Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 24

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 24

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 24
“BỘ ĐỘI” XÂM NHẬP THỦ ĐÔ

Thứ Tư 30 tháng Tư năm 1975

Cuộc di tản ồ ạt và ồn ào của người Mỹ chấm dứt. Chiếc trực thăng cuối cùng nặng nề cất cánh lúc mờ sáng từ khu vườn hoa của tòa đại sứ Hoa Kỳ tung lên một đám mây bụi: mớ tro những tài liệu đã đốt đêm qua.

Người dân Sài Gòn nghe đài phát thanh Úc mới biết Tổng Thống Ford vừa thông báo cùng toàn dân Mỹ rằng Hoa Kỳ đã chấm dứt sự hiện diện ở Việt Nam sau hơn “15 giờ thật dài đầy lo âu” về cuộc hành quân di tản khó khăn trong đêm qua đầy thảm họa. Bản thông báo có chữ ký của ông Gerald Ford được phát ngôn viên của ông là Ron Nessen đọc trước ống kính truyền hình: “Suốt tuần lễ qua, tôi đã cho lệnh giảm nhân viên các phái bộ Hoa Kỳ ở Sài Gòn xuống đến mức có thể di tản họ nhanh chóng trong trường hợp khẩn cấp mà không trở ngại cho công tác được giao phó. Trong ngày Thứ Hai, phi trường ở Sài Gòn chìm dưới đạn pháo và rốc-kết nên phải đóng cửa. Tình hình quân sự trong vùng trở nên tồi tệ nhanh chóng. Vì thế, tôi đã ra lệnh di tản tất cả nhân viên Hoa Kỳ hiện còn lại ở Việt Nam.

Bây giờ thì cuộc di tản đã chấm dứt. Tôi ngợi khen tất cả binh sĩ thuộc quân lực Hoa Kỳ đã tiến hành rất tốt cuộc di tản này, cũng như Đại Sứ Graham Martin và nhân viên thuộc phái bộ của ông, đã hoàn thành mỹ mãn sứ mạng trong hoàn cảnh thật khó khăn. Cuộc hành quân này đã chấm dứt một chương trong lịch sử Hoa Kỳ. Tôi yêu cầu tất cả người Mỹ hãy siết chặt hàng ngũ, tránh mọi đả kích lẫn nhau về quá khứ, để tiến tới các mục tiêu chung của chúng ta, và hãy cùng nhau chung lưng góp sức vào những công việc lớn còn lại của đất nước mà chúng ta phải thực hiện.

Vài phút sau, ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger bằng giọng nghiêm trọng và vẻ mặt mệt mỏi, bình luận với báo chí về những biến cố trong 24 giờ cuối cùng. Ông biện bạch về quyết định của Tổng Thống Ford trong việc thi hành kế hoạch “Chọn Lựa Bốn” để di tản “những người bị đe dọa nhất” qua một loạt tấn công của lực lượng cộng sản Bắc Việt vào phi trường Tân Sơn Nhứt. Không lúc nào ông nhắc tới chuyện tướng Dương Văn Minh đòi hỏi sự ra đi của tất cả người Mỹ và đóng cửa tòa đại sứ Hoa Kỳ trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Qua lời Kissinger, quyết định cuối cùng của Hoa Kỳ ở Việt Nam chỉ do mối bận tâm duy nhất là phải cứu mạng sống những công dân Mỹ cuối cùng còn hiện diện ở Sài Gòn. Về vấn đề này ông cho rằng mục tiêu đã đạt: chỉ tiếc là có 2 binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến bị tử thương vì đạn rốc-kết rơi vào phi trường Tân Sơn Nhứt trước khi cuộc hành quân bắt đầu khai triển và có 2 phi công tử nạn vì trực thăng của họ rơi ở biển Nam Hải. Henry Kissinger cũng cho biết đã đạt một mục tiêu khác là di tản 5.500 người Nam Việt Nam cùng lúc với 950 người Mỹ cuối cùng, thay vì trước đó kế hoạch di tản bằng trực thăng trên nguyên tắc chỉ dự trù bốc những công dân Mỹ thôi.

Cuối cùng về mục tiêu thứ ba, cũng như hai mục tiêu vừa nói, ông Kissinger trích dẫn từ thông điệp mà tổng thống Ford đã nói với thế giới ba tuần qua: Hoa Kỳ đã cố gắng tạo một tình hình cho phép tiến tới một cuộc thương thảo ở miền Nam Việt Nam. Vị ngoại trưởng đánh giá ngành ngoại giao Hoa Kỳ đã làm tốt nhất với hết sức mình qua trung gian của các nước thứ ba mà ông không muốn nêu tên. Ông cho biết giai đoạn đầu của cuộc di tản được tiến hành với sự đồng ý ngầm của CPLTCHMN và Bắc Việt “mà chúng ta đã cho họ biết rõ ý định của chúng ta”. Nhưng sau đó ông không cho là không thể giải thích được sự leo thang đột ngột về các đòi hỏi của cộng sản. Đánh giá thái độ “không nhẫn nại” của họ, ông ghi nhận: “Mới tuần lễ trước đây, họ chỉ đòi sự ra đi của ông Thiệu. Khi đã đạt điều đó, họ lại không thừa nhận người kế vị. Rồi khi tìm được người đối thoại dường như hợp với đòi hỏi của họ là tướng Minh, họ lại còn muốn thêm nữa. Mới tuần lễ trước đây, họ chỉ đòi “các cố vấn quân sự Mỹ” phải ra đi. Vài ngày sau, họ lại đòi sự ra đi của tất cả người Mỹ“.

Trong điều kiện đó, ông Kissinger từ chối nói trước là cuộc thương thuyết có thể diễn ra giữa những người anh em thù địch hay không, hay phải nghĩ đến chuyện Bắc Việt sẽ dùng quân lực cưỡng chiếm Sài Gòn. Dù xẩy ra trường hợp nào, ông khẳng định, Hoa Kỳ không nhìn nhận một chính phủ Sài Gòn lưu vong.

Không còn gì rõ hơn!” Người dân Sài Gòn chua cay cười khẩy, tắt máy thu thanh. “Kissinger vừa viết mộ bia của chúng ta… Nước Việt Nam ư? Đã hết rồi! Và người ta không muốn nghe nói tới nó nữa! Cuối cùng Hoa Kỳ đã tìm lại được sự yên ổn trong lương tâm của họ!

Tiếng đại bác nổ rền liên tục ở ngoại ô thủ đô miền Nam đang cuồn cuộn bốc lên những cột khói. Cuộc cướp phá hôi của tiếp diễn… Nhiều nhóm người mặt mày dữ tợn, mặc toàn đồ đen hay quân phục kaki, cầm M.16, cánh tay đeo băng đỏ, lăng xăng khắp thành phố. Đặc công cộng sản xâm nhập hay xuất hiện từ bóng tối? Không phải! Đó chỉ là bọn vô lại, tự vệ các khu phố hoặc côn đồ chuyên nghiệp đóng vai người hùng tiền sát của “lực lượng cách mạng” để đi vơ vét những ngôi nhà không có người ở. Họ tự trang bị không khó khăn. Khắp các đường phố, vỉa hè, cống rãnh… đâu đâu cũng có nón sắt, áo giáp, các loại súng và lựu đạn.

Hàng trăm xe của người Mỹ bỏ lại bên đường hay các khu chung cư, phần lớn đều chỉ còn trơ khung sườn, không vỏ ruột, không ghế ngồi, không máy móc… Quanh Tân Sơn Nhất ầm ỳ tiếng súng chiến trận nổ trở lại từ sáng sớm. Các tiểu đoàn Dù tập trung ngay trước đường bay, chiến đấu ác liệt để giúp phi công cất cánh mang đi được bao nhiêu phi cơ hay bấy nhiêu. Hơn 130 phi cơ và 20 trực thăng đã đến được Utapao Thái Lan, căn cứ B.52 của Hoa Kỳ, ngoài 18 phi cơ và trực thăng khác đến được các chiến hạm của Hạm Đội VII trong các điều kiện hết sức mạo hiểm.

8 giờ sáng, hai tràng đại pháo 152 ly đánh trúng trường trung học Gia Long, giết chết 12 người ngay tại chỗ trong đó có một vị sư của chùa Xá Lợi ở kế  cận. Nhưng đó chỉ là những tràng tác xạ cảnh cáo hay để điều chỉnh thôi. Gần như cùng lúc, một loạt rốc-kết bay xuống thành phố Chợ Lớn của người Hoa. Một trực thăng quan sát bị rơi ở ngoại ô Phú Lâm đang bị đạn pháo cày xới.

9 giờ sáng, tướng Minh có phiên họp tại Dinh Độc Lập với phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Họ vẫn chưa có tin tức gì của phái đoàn vào Tân Sơn Nhất gặp sĩ quan cộng sản ở “trại Davis”. Tướng Minh nhờ hai vị này thảo một bản tuyên bố đơn phương ngừng bắn để ông sẽ đọc trên đài phát thanh Sài Gòn.

Dinh Độc Lập không còn lính gác. Bất cứ ai muốn vào cũng được. Một người nhỏ thó, nhưng mập mạp bụng phệ qua cửa rào, băng ngang bãi đậu xe, bước lên bậc thang danh dự. Đó là tướng Vanuxem, cựu “thống chế” của De Lattre ở Bắc Việt, chuyển sang nghề làm báo. Tướng Minh từng phục vụ dưới quyền của Vanuxem, đã tiếp ông rất niềm nở và thân mật, rồi kéo ông ra riêng, cảm động nói:

— Thưa đại tướng, không còn gì để làm được nữa! Để tránh một cuộc tàn sát, tôi sẽ đầu hàng cộng sản. Ông là một chiến binh già, và chúng ta từng phục vụ dưới cùng một bộ quân phục, ông có thể nhận chuyển giùm tôi một thông điệp cuối cùng cho các đồng hương của ông không?

Tướng Vanuxem ghi vội mấy hàng chữ do tướng Minh đọc: “Chúng tôi yêu cầu nước Pháp tiếp nhận những người Việt Nam từng được nuôi dưỡng và đào tạo trong tinh thần, trái tim và lý tưởng của quốc gia này.

Một lát sau, tướng Minh lên chiếc Mercedès của tổng thống đến đài phát thanh. 10 giờ 15, đài phát thanh loan báo bản tuyên bố của tướng Minh “ra lệnh cho tất cả binh sĩ và lực lượng địa phương quân Việt Nam Cộng Hòa phải bình tĩnh chấm dứt chiến sự và ở đâu ở đó.

Khi tướng Minh về Dinh Độc Lập, vẫn có 3 chiến xa M.48 của QLVNCH bố trí im lặng dưới những gốc cây to trong vườn. Hai sĩ quan trẻ chạy lại gặp tướng Minh, bực tức la lên: “Không thể có vấn đề đầu hàng. Chúng tôi sẽ chiến đấu và sẽ chết tại đây. Tướng Minh đưa hai bàn tay to lớn nắm chặt vai của họ và nói với họ bằng một giọng cương quyết: “Quá trễ rồi các bạn ơi! Nếu chúng ta kháng cự thì họ sẽ nghiền nát thành phố bằng đạn pháo.

Sau vài phút bàn cãi, các sĩ quan này trở lại vị trí và các chiến xa rời Dinh Độc Lập, chỉ để lại khoảng 30 binh sĩ với nhiệm vụ “cận vệ” cho Tổng Thống.

11 giờ 30, ngay trung tâm thủ đô, một đại tá lớn tuổi thuộc Cảnh Sát Dã Chiến, lễ phục chỉnh tề chậm rãi bước về kỳ đài Chiến Sĩ Trận Vong trước Quốc Hội. Đứng dưới tượng hình của hai quân nhân uy nghiêm màu đồng đen, người sĩ quan cảnh sát lột mũ cát-kết cầm đặt ngay trái tim của mình rồi rút súng bắn một phát vào đầu. Ông bật té ngửa, nằm dài ra phía sau, bất động trong tư thế nghiêm lần cuối cùng giữa một bãi máu đỏ đang lan rộng ra…

Tiếng đại pháo tiếp tục nổ dữ dội, càng lúc càng gần hơn về hướng Tân Sơn Nhứt, nơi các chiến binh thuộc binh chủng Nhảy Dù đang đánh trận cuối cùng.

Trời Sài Gòn đang mưa…

Trong đại sảnh Dinh Độc Lập, tướng Dương Văn Minh cùng các thành viên chính phủ ngồi chờ cộng sản tới. Ông ăn mặc giản dị, quần màu chàm đậm, áo bốn túi, và nhắc sĩ quan tùy viên: “Người cách mạng không ai đeo cà vạt.

Chấp tay sau lưng, ông đi tới đi lui như một chủ nhà đang chờ khách đến, không tỏ vẻ gì lo lắng. Còn có gì phải sợ nữa? Ông đã ra lệnh toàn quân ngừng chiến đấu. Hai điều kiện mà phía “những người cách mạng” đặt ra là đuổi hết người Mỹ khỏi Việt Nam và giải thể Quân Đội và Cảnh Sát coi như đã thực hiện. Kể ra ông có thể chạy đi trong giờ phút cuối cùng bằng trực thăng. Nhưng ông ở lại, chờ các đại diện của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Xét cho cùng, những người lãnh đạo “phía bên kia” chẳng phải cũng là người miền Nam như ông sao? Tại sao không tin họ? Ông đã sẵn sàng trao quyền lại cho họ. Ngoài chuyện không thể thực hiện thương thuyết như đã hứa, ông tin chắc rằng ông đã cứu Sài Gòn khỏi cảnh tàn phá và hằng triệu sinh mạng. Và biết đâu người Pháp còn có thể thực hiện được một phép lạ! Tướng Minh bám chặt đến cùng những bảo đảm mà đại sứ Jean-Marie Mérillon đã trao cho ông. Vài phút trước đó, ông đã nói câu cuối cùng này với một ký giả của hãng AFP: “Ông hãy nói rõ cho đại sứ Pháp biết là ông có thấy tôi ở đây…

Lời nói sau cùng đầy ý nghĩa, thống thiết, nhưng hỡi ôi, không có chút giá trị nào!

Thình lình, tướng Minh giật nẩy người. Ông nghe một tiếng động lớn, xen lẫn tiếng xích xe. Ông nhìn đồng hồ: Đúng 12 giờ 4 phút. Vài phút trôi qua. Tiếng máy xe càng lớn hơn. Đúng 12 giờ 10 phút, ba chiếc xe tăng T.54 đẫm nước mưa cán qua hàng rào cản sơn màu trắng đỏ bao quanh Dinh Độc Lập. Họ bắn chỉ thiên một tràng dài, ủi sập cánh cổng lớn, ép dẹp dưới sức nặng và tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, chạy bừa lên các bãi cỏ trong sân. Hai chiếc xe Jeep và một xe vận tải chạy đến, qua mặt các chiến xa. Tất cả đều mang cờ Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam màu xanh đỏ với ngôi sao vàng ở giữa. Một sĩ quan cao cấp dẫn 15 “bộ đội” quân phục xanh, đội nón cối, súng trường cặp nách chĩa tới trước, rầm rập chạy lên các bậc thang trước bao lơn chánh. “Toán bảo vệ Tổng Thống Phủ” đã đặt súng thành đống trên sân từ trước, đưa hai tay lên và đầu hàng.

Vài phút trôi qua. Trên sân thượng Dinh Độc Lập xuất hiện một số lính với quân phục xanh. Họ hạ cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa xuống và từ từ kéo lá cờ của họ lên.

Trong lúc đó, viên sĩ quan cao cấp được 4, 5 bộ đội súng ống đầy mình hộ tống, ập vào đại sảnh, nơi mà tướng Dương Văn Minh đang ngồi với những cộng sự viên thân cận nhứt của ông. Viên sĩ quan đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ khiến tướng Minh vốn không biết rõ cấp bậc của quân đội nhân dân Miền Bắc, tưởng rằng mình đứng trước một sĩ quan cao cấp. Ông nói:

Ông sáu (*), tôi đã chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông.

(*) Nguyên tác: Mon general (ong sao), lui dit-il en Vietnamien.

Viên sĩ quan xẵng giọng, xưng hô “mày, tao”:

Mày dám nói là trao quyền hả? Mày chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mày không có quyền nào để giao cho tao hết. Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng trên tay. Tao xác nhận với mày tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá và ủy viên chính trị. Và kể từ bây giờ tao cấm mày không được ngồi xuống!

Mặt tướng Minh co dúm lại. Lời lẽ thô bạo, cung cách kết tội khinh miệt và giọng nói the thé của vị sĩ quan lập tức khiến ông Minh hiểu ngay là ông không được gặp người của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam mà chỉ gặp đám Bắc Kỳ (*). Mặc dù họ treo cờ Việt Cộng trên xe, nhưng không phải những binh sĩ người miền Nam đã vào chiếm dinh Tổng Thống. Đang đứng trước mặt ông là những chiếc xe tăng, những sĩ quan và bộ đội Bắc Việt thuộc lữ đoàn M26! Toàn là đám Bắc Kỳ mà ông không bao giờ ưa và họ đã đối xử với ông không như bạn hay đồng bào, mà như một kẻ bại trận!

(*) Nguyên tác: Des Tonkinois

Tướng Minh cố gắng tự kềm chế, nói tiếp bằng một giọng mà ông muốn dịu dàng hơn:

— Chúng tôi đã có làm sẵn một bữa cơm để tiếp các ông. Có yến, súp măng cua…

Viên trung tá Bắc Việt ngăn ông lại và xẵng giọng:

— Mày và “những đứa khác”, tụi bay đang ở tình trạng bị bắt. Hãy giữ cái bếp tư sản của mày lại. Chúng tao sẽ ăn cơm dã chiến: một nắm cơm nắm và một hộp thịt kho mặn.

Tất cả tổng trưởng hiện diện đều bị nhốt trong một gian phòng, sau khi được khám xét không khoan nhượng. Bây giờ, Dinh Độc Lập đầy ắp nhà báo ngoại quốc tràn tới mấy chiếc T54.

Tướng Minh bị đám binh sĩ bao quanh chĩa súng vào người, và viên sĩ quan vung khẩu súng lục kếch xù đẩy ông lên một chiếc xe Jeep, rồ máy phóng đi dưới hàng loạt ánh chớp từ máy ảnh, máy quay phim của báo chí. Những người cộng sản đưa ông đến đài phát thanh để ông phải lên tiếng kêu gọi lần chót các binh sĩ còn tiếp tục chiến đấu. Vì chiến trận vẫn diễn ra gần như khắp nơi, ở ngoại ô, ở Chợ Lớn, quanh Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát, ở khu vực gần Tân Cảng, trước trung tâm truyền tin Phú Lâm…

Hồi 13 giờ, tướng Minh được đưa trở về Dinh Độc Lập và bị nhốt trong một văn phòng ở dưới tầng hầm.

Nhiệm vụ của ông coi như đã hoàn tất. Một nhiệm vụ đặc biệt, ngắn ngủi. Không đầy 48 tiếng đồng hồ từ lúc nắm chính quyền tới lúc bị cách chức…

oOo

Trên đại lộ từ Sở Thú đến Dinh Độc Lập, nhiều xe tăng khác đi tới, đầy bụi bậm bùn sình hòa lẫn với cơn mưa lắc rắc và trên xe còn nguyên cành lá nghi trang. Tất cả pháo tháp đều mở toang. Phía sau các khẩu liên thanh nặng với ổ đạn tròn, một anh lính chiến xa đội nón cối bằng da đen đang ghì chặt bàn tay vào cò súng. Binh sĩ ngồi hai bên khẩu đại bác nòng dài, hai tay nắm chặt khẩu súng tự động. Nối theo các chiến xa là bộ binh cơ giới, đứng chật ních trên các xe vận tải Molotova của Nga. Phía sau xe bộ binh là các dàn súng cao xạ, đi hàng ba, cũng được cơ giới hóa trang bị mỗi xe 4 khẩu liên thanh ghép.

Chậm rãi và thận trọng, nhiều toán bộ binh cộng sản đi bộ vào đường Pasteur. Một tràng súng nổ ròn khoảng ngang Tòa Án. Rồi có tiếng lựu đạn, tiếng súng máy từng hồi nối tiếp tràn lan. Binh sĩ đi vào đường Catinat, con đường nổi tiếng là xa hoa của người dân Sài Gòn. Một chiếc Jeep chở đầy “du kích” với quân phục tạp nham, đảo một vòng quanh kỳ đài chiến sĩ miền Nam rồi chạy lại trụ sở Quốc Hội. Cửa trụ sở đang đóng kín. Một người mặc quần xanh áo sơ mi kaki bạc màu, chân đất, leo qua rào gỡ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa xuống và treo vào đó lá cờ của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam.

Khu Quốc Hội và đường Tự Do vắng tanh, không một bóng người. Các tiệm buôn đều đóng kín cửa kể cả cửa sổ cũng sập xuống. Không một bó hoa hay tiếng vỗ tay hoan nghinh chào đón người “giải phóng”.

Xa xa, tiếng đại liên vẫn nổ ròn, thỉnh thoảng bị ngắt bằng những tiếng nổ ngắn nhưng nặng nề. Binh sĩ Dù còn quyết liệt chống giữ lối vào phi trường Tân Sơn Nhất. Sáu chiến xa T54 và hơn một chục Molotova đang bốc cháy trên các đường bay. Cuộc chiến cũng tiếp diễn tại nghĩa trang lớn của quân đội giữa những hàng thập tự giá trắng tinh dọc theo các ngôi mộ và có những quả đại pháo làm bật tung các hòm lên.

Đợt xe tăng cộng sản đầu tiên vào Sài Gòn từ hướng Đông theo con lộ Thủ Đức cũ thời Pháp và theo xa lộ Biên Hòa thời Mỹ. Các cánh quân hướng Bắc từ Bến Cát và Tây Ninh chỉ vào được trung tâm thành phố lúc 17 giờ chiều. Họ đến trễ vì bị đụng nặng từ chiều hôm qua tại vùng Hóc Môn, nơi có trung tâm huấn luyện Nhảy Dù do lữ đoàn 4 Nhảy Dù trấn giữ, tập trung dưới sự chỉ huy của đại tá Vinh, một sĩ quan to con đen sạm không chịu tuân theo lệnh ngưng bắn. Các cánh quân Bắc Việt bị thiệt hại rất nặng, sau đó, còn phải giao chiến ác liệt ở hai điểm trong đường phố: một ở trước Bộ chỉ huy Cảnh Sát Lưu Thông, nơi có hơn trăm Cảnh Sát Dã Chiến chống giữ gần một tiếng đồng hồ trước khi bị chiến xa cộng sản đè bẹp, và một nơi khác ở ngay ngã tư Chasseloup và Verdun (Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt), chỉ có vỏn vẹn 4 anh lính Dù với súng liên thanh và súng không giật đã quyết chiến trong hơn 50 phút, bắn cháy nhiều quân xa cộng sản, rồi vì hết đạn, họ ra khoảng trống giữa đường, nắm vai nhau thành một vòng tròn và cho nổ một xâu lựu đạn để cùng tự sát.

Lữ đoàn 4 Nhảy Dù đánh với cộng sản xung quanh Tân Sơn Nhứt và ngay trong Bộ Tham Mưu, ở đó họ dùng súng không giật bắn cháy 3 chiến xa rồi tối đến họ rút trong trật tự theo “con đường cũ kỹ của đồn điền cao su” về Chợ Lớn. Họ không để lại phía sau một người chết hay một người bị thương cũng như quân trang quân dụng nào.

Chiều tối, 400 binh sĩ mũ đỏ, rút về từ Hóc Môn và phi trường tập họp xung quanh đại tá Vinh, còn tiếp tục chiến đấu quanh khu chợ và các nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn. 22 giờ đại tá Vinh cho lệnh họ phân tán thành toán nhỏ, lợi dụng đêm tối đi về Đồng Bằng Cửu Long. Riêng vị Đại tá Dù, một chiến binh “nhảy ở chiến trận” dày dạn, từng được đào tạo ở Trung Tâm Nhảy Dù Pau của Pháp trong thập niên 50, không đầu hàng.

Ông tự cho nổ một phát vào đầu bằng chính khẩu súng phóng lựu của ông!

oOo

Hôm sau, 1 tháng 5, dân chúng Sài Gòn ngơ ngác và nhốn nháo, ngạc nhiên tại sao mình còn sống, đã điện thoại tìm tin tức của nhau. Buổi sáng, trước hết có nhiều nhóm nhỏ, rồi lần lần đông hơn, họ ra khỏi nhà để khám phá những trung đoàn binh sĩ quân phục xanh lá cây đã vây hãm thành phố của mình đêm qua. Những binh sĩ này — một số chỉ cỡ 16 tuổi — với bộ mặt ngờ nghệch, gầy đến hai gò má nhô cao, quân phục rộng thùng thình bằng vải bố thô, cổ quàng khăn, chân mang dép râu, một loại dép làm bằng vỏ xe cũ, thoạt nhìn như những anh nhà quê vụng về mới vào thành phố lớn lần đầu.

Bãi cỏ lớn rợp bóng mát trước Dinh Độc Lập đầy những xe tăng, xe chạy xích và những “bộ đội” đang ngồi xổm quanh các chiến cụ đáng sợ của họ. Lúc này, giữa những bãi cỏ gần nhà thờ Chánh Tòa, họ đang nấu cơm bằng củi. Hệt như họ đang cắm trại trong rừng vậy. Một số người đang giặt quần áo. Phần đông đang soát lại vũ khí cá nhân, tháo ra lau chùi cẩn thận như những anh thợ sửa đồng hồ. Binh sĩ xài súng AK47 hay tiểu liên Tiệp Khắc rất ngắn mà tốc độ tác xạ nhanh, bá xếp có móc. Sĩ quan xài súng lục Liên Xô, có tên là súng lục Makarov và loại súng lục Stechkin lớn hơn, vỏ bằng cây có thể ráp lại thành bá súng để đưa lên vai nhắm bắn một mục tiêu xa chừng 120 thước.

Người dân Sài Gòn thận trọng bước lại gần các xe Molotova và bắt chuyện với bộ đội. Họ tò mò hỏi:

— Các anh từ đâu vô đây vậy?

Các câu trả lời lúc nào cũng giống nhau với một giọng phát âm hơi chói tai:

— Từ ngoài Bắc…

Sau đó mới là tên của thành phố hay các tỉnh như Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình v.v… Không thể nghi ngờ chút nào, tất cả lính chánh quy vào Sài Gòn đều là dân Bắc Kỳ. Miền Nam không phải được giải phóng mà là bị chiếm! Các đại diện của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam đều vô hình.

Quyền hành chánh tại thành phố Sài Gòn thuộc Ủy Ban Quân Quản mà người chỉ huy là tướng Trần Văn Trà, 57 tuổi, tuy gầy gò nhưng rất khỏe, hàm rộng, đôi mắt sắc mang kính gọng sừng, tóc đen và hớt ngắn. Trần Văn Trà gốc miền Trung, một người đấu tranh cách mạng già dặn, đảng viên đảng Xộng Sản Đông Dương, bị tù năm 1939, vượt ngục năm 1944. Từ 1946 đến 1951, ông là người phối hợp hoạt động của 4 vùng quân sự Việt Minh ở miền Nam để chống lại lực lượng viễn chinh Pháp. Sau Hiệp Định Genève, ông tập kết ra Hà Nội, trở thành Tổng Tham Mưu Phó “Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt” rồi là Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương ở miền Nam. Ông còn là Ủy viên dự khuyết Bộ Chính Trị cộng sản ở Hà Nội. Năm 1968, ông tổ chức cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân, và năm 1972, chỉ huy trận tấn công vào An Lộc. Sau thời kỳ đó ông đứng hàng thứ ba trong hệ thống quân ủy của miền Bắc, sau tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Văn Tiến Dũng. Vào đến Sài Gòn đầu buổi trưa, ông đến ngay Dinh Độc Lập. Ông cho tổ chức buổi lễ chánh thức “bàn giao quyền hành”, sử dụng đội ngũ quay phim của cộng sản trong công tác thu hình để tuyên truyền và ra lệnh thả tướng Minh và các tổng trưởng của ông này.

4 giờ 30 chiều, tướng Minh rời khỏi phòng giam ở tầng dưới. Ông bước lên bao lơn chánh của Dinh Độc Lập luôn có lính canh chừng theo sát, đi dọc hành lang trải thảm đỏ để vào căn phòng nhỏ của các tùy viên. Một sĩ quan Bắc Việt đến nói với ông:

— Ông ở đây đợi lệnh của chính quyền cách mạng.

Các nhà báo “xã hội chủ nghĩa” vào phòng. Phóng viên báo Quân Đội Giải Phóng đến trước tướng Minh hỏi:

— Ông nghĩ gì về các biến cố mà ông vừa trải qua?

Tướng Minh im lặng vài giây… sau đó mới trả lời, không quên dùng toàn danh từ tuyên truyền cộng sản:

— Chúng tôi đã ý thức được sức mạnh của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời và của Quân Đội Giải Phóng. Các đơn vị Thiết Giáp của Giải Phóng Quân thật hùng mạnh. Quân đội Sài Gòn không còn lực lượng để chống trả. Chỉ còn một quyết định đúng nhất là đầu hàng không điều kiện mà thôi.

Và ông nói tiếp:

— Thật vậy, chúng tôi tin tưởng các ông, nếu không thì chúng tôi không đem cả gia đình đến đây để chờ các ông tới. Các ông đã đi đến chiến thắng một cách nhanh chóng. Chúng tôi rất là có phước, thật sự rất là có phước. Chúng tôi và gia đình chúng tôi không hề hấn gì. Đúng vừa là một niềm an ủi vừa là một niềm vui.

Nguyễn Văn Huyền, lãnh tụ giáo dân, quá mệt mỏi, được phép vào nằm nghỉ trong phòng. Để trả lời các nhà báo muốn biết “ý kiến của ông về đường lối chính trị của Chính Phủ Cách Mạng”, ông trả lời nước đôi với giọng nhẫn nhục và dè dặt: “Chúng tôi không chấp nhận các “người di tản”. Là người Việt Nam thì họ phải ở lại sống trên đất nước quê hương của mình chớ?

Vũ Văn Mẫu, vị cựu thủ tướng thì tươi cười, nhảy nhót và bày tỏ một niềm vui nhiệt thành ra mặt: “Các anh đánh hay lắm, đánh rất là hay!“. Ông hướng về các cán bộ Bắc Việt đứng lẫn trong đám nhà báo. Tôi rất bằng lòng là đã đuổi hết người Mỹ đi. Bây giờ thì chỉ có chúng ta với nhau mà thôi“. Ông nhắc lại lịch sử cái “đầu trọc” của ông, “vào lúc đó là dấu hiệu để phản đối sự bầu cử Tổng Thống gian lận và độc diễn của ông Thiệu“, và ông thích thú nói thêm: “Từ hôm nay là tôi sẽ để tóc lại được rồi!“. Ông nói tiếp về nơi chôn nhau cắt rún của ông là quận Thường Tín ở phía Nam Hà Nội.

Nguyễn Văn Hảo, cựu phó thủ tướng đặc trách kinh tế đưa tay lên, nói lớn: Thật đáng phục là các anh đã đánh bại được Hoa Kỳ, chúng tôi hy vọng tất cả tài nguyên của đất nước sẽ được dùng để xây dựng đất nước chúng ta.

Lý Quí Chung, cựu tổng trưởng thông tin, nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Chỉ binh sĩ và những người chỉ huy của quân đội cách mạng mới thật sự là những người chiến thắng. Sự đóng góp của chúng tôi là quá nhỏ nhoi. Và sau vài phút suy nghĩ ông lại nói thêm: “Chúng tôi biết rất rõ tình hình. Chúng tôi tin tưởng ở đường lối chính trị của cách mạng. Cuộc chiến thắng vĩ đại này thuộc về toàn dân Việt Nam. Từ đây về sau chúng tôi không còn một chút bận tâm lo nghĩ gì nữa. Nhìn qua cửa sổ thấy đám đông dân chúng tò mò đang tập trung nhìn cánh cửa rào của Dinh Độc Lập bị xe tăng T54 cán sập, ông ta phân chứng với các nhà báo: “Xem kìa, dân chúng đang ùa tới chào mừng chiến thắng của các chiến sĩ giải phóng. Chưa từng thấy cảnh này ở đây bao giờ. Lịch sử Việt Nam đã bước vào một kỷ nguyên mới.

Lúc 5 giờ chiều, trong đại sảnh Dinh Độc Lập diễn ra cuộc gặp gỡ chánh thức giữa những người đại diện của Ban Quân Quản Sài Gòn – Gia Định và “16 nhân vật trách nhiệm của chế độ cũ” ở miền Nam. Thứ tự ngôi thứ được áp dụng triệt để nghiêm túc. Đại diện Ủy Ban Quân Quản và các chỉ huy đơn vị của Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt (11 tướng tá) được xếp ngồi ở hàng ghế danh dự, các ghế dựa có bọc lụa đỏ. Trước mặt họ là tướng Minh và những thành viên của “cơ quan hành chánh cũ” hai bàn tay phải úp xuống đầu gối.

Một đại diện Ủy Ban Quân Quản thông báo là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời đã cho phép họ được tự do trở về nhà. Ông ta bày tỏ hy vọng là tùy theo khả năng mỗi người, họ sẽ “đóng góp vào công tác xây dựng đất nước”.

Các vị tổng trưởng và tướng Minh “cảm động” vỗ tay. Tướng Minh sau dấu hiệu gật đầu của tướng Trà, đứng dậy, bước tới mi crô, tuyên bố với giọng run run: “Tôi xin thành thật gởi tới Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam và lực lượng Quân Đội Nhân Dân Giải Phóng lời chúc mừng nồng nhiệt về chiến thắng hoàn toàn và quyết định vừa qua. Ở vào tuổi 60, tôi rất hạnh phúc được trở về với đời sống một công dân bình thường của nước Việt Nam thật sự tự do và độc lập. (*)

Chương trình và diễn tiến của buổi lễ được dàn dựng chi ly từ Hà Nội và được các chuyên viên đưa từ Hà Nội vào quay thành phim từ đầu đến cuối. Cuốn phim này được trình chiếu trong tất cả các rạp hát trên toàn quốc Việt Nam và ở những nước “xã hội chủ nghĩa anh em”.

(*) Tác giả chú thích: Chỉ vài tuần lễ sau, tướng Minh được bí mật đưa ra Hà Nội bằng phi cơ. Ở đó ông được các nhân vật lãnh đạo cộng sản trong Bộ Chính Trị thẩm vấn suốt 10 ngày về “tiến trình mưu toan với thực dân Pháp để cướp chính quyền chống lại quyền lợi của cách mạng”. Khi được đưa trở lại Sài Gòn, tướng Minh bị “quản chế tại gia”, mỗi ngày có một cán bộ của đảng Cộng Sản đến nhà để “cải tạo” ông.

oOo

Những ngày kế tiếp, binh sĩ chánh quy Bắc Việt thuộc các sư đoàn đã đánh vào Sài Gòn được phép đi dạo thành phố. Thủ đô miền Nam Việt Nam và mặt tiền của thành phố với các tiệm nữ trang, hàng sơn mài, hàng sành sứ, đồ cổ và các phòng trà với vách toàn kính gương, với các chợ đầy ắp mọi loại thực phẩm, thức ăn… đã khiến họ chóa hết mắt mũi và quá đỗi ngạc nhiên. Các binh sĩ này đều in trong trí rằng mình “giải phóng” một thành phố đói nghèo đang bị áp bức bóc lột, nhưng họ phát giác ra đây là một thành phố lớn ở miền Nam, giàu có, linh hoạt, hạnh phúc, chỉ bị ảnh hưởng một ít về chiến tranh. Các “bộ đội” trẻ đi phép này đi từng cặp hai người một, bàng hoàng choáng váng vì sự lưu thông ở đây, dán mắt khắp các tủ kính đầy ngạc nhiên như những chàng nhà quê cục mịch. Các “phó nhòm” chụp hình lấy liền bằng máy Polaroid trên đường phố càng làm họ sửng sốt đến không nói nổi một lời. Họ đi lẫn vào các đám đông dân chúng, để thử cố gắng bắt chuyện, cố mỉm cười để tỏ ra là có lễ độ.

Yên chí với tính trẻ con dễ dãi của các “anh cả” Bắc Kỳ, người dân bé nhỏ và không có chính phủ của thành phố lớn này hội nhập rất mau với các chủ mới. Lực lượng chiếm đóng bị đưa ngay vào tròng: trộm và đổi chác vật dụng, từ hộp thực phẩm khẩu phần qua những bao đường, đến hút xăng ra từ các chiến xa hay các xe vận tải, buôn đủ mọi thứ. Tất cả “bộ đội” đi phép đã nhanh chóng không còn đồng nào trong túi, miễn là có được chiếc đồng hồ bằng nhựa không còn chạy, đôi kính chống nắng của Mỹ, chiếc máy thu thanh bán dẫn vừa đánh cắp đâu đó. Người ta còn cho họ hút cần sa mà họ vẫn không biết…

Một số khác bị sắc đẹp của mấy cô gái ăn sương mê hoặc, bị cám dỗ đưa vào các phòng ngủ qua đường rồi vài ngày sau lũ lượt kéo nhau đi khám bệnh hoa liễu.

Các xe mô-tô Nhật thì quá thành công. “Bộ đội” đèo nhau từng hai, ba, có khi bốn người chạy bất kể, nổ máy liên hồi, báng vào các lề đường, đôi khi tông vào cột đèn hay tuông vào bồn nước lớn ở đại lộ Charner. Dân Sài Gòn dứt khoát nghĩ rằng những “bộ đội” này quá vụng về và dễ bị quay lắm.

Nhưng “trò chơi láu lỉnh” này không kéo lâu mãi được. Nhiều xe phóng thanh bắt đầu chạy khắp thành phố cảnh cáo trò “lừa bịp” các “giải phóng quân” là bất lương… và hành động đó sẽ bị “nghiêm trị”.

Biện pháp đầu tiên nhắm vào các “chủ trương quyến rũ, hủ hóa và mua bán đổi chác”, Uỷ Ban Quân Quản loan báo “các nhà thổ, các tiệm hút, các tiệm nhảy, bài bạc và mọi tàn tích xã hội suy đồi kiểu Mỹ bị cấm hẳn từ đây”.

Cứ mỗi 5 ngày, binh sĩ trú phòng sẽ được thay đổi. Không còn thấy xăng lẻ bán ở lề đường. Xe Honda cũng vậy. Lượng xăng cạn dần và không còn được tiếp tế nên các trạm xăng tuần tự đóng cửa. Xe đạp bắt đầu thay xe mô-tô. Trên tường treo đầy các bảng ghi rõ nghiêm trị thật nặng những ai còn tàng trữ vũ khí, đạn dược và máy truyền tin.

Ngày 4 tháng 5, có lệnh cho dân chúng Sài Gòn phải làm công tác vệ sinh và treo cờ trong thành phố để thành phố “trở nên sạch sẽ, tinh khiết, vui vẻ và cách mạng”. Mọi người đều phải ra quét dọn trước nhà mình. Có những người “tình nguyện” đi hốt hàng đống rác hôi thối còn nằm trên lề đường hay trong các cống rãnh từ nhiều ngày qua. Các bà thì lo may cờ “giải phóng”. Dân chúng ở các khu nghèo là những người ít vội vàng trong việc treo “cờ cách mạng”: cờ bán quá mắc, từ 1500 đến 1800 đồng một lá (bằng tiền công 3 ngày làm việc).

Ngày 6 tháng 5, “nhân dân” đập nát tượng đài chiến sĩ Việt Nam trước Quốc Hội: Đó là 2 anh Thủy Quân Lục Chiến đang trong tư thế xung phong súng chĩa tới trước. Tượng đài sập xuống gây nên một tiếng vang lớn.

Ngày 7 tháng 5, tức một tuần lễ sau ngày thành phố đổi chủ, Uỷ Ban Quân Quản ra mắt lần đầu với dân chúng tại Dinh Độc Lập. Từ tối hôm trước, người dân được mời đến đứng ở bãi cỏ trước Dinh, ở đó họ sẽ vỗ tay hoan nghênh những người lãnh đạo mới. Không biết vì không có thiện ý hay vì trời xấu (mưa suốt đêm) buổi sáng không có bao nhiêu người đến dự. Những người lạc quan ước tính sẽ có khoảng từ 20 đến 25 ngàn người. Và còn hơn thế nữa vì phần lớn cử tọa được tính là “bộ đội” mặc quân phục. Đối với một thành phố có 4 triệu dân, con số ước tính đó không là bao. Đối với một thành phố “được giải phóng khỏi 30 năm bị áp bức bóc lột“, con số đó gần như vô nghĩa. Trên bao lơn, tướng Trà chánh thức đọc bài diễn văn đầu tiên. Đám đông giương các biểu ngữ và vẫy các lá cờ nhỏ. Có quân nhạc và có tiếng vỗ tay…

Nhưng, quá rõ ràng là không thấy có niềm vui nào ở đây hết. Các ủy viên chính trị cố sức nhấn mạnh từng khẩu hiệu qua ống loa cầm tay của họ, nhưng không thấy những tiếng hô theo nồng nhiệt. Nhìn chung, khán giả miền Nam chưa có khả năng trả bài thuộc lòng đối với những khẩu hiệu mới mẻ.

Hôm sau, 8 tháng 5, tất cả 54 rạp chiếu bóng ở Sài Gòn cùng chiếu cuốn phim duy nhất: “Trận chiến Điện Biên Phủ“.

Qua hình ảnh cũ từ hơn 21 năm, khán giả Việt Nam thấy hằng ngàn binh sĩ Pháp thất trận đang đi ra khỏi hầm trú ẩn, hai tay đưa lên trời. Một chút lịch sử được nhắc lại không đủ khả năng làm vẩn đục tâm hồn thanh thản của các nhà ngoại giao Pháp đang mài miệt bênh vực đường lối chính trị vĩ đại của họ là “tình hữu nghị giữa Ba Lê và Hà Nội. Nhưng nó gây khó chịu sâu đậm cho những công dân Pháp còn đang bị kẹt lại Sài Gòn.

Các nhà báo ngoại quốc được mời dự buổi họp báo đầu tiên của Ủy Ban Quân Quản. Đây cũng là buổi họp báo cuối cùng! Bài nói của tướng Trần Văn Trà được một thông dịch viên dịch ra tiếng Anh. Ông trình bày quá dài dòng, chán ngắt về công tác vãn hồi trật tự và an ninh, về sự biết ơn đối với các “quốc gia xã hội chủ nghĩa anh em” đã đóng góp vào chiến thắng. Mạc Tư Khoa được nghe nhắc đến nhiều lần, còn Bắc Kinh chỉ nghe nói phớt qua.

Suốt tuần qua, các nhà báo đã cố tìm nhưng không hy vọng gặp được một đại diện nào của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Họ đã hỏi tướng Trà về “sự vắng mặt không thể giải thích được của Chính Phủ Lâm Thời này. Tướng Trà cười trừ, trả lời xoay quanh để thoát ngõ bí: “Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam đang ở trong miền Nam Việt Nam nhưng tôi không muốn nói với các anh là họ ở đâu.

Thật lạ lùng cho cái Chính Phủ Lâm Thời như vô hình và bất khả truy tầm này khi chiến tranh đã chánh thức chấm dứt mà tính cách bí mật vẫn tiếp tục.

Từ lâu rồi, chúng tôi không tin những lời hứa hẹn mà Hà Nội lớn tiếng tuyên truyền: “Một miền Nam trung lập… được giải phóng khỏi sự kềm chế của ngoại bang… phục hồi tư cách chân chính… Xã hội chủ nghĩa không thể áp dụng ngay ở đây… Miền Nam là miền Nam… Chúng tôi luôn nghĩ tới tính cách cá biệt của miền Nam. Trước hết phải thành lập tại Sài Gòn một chính phủ đoàn kết quốc gia để hòa giải mọi công dân quanh một chương trình tối thiểu nào đó. Sự thống nhất hai miền sẽ tới sau này… nhưng phải dưới hình thức một Liên Bang“. Những ai đã gắn bó ngây thơ trong trắng vào sự hòa giải quốc gia tự nhiên giữa những người anh em miền Bắc và miền Nam với nhau… bây giờ mới cay đắng biết rõ đó chỉ là ảo tưởng… Còn những ai hy vọng có thể nói chuyện với “phía bên kia” thì bây giờ còn đang đi tìm người đối thoại.

Vào những ngày cuối cùng trước khi mất miền Nam Việt Nam, các quan sát viên quốc tế đều ghi nhận có một “khoảng trống chính trị” ở Sài Gòn.

Hôm nay, Sài Gòn là một bãi sa mạc chính trị, nơi đó những “con ma” Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam được chờ đợi như một ảo tưởng. Trên thực tế, cái Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam từng bị tàn sát trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968 chỉ là con chim mồi không hơn không kém, hệt như cái gọi là “lực lượng thứ ba Việt Nam không cộng sản”… tất cả đều không ai nắm bắt được và cũng không đại diện cho ai, nhưng chánh sách ngoại giao Pháp đã khờ dại dựa trên đó để đặt niềm hy vọng bảo vệ quyền lợi của nước Pháp. Không còn nghi ngờ gì nữa, quyền hành thật sự đang ở trong tay Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt. Và tướng Trần Văn Trà, người “chủ” mới của Sài Gòn cũng chỉ là công cụ của quyền hành đó.

(Còn tiếp – Chương 24)

Share this post