con chó săn còn tơ vậy. Anh đội một nón sắt quá rộng, đeo choàng chiếc máy ảnh Rolleiflex và một cây súng lục Webley to tướng ở ngang lưng. Anh rất can đảm, can đảm hết nói! Anh chạy trên các mái nhà để tìm những anh chàng bắn tỉa. Một anh bắn tỉa phục kích đâu đó đã cho anh một phát vào giữa mặt và anh lộn nhào rớt xuống đất từ trên cao 10 thước… Kế tiếp là anh chàng Kowal mà chúng tôi gọi là “siêu thiên thần”, một lực sĩ tóc vàng hoe, một người hay cáu gắt và khắc khổ với chiếc máy thu hình cộm lên đầy lịch sử hào hùng. Ba mươi tám tháng đi toàn những trận ác liệt khắp miền Thượng Du Bắc Việt… rồi một tràng liên thanh ngắn một buổi sáng tháng 2-1952 đã kết liễu đời anh. Lúc đó anh mới 27 tuổi. Tôi cũng biết Péraud, to con, mập mạp, vai rộng, rất mạnh khỏe, từng trốn khỏi trại tù Đức quốc xã, chứng nhân những trận xáp lá cà ở Na Sản và Điện Biên Phủ… bị xem là mất tích trong vùng rừng núi chiến khu sau một cố gắng vượt ngục và không bao giờ được gập lại nữa… Martinoff đạp phải một trái mìn… Bob Capa lúc nào cũng có một lọn tóc đen trên trán và điếu thuốc thường trực trên môi, là một nhiếp ảnh viên nổi tiếng và đắt giá trên thế giới, già dặn trong gần 20 chiến dịch mà bị chết như một người mới vào nghề ngày 25 tháng 5 năm 1954 trên một con đê nhỏ ngoài ruộng, chỉ cách đồn Đội Tân vài cây số, ở đồng bằng Bắc Việt.

Và còn nhiều người khác, rất nhiều người khác… như các anh Burrows, Huet, Shimimoto, Flynn, Arpin… và cuối cùng là anh Michel Laurent, mình đầy đạn trong một làng Công giáo di cư không đầy ba ngày trước khi Sài Gòn thất thủ. Từ anh nhà báo nhỏ con người Bỉ đội nón sắt quá rộng bị bắn ở thủ đô Hà Nội đến Michel Laurent bị giết vì quá gan dạ gần một nhà thờ có treo cờ Tòa Thánh Vatican, nơi các thanh niên tự vệ kháng cự đến viên đạn cuối cùng, coi như cuộc chiến Đông Dương đã qua rồi…

Khi về tới Pháp, các nhà báo — bị kẹt lại gần ba tuần lễ ở Sài Gòn, cựu thủ đô Việt Nam Cộng Hòa — đã viết lại và phổ biến tất cả những gì họ đã thấy, đã nghe: Bộ máy chế độ Hà Nội đã được áp đặt. Cảnh khốn cùng của dân chúng Sài Gòn. Có các cô gái đề nghị trao hết gia tài sự nghiệp để chỉ được cưới và cùng đi ra ngoại quốc. Trẻ em thì van xin được làm con nuôi, dù là giả định. Còn dịch tự tử nữa. Rồi tin đồn về nhiều sự nổi dậy ở các tỉnh hay thành lập “chiến khu” ở miền Nam.

Tất cả nhà báo đã ra đi… Sự kiềm chế đã chụp xuống Việt Nam. Muốn có tin tức, không còn cách nào khác hơn phải nghe những bản tin chánh thức được loan đi sau khi đã kiểm duyệt cẩn thận. Phải đợi có người đi du lịch trong thời gian sắp tới. Rồi phối kiểm lại tin tức. Rồi phỏng vấn liên tục người ngoại quốc, những linh mục hay vài công chức Pháp khi họ hồi hương. Những Hoa kiều theo đường dây buôn lậu hay các tàu đánh cá đến được Thái Lan… bằng giá phải trả trên 30 lượng vàng để được đưa đi (hơn hai kí-lô quí kim để có hai ngày hải du).

Dần dần, các tin đó giúp hé mở bức màn tre đang bao chặt miền Nam và dựa theo các chứng cớ, các chi tiết sống, đã có thể thiết lập lại cả một mảng biến cố xảy ra.

oOo

Đầu tháng 5, các sĩ quan, cảnh sát, công chức, thành viên đảng phái, kỹ thuật gia, đoàn viên các nghiệp đoàn miền Nam… đều nhận được lệnh phải khai báo. Tùy từng loại, họ được ấn định một thời hạn trình diện với chính quyền. Phần đông sĩ quan và cảnh sát khi đến trình diện không bị điều tra hỏi han gì hết như họ đã nghĩ. Người ta chỉ ghi tên tuổi rồi họ được tự do về nhà. Một thống kê đầu tiên vào cuối tháng 5 cho thấy có khoảng 25 phần trăm cán bộ quân đội và cảnh sát đã làm thủ tục khai báo. Một buổi sáng, vì chính quyền đã nắm được địa chỉ và căn cước từng người nên số người này bị bắt hết, cho lên xe vận tải đưa đến một nơi nào không ai biết. Nhiều thông cáo được dán khắp nơi ra lệnh cho “tất cả thành phần phản động” chưa trình diện phải đến trình diện ngay “nếu không sẽ bị nghiêm trị”. Đồng thời, có nhiều áp-phích cảnh cáo dân chúng thành phố “không được chứa chấp người nào trong nhà mà không khai báo cho công an biết”.

Các thầy cô giáo, các hiệu trưởng và viện trưởng của tất cả trường trung, tiểu học và đại học ở Sài Gòn đều bị gọi đến “làm việc” với các ủy viên “đại biểu đại học” ăn mặc như “bộ đội”, quân phục xanh lá cây, mang dép râu và đội nón cối. Các đại biểu này lạnh lùng thông báo với họ là: “Chương trình và chu kỳ học vấn sẽ được thay đổi chiếu theo nhu cầu thật sự của đất nước. Kỷ luật sẽ được áp dụng triệt để. Tất cả sách giáo khoa cũ đều bị loại. Sẽ có những sách khác đang in được chở đến từ Hà Nội. Ít nhất cũng phải từ ba đến 4 tháng nữa mới đủ số lượng sách cần thiết trong kho. Và tất cả trường đều phải đóng cửa.

Về đại học, Luật khoa và Văn khoa sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Vì hai khoa này không có ích lợi gì cho xã hội hết, chỉ đào tạo những kẻ “mơ mộng” và những “ký sinh trùng”. Thay vào đó sẽ có một trường thông dịch, dạy bốn ngoại ngữ: Nga, Tàu, Anh và Đức ngữ. Tiếng Pháp không bao giờ được dùng tới nữa nên không cần có thêm người biết tiếng Pháp. Các giáo sư thuộc Văn khoa và Luật khoa phải “tự chuyển ngành trong kỷ luật xây dựng”.

Giáo chức đều phải trút bỏ “quần áo trưởng giả”. Không cà-vạt, không áo vét và cũng không được mang giầy “kiểu cọ”. Sẽ có nhiều giáo sư từ Hà Nội đến để điều khiển các lớp về chuyển hướng giáo dục và lớp cải tạo.

Đầu tháng 6, các sĩ quan cao cấp “tại ngũ hay đã về hưu”, các công chức cao cấp và các “chính trị gia” — dân biểu, nghị sĩ, tổng bộ trưởng — được gọi đi học một khóa “học tập cải tạo”. Thời gian học tập là một tháng. Khi đi “phải mang theo mùng mền, áo ấm, áo mưa, chiếu, 3 ram giấy và bút chì để ghi chép. Cũng phải đem theo 15.000 đồng để đóng tiền ăn”. Trong thời gian học tập cải tạo, “không ai được phép về nhà, hoặc liên lạc với gia đình”. Với công chức cấp nhỏ, hạ sĩ quan và binh sĩ, chương trình học tập cải tạo thực hiện bằng các “lớp học” 3 ngày. Công chức học xong được trở về nhiệm sở cũ, quân nhân thì được cấp một giấy chứng nhận cho phép đi tìm việc làm và đặt dưới quyền kiểm soát của các trưởng khóm đã được thành lập trong mỗi khu. Một bản báo cáo sau đó được chuyển cho trưởng “công an khu vực”, nơi người binh sĩ được kiểm kê. Sau này, trưởng công an sẽ phát cho người quân nhân đó một giấy “phục hồi quyền công dân” nếu xét thấy có hạnh kiểm tốt. Trong hiện tại, tất cả cựu quân nhân đều coi như “kẻ có tội” vì “các cây súng của Mỹ mà các anh đã có trong tay, không phải tự nhiên mà nó đến tay các anh. Đó là lời của các ủy viên chính trị phụ trách lớp học tập cải tạo nói với họ. Trong khi chờ được phục hồi quyền công dân, các cựu quân nhân phải chịu đói, vì tờ giấy cho phép đi tìm việc làm không giúp ích gì được cho họ. Trên thực tế, không người nào được quyền thuê mướn người chưa có quyền công dân. Sau đợt các chính trị gia và quân nhân, đến lượt thợ thuyền và các cai thợ. Lớp học tập cải tạo cho các chuyên viên nhà máy điện mở ra ở Đà Lạt vào tháng 6, đã xảy ra nhiều vụ rắc rối và nhiều phản đối. Bị buộc phải mang theo 15.000 đồng (ba phần tư số lương trong tháng), sống xa vợ xa con, họ đã phản đối tập thể, yêu cầu chính phủ bảo đảm đời sống của gia đình họ vì thiếu thốn và không có ai lo. Họ đe dọa sẽ không làm việc trở lại, nếu chính phủ từ chối yêu sách. Vì chính quyền cần có sự làm việc của họ nên đã chấp thuận một phụ cấp cho gia đình họ. Cuối khóa học tập cải tạo, các ủy viên chính trị xác nhận với họ là “thời gian học tập cải tạo được kéo dài trong 6 tuần lễ mỗi năm”. Suốt thời gian học tập không một lời nào nhắc đến Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Chỉ có hai đề tài được khai triển:

— Việt Nam từ đây sẽ là một quốc gia duy nhất, độc lập và xã hội chủ nghĩa, gắn liền với di chúc của Bác Hồ từ ải Nam Quan (*) ở Lạng Sơn đến mũi Cà Mau.

— “tàn dư ngụy” (có nghĩa là các kiểu suy luận, lối sống từ chế độ cũ và Mỹ) là “căn bệnh” mà đất nước phải loại bỏ. Phương thuốc duy nhất hữu hiệu là cải tạo.

(*) Nguyên tác: “porte de Chine

Lần lần bộ máy nặng nề và tỉ mỉ để nghiền nát các bộ não được đặt xong và chạy đều vì đã chứng minh được ở miền Bắc do nó điều hành hơn 20 năm qua. Công tác khuôn bó dân chúng được tiến hành rất có phương pháp.

— Giai đoạn thứ nhất: áp dụng kỹ thuật công an mềm dẻo nhưng quyết liệt. Mỗi công dân phải điền hai văn bản in sẵn. Một số câu hỏi chánh thức về lý lịch, trình độ học vấn, nơi cư trú trong những năm chiến tranh, việc làm. Một số câu hỏi riêng tư liên quan đến mọi người từ 18 đến 70 tuổi, đòi hỏi phải kê khai “tên những người bạn tốt nhất của mình, tên của những người mà mình chịu ảnh hưởng” và tên, địa chỉ “những mối giao lưu tình cảm cũ”. Công tác kiểm kê dân chúng Sài Gòn được tiến hành từng khóm, từ khóm này sang khóm khác. Khi kiểm kê xong, người nào muốn thay đổi địa chỉ phải xin phép chính quyền địa phương mình đang ở và phải có sự chấp thuận của chính quyền nơi muốn tới. Mỗi người xin như vậy cần có 2 nhân chứng chịu trách nhiệm lời khai không gian dối.

— Giai đoạn thứ hai: kỹ thuật hòa nhập vào tập thể và đề nghị một huyền thoại mới. Nghi lễ thật chu đáo đúng mức. Một đức Chúa nhân từ: Bác Hồ. Một lý thuyết: Mác-xít. Linh mục đọc thánh kinh: các ủy viên chính trị. Thánh ca: các bài hát cách mạng. Lời cầu nguyện: các khẩu hiệu. Lễ rước: các cuộc diễn hành, các cờ hiệu và biểu ngữ, thợ thuyền, sinh viên, các “bà nội trợ” và trẻ con. “Xưng tội” thực hiện công khai. Chân dung Hồ Chí Minh treo dán khắp nơi, trên tường, trong các nhà máy, trong trại lính và cả phòng khách của các cộng đồng tôn giáo. Tất cả dân chúng được lệnh phải treo trước nhà lá cờ đỏ sao vàng của Miền Bắc Việt Nam bên cạnh lá cờ của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Vấn đề thi hành phải kéo dài. Tốn phí mua lá cờ thứ hai đối với nhiều người là một khoản không nhỏ. Những người nghèo tiết kiệm phải cắt xén vải, làm những lá cờ nhỏ hơn. Chính quyền coi đó là một ác ý. Tức thời có những chỉ dẫn phổ biến về cách treo “đúng” cho hai “lá cờ anh em” với kích thước phải bằng nhau. Sinh viên rảnh rang vì nhà trường đóng cửa, được gom thành “tiểu đoàn” và tham gia công tác làm sạch thành phố.

Học trò “tham gia sinh hoạt cách mạng ở khu vực” với những em từ 8 tuổi. Các “liên đoàn thanh niên giải phóng” đón nhận gái trai từ 10 tới 15 tuổi.

Mỗi ngày, tờ báo chánh thức Sài Gòn Giải Phóng phổ biến công tác của vài hội nghị, của các tiểu thuyết gia, các nhà văn nghị luận hay nghệ sĩ “giải phóng” và đăng kiến nghị của họ: những lời tán tụng cách mạng, những bài hát “nhớ ơn bác Hồ và Đảng Lao Động đã dẫn dắt nhân dân đến chiến thắng.

Phải chăng những người miền Bắc thật sự hy vọng bằng cách áp dụng những phương thức mà họ đã dùng ở Hà Nội năm 1954, họ có thể “tẩy não” được dân chúng miền Nam? Đầu tiên nhìn vào, hình như khó tin được. Hà Nội là một thành phố được ngăn từng khu vực thợ thuyền, công chức và các công nhân tiểu công nghệ. Đồng bằng sông Hồng hẹp và quá đông dân. Dân quê miền Bắc còn dùng những chiếc cày tay cổ lỗ. Chiến tranh chống Pháp đã đẩy họ lên rừng hay vào những làng mạc thu hẹp trong lũy tre xanh. Chiến tranh với người Mỹ lại đưa họ thụt lùi lại thời quá khứ bằng những cuộc dội bom dày đặc, bắt họ phải sống trong hang hoặc chui trốn dưới hầm. Cầu đường bị phá, nhà ga, nhà máy, phi trường… đâu đâu cũng ăn bom làm cho dân chúng gần như trở về thời kỳ đồ đá. Họ đã quen sống cách ly hẳn với thế giới bên ngoài, không có một tờ báo đối lập, không xa hoa, không có yếu tố nào để biết so sánh, đoàn kết với nhau vì chung cảnh bất hạnh, họ không nghi hoặc về nhược điểm của sự truyền giảng một học thuyết sơ đẳng và tập thể.

Sài Gòn là một thành phố của giới giao dịch, của các chủ tiệm, chủ hãng, các nhà trí thức, các chuyên viên… Đồng bằng Cửu Long mênh mông, mầu mỡ, mở cửa hằng mấy thế kỷ ra biển cả, với hàng hải, với thương thuyền, với ngoại quốc. Làng mạc ở đây trải rộng dưới những hàng dừa, hàng cọ và dọc theo sông rạch đầy phù sa phì nhiêu là nơi dự trữ dồi dào, vô tận cho nghề đánh cá. Cuộc chiến chống Pháp đã bảo vệ cho miền Nam. Cuộc chiến chống Mỹ dù có một số điều quá mức, đã hiện đại hóa miền Nam với số trang thiết bị đến mức thừa thãi. Suốt 20 năm dài xáo trộn, chiến trận, ám sát, kinh tế khủng hoảng thường xuyên, nhưng nhờ những chuyện đó mà dân chúng miền Nam đã có lối sống Tây Phương hoá hoàn toàn. Họ khám phá ra máy móc, mô-tô, xe hơi, phi cơ, trực thăng, điện thoại, máy tính, truyền hình và máy cày đã thay thế chiếc cày tay, xe vận tải, thuyền máy đã thay thế chiếc tam bản. Họ biết thưởng thức phim ảnh và  sách báo ngoại quốc, thích nhạc jazz và biết xài các vật dụng mới lạ, tối tân. Bất cứ anh phu xích-lô nào cũng đọc hai tờ báo hằng ngày…

Như vậy làm sao tưởng tượng được là dân chúng miền Nam có thể buông xuôi chịu bước theo hướng đi nhỏ hẹp duy nhất, một chiều, mà miền Bắc cố tình áp đặt cho họ? Hà Nội muốn thống nhất đất nước và đưa Việt Nam vào con đường cộng sản dưới bàn tay sắt máu. Hà Nội có 3 yếu tố trong tay: sức mạnh, ý chí chính trị không lay chuyển và một lý thuyết mạnh. Nhưng trở ngại cũng không ít. Đưa ra một phương thức để mang ra thực hành cũng chưa đủ. Xác nhận một sự thật để biến thành một chuyện hiển nhiên cũng chưa đủ. Đề nghị thống nhất hai miền của Hà Nội là sự thống nhất trái với thiên nhiên, đe dọa gây xáo trộn đời sống của người dân. Miền Bắc và miền Nam là hai miền anh em, nhưng là anh em thù địch. Họ từng đánh nhau suốt 300 năm trước khi người Pháp tới Đông Dương. Cuộc giết chóc 30 năm vừa qua chỉ tăng thêm rạn nứt trong quá khứ. Mỗi bên đều có ít nhất cả triệu người bị giết và gần hai triệu tàn phế. Hàng trăm ngàn trẻ mất cha, mất mẹ. Hằng triệu người tị nạn bị vứt ra ngoài đường. Nhiều thành phố bị tàn phá đến điêu tàn, nhiều làng mạc bị đốt cháy.

Vĩ tuyến 17 chỉ là một gạch ngang trên bản đồ năm 1954, được các thương thuyết gia gạch lên một cách vội vã vì muốn chấm dứt cho xong một vấn đề. Một đường phi quân sự trừu tượng và hão huyền. Hai chục năm chiến trận khốc liệt đã biến nó thành một giới tuyến đầy máu.

Hòa giải cách nào để có sự kết hợp giữa hai chế độ, hai nền kinh tế, hai kiểu mẫu xã hội, hai trình độ, hai tâm thái khác nhau? Miền Bắc với lý thuyết cộng sản khắc khổ, cứng đơ theo nguyên tắc. Miền Nam tự do như vô chính phủ, hoài nghi và hưởng thụ? Một bên đang tự kiêu vì là kẻ chiến thắng. Bên kia đang nhục nhã vì là kẻ chiến bại? Các nhà phân tách hay đơn giản hóa vấn đề thường lập thành một sơ đồ cho rằng người miền Bắc với đầu óc cứng rắn và với kỷ luật sắt của họ, sẽ đạp nhẹp miền Nam.

Tôi không tin ở sơ đồ.

Con người không phải những con số để đưa vào phương trình. Miền Nam không phải nguyên khối và hay cố chấp. Họ có niềm tin và những tín ngưỡng riêng của họ. Họ không dễ dàng để mất những thứ đó. Các Phật tử, các tín đồ Công giáo, Hòa Hảo, Cao Đài đều một lòng gắn bó với chùa chiền, với giáo đường, với thánh thất của họ. Miền Bắc có thể đi tới đích mà họ muốn, nhưng còn mất nhiều thời gian… và thời gian đôi khi lại thuận lợi cho kẻ chiến bại.

(Hết Chương 24)

 

Share this post