Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 25

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 25

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 25
SỰ HIỆN DIỆN CỦA NGƯỜI PHÁP?

Rồi đây số phận cộng đồng Pháp ở miền Nam sẽ ra sao? Người “bi quan”, trong đó có tôi, nghĩ rằng tất cả rồi sẽ hệt như đã xảy ra ở miền Bắc năm 1954. Nghĩa là cũng sẽ tới kỳ hạn mà cục “bướu” ngoại quốc cuối cùng này bị trục xuất. Người “lạc quan” thì vẫn còn tin rồi cũng có khả năng cho một giải pháp thỏa hiệp nào đó.

Các sự việc xảy ra đã chấm dứt cuộc tranh luận này.

Người Pháp — từng được mến mộ vào những ngày cuối cùng trước khi Sài Gòn thất thủ — không có chút quyền lợi đặc biệt nào sau khi Bắc Việt chiếm thành phố. Còn ngược hẳn lại! Những người đầu tiên biết rõ như vậy là các nhà báo bị kẹt lại Sài Gòn. Họ không ngạc nhiên khi thấy họ được xếp sau hẳn, sau thật xa đồng nghiệp Anh, Nhật… và cả Mỹ, trên danh sách những người được ra đi. Người Pháp được xếp vào loại “người có quốc tịch khác”, gần như là nạn nhân các nỗ lực sau cùng của chính phủ Pháp nhằm tìm một giải pháp chính trị cho miền Nam Việt Nam. Nhưng chỉ có khoảng 50 nhà báo thôi… và họ đeo theo chính quyền mới với sự tò mò liên tục, với nỗi lo âu muốn biết thêm tin tức, và vì sự hoài nghi của họ. Một chiếc phi cơ cũng đủ để dẹp gọn họ. Khi họ đi rồi còn khoảng 12.000 người Pháp ở lại Việt Nam. Trong số đó có chừng 2.500 là người Pháp chánh gốc (cộng tác ở đây, thương gia, nhà trồng tỉa, về hưu, nhân công các hãng xưởng Pháp,,,), trên lý thuyết là những người có thể tùy hoàn cảnh hoặc sẽ rời khỏi đây sau khi quan hệ bình thường được tái lập, hoặc sẽ ở lại nếu xí nghiệp của họ được phép tái hoạt động.

Thật ra, thực hành không đi đôi với lý thuyết: nhiều lắm là vài trăm người trong số này có thể ra đi. Liên lạc hàng không rất bất thường và rất kỳ lạ. Đều đặn thường có thông cáo dán trên một tấm bảng đen trước cửa Bộ Ngoại Giao cũ hay trước Sở Di Trú. Đầu tuần, một ủy viên chính trị nào đó lấy phấn viết lên tấm bảng đen rất rõ như sau: “Sắp tới sẽ có chuyến bay đi Vạn Tượng… Ngày, giờ khởi hành sẽ được thông báo đúng lúc“. Những người đã có hộ chiếu đều sửa soạn va-li, nhảy lên tắc xi và chạy ra sân bay Tân Sơn Nhứt. Binh sĩ giữ an ninh ở đây đẩy họ ra. Không dự trù có chuyến bay nào. Họ lại trở về thành phố. Lại chờ đợi… Cuối tuần một anh lính gác bôi bỏ thông cáo nói trên, và sáng thứ Hai, cũng ủy viên chính trị kia viết lên bảng đen những dòng thông báo cũ với vẻ nghiêm trọng không kém tuần trước… cho đến khi có một chuyến bay cất cánh. Chuyện này có nhiều lý do không giống nhau. Các chuyến bay con thoi của Lào đã ngừng bay vì chính quyền cộng sản ở Sài Gòn bán vé thì thu đô-la Mỹ mà muốn trả cho hãng Hàng Không Lào bằng tiền đồng của Việt Nam, loại tiền tệ gần như chỉ có giá trị ở Sài Gòn thôi. Ngoài ra, các chuyên viên của miền Nam Việt Nam (truyền tin, ra-đa, điện tử, kỹ sư thông tin liên lạc vv…) đều đã ra đi với người Mỹ, và cộng sản không có nổi một người để thay thế.

Một số trở ngại khác là một phần dụng cụ của Air France tối cần thiết cho công tác điều hành khi phi cơ đến và đi (máy điện toán, truyền tin, tổng đài điện thoại, kho dụng cụ thay thế, xe đẩy và kéo phi cơ, xe nâng hàng và tiếp tế xăng nhớt vv…) đã mất hết không còn dấu vết. Kho hàng gởi đi gồm cả 8 tấn hàng quý giá (trong đó có 3 tấn ngọc thạch của một người buôn đồ cổ giàu có) đã không cánh mà bay. Không biết ai đã cướp sạch. Ban Giám Đốc hãng Air France của Pháp ở Ba Lê đề nghị với chính quyền cộng sản cho họ đưa sang các toán chuyên viên và một số dụng cụ thay thế. Họ nghĩ như thế là họ có thể tái tục các chuyến bay vào tuần lễ đầu của tháng 7. Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn không nói “không” và nêu nhận xét của cách mạng là hãng Air France nhiều năm qua đã không tỏ thiện chí trong việc tái lập đường bay Ba Lê và Hà Nội. Ngoài nguy hiểm mà đường bay nói trên mở lại trong lúc Hoa Kỳ đang dội bom Bắc Việt, đường bay này cũng không có lời. Dù muốn dù không, cả 2 hãng hàng không Pháp, Air France và UTA, đã không có hoạt động nào từ khi Sài Gòn bị chiếm. Dường như họ không thể tìm lại một đường bay nào cả. Hàng không dân sự được Hà Nội trực tiếp quản lý. Mặc dầu đã cố nài nỉ nhiều lần, đại diện hãng Air France vẫn không được phép đến phi trường để xem xét các cơ sở của hãng hầu thiết lập một bản kiểm kê chính xác về các phương tiện và vật dụng đã thất thoát.

Thế là việc tái lập đường bay đến Sài Gòn coi như đình hoãn vô hạn định. Chỉ có một chuyến bay duy nhất là phi cơ của Liên Hiệp Quốc. Những người Pháp nào được bảo đảm là có quyền ra đi… trong thời hạn nào đó, chỉ còn kiên nhẫn nằm chờ. Vả lại, người Pháp bất cứ gốc gác thế nào, người Pháp chính cống hay người có quốc tịch Pháp cũng vậy, đều không trông đợi được ở Lãnh Sự Quán hay Đại Sứ Quán của mình. Đại sứ Pháp, ông Mérillon không còn thấy ở đâu nữa và ông cũng không tiếp ai hết. Tòa đại sứ Pháp có đầy đủ tiền bạc, lương thực, nước uống… không thiếu món chi, nên đã đóng kín cửa. Và ông đại sứ mà bổn phận đầu tiên là phải đi thăm những người Pháp đang ở cảnh khốn quẫn, để an ủi, giữ cho họ yên tâm, vững lòng để vượt qua tình thế hay giải quyết những bài toán khó khăn mà họ đang gặp, để bênh vực quyền lợi của người Pháp với chính quyền mới,,, nhưng ông không bao giờ bước ra khỏi nhà. Ông chỉ khuyên người Pháp không nên treo cờ Pháp quá nhiều, vì theo ông, dù chỉ treo tạm nhưng sự kiện treo quá nhiều cờ tam tài có thể được coi là một sự “khiêu khích”.

Người Pháp gặp rất nhiều khó khăn…

Những người có biệt thự với đầy đủ tiện nghi hoặc nhà thường thôi mà ở khu vực ngoại ô cũng bị đuổi đi hết. Lý do: không bảo đảm an ninh.

Tất cả ngân hàng Pháp đều bị đóng cửa, trương mục bị khóa, các xí nghiệp phải ngưng hoạt động, đồn điền cao su và cơ sở kỹ nghệ của họ đều không sử dụng được vì bị hư hại nặng nề, các bãi đậu xe bị “trưng dụng”. Ai cũng thiếu tiền. Công chức chưa được lãnh lương từ ngày 1 tháng 5, chỉ nhận một số tiền ứng trước.

Các chủ xí nghiệp nhỏ đã ngưng hoạt động từ ngày có biến cố cộng sản, vẫn phải tiếp tục trả lương cho nhân viên dù họ không làm việc. Các hãng xưởng lớn thì bị “ủy ban nhân dân xí nghiệp” đòi bồi thường tiền phụ cấp nghỉ việc. Khi các chủ nhân người Pháp muốn nói chuyện dàn xếp lại không thấy một người nào có đủ thẩm quyền. Các nhà trồng tỉa còn kẹt ở Cao Nguyên Trung Phần muốn xuống Sài Gòn đều phải nộp đơn xin phép với ủy viên quân sự tỉnh. Các nhà trồng tỉa ở Bảo Lộc đã bị bắt và tài sản của họ bị tạm giữ. Các nhà truyền giáo không bị phiền nhiễu nhưng bị quản thúc và đang lo sẽ bị trục xuất.

Khách sạn Continental vắng hoe từ lúc các nhà báo ra đi. Tầng trệt của Trung Tâm Văn Hóa Pháp bị ủy ban khu phố chiếm. Bệnh viện Grall phải thay cờ Pháp bằng cờ Hồng Thập Tự và cờ của Chính Phủ Lâm Thời. Thư từ bên Pháp gởi sang được Hà Nội chuyển tiếp đến rất trễ, mấy tuần lễ sau mới nhận được. Tờ Le Courier d’Extrême Orient, nhật báo Pháp ngữ duy nhất tường thuật tình hình tài chánh, ghi lại tin tức của thông tấn xã AFP và thường mô tả đời sống ở Ba Lê… đã bị đình bản như mọi tờ báo cũ của “ngụy quyền”.  Nỗi lo âu của người Pháp trở thành nỗi bi quan. Rồi một loạt sự việc không hay xảy ra như:

— đóng cửa hãng Citroen và bắt giữ giám đốc vì không thể trả lương được cho nhân viên,

— buộc giám đốc hãng Michelin phải “nộp phạt”, dưới sự đe dọa của một toán nhân viên có mang võ khí với sự có mặt của các đại diện ủy ban quân quản. Ông này bị buộc phải nộp một khoản “bồi thường nghỉ việc” rất lớn cho tất cả nhân viên người Việt Nam ở các văn phòng và các đồn điền cao su của hãng.

—  khách sạn Continental bị trưng dụng làm nơi trú ngụ cho cán bộ Bắc Việt đi công tác gồm sĩ quan cao cấp, chuyên viên kế toán vào thanh lọc các trương mục ngân hàng và thanh tra hoạt động của các xí nghiệp ngoại quốc.

— Câu lạc bộ thể thao mất hẳn quy chế một câu lạc bộ tư nhân, một tiểu đoàn Bắc Việt vào chiếm đóng rồi từ đó được “mở cửa” cho nhân dân sử dụng.

— Ga-ra Charner sau khi bị một cuộc kiểm kê vật dụng tỉ mỉ đến tận những con bù-lon, đã nhận được “lệnh cấm bán” ngay cả những phụ tùng thay thế nhỏ.

oOo

Một số nhân viên người Pháp thuộc các đồn điền cao su còn ở lại làm việc tại nhiệm sở trong vùng đã được cộng sản kiểm soát. Những người khác đã trở lại nhiệm sở sau khi Sài Gòn bị thất thủ. Hai loại người Pháp này cuối cùng đều phải chuẩn bị để ra đi.

Gian truân đến với nhân viên đồn điền SIPH lại rất đặc biệt. Ngày 7 tháng 5, một tuần lễ sau khi Sài Gòn thất thủ, nhân viên trồng tỉa thuộc đồn điền SIPH trở lại những vùng mà họ đang khai thác gần Xuân Lộc. Bộ đội chánh quy Bắc Việt đang chiếm đóng tại đây. Binh sĩ đồn trú trong những dãy nhà thuộc Phòng Nghiên Cứu Kỹ Thuật của đồn điền đã lấy các hồ sơ lưu trữ để đốt lửa nấu cơm. Giám đốc đồn điền người Pháp (nói thạo tiếng Việt) đã báo động với một ủy viên chính trị Bắc Việt: “Binh sĩ của ông đã làm một việc ngu xuẩn tày trời. Các hồ sơ mà họ xé nát hết để đốt đi có một giá trị không lường được. Đó là kết quả của 50 năm làm việc, tìm tòi, nghiên cứu và thực nghiệm về việc trồng tỉa cây cao su. Không phải tôi phản đối để bảo vệ quyền lợi của sở tôi, mà bởi vì nếu sau này người Việt Nam muốn tiếp tục sản xuất cao su cho đất nước mình và muốn nâng cao năng suất và sản lượng cao su, thì những hồ sơ này có giá trị hàng đầu cho đất nước. Tôi xin lưu ý với ông là không có gì thay thế được các hồ sơ này.

Ông ủy viên này đã quở trách binh sĩ và cho lệnh họ không được đụng tới những tập hồ sơ nữa. Nhưng ngay sau hôm đó, “bộ đội” lại tiếp tục lôi các tập hồ sơ quý giá ra đốt để nấu cơm, và chỉ trong vài ngày họ thiêu hủy toàn bộ kết quả công tác nghiên cứu khoa học trong nửa thế kỷ đã được cập nhật hóa rất công phu và cẩn thận.

Về phần mình, các nhà trồng tỉa Pháp đã tái khai triển mọi công việc trong đồn điền. Việc cạo mủ cao su trở lại nhịp độ bình thường. Nhưng ngày 21 tháng 5, tất cả công nhân người Việt, được Ủy Ban của đồn điền hướng dẫn đã nổi lên biểu tình tập thể, ép các nhà trồng tỉa người Pháp phải rời ngay khỏi đồn điền, không cho họ kịp thu dọn vật dụng cá nhân.

Đó là tình hình của cộng đồng người Pháp khi đại sứ Mérillon được “gọi về” Ba Lê đầu tháng 6. Một thông cáo báo chí của Tổng Thống Phủ từ Ba Lê xác nhận: “Trái hẳn với những gì mà vài hãng thông tấn đã dự đoán từ trước, sự ra đi của đại sứ Mérillon không do Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam bắt buộc. Quả nhiên điều này rất đúng với sự thật vì có bao giờ CPLTCHMN có mặt ở Sài Gòn đâu!

Thói quen hàng đầu của các nhà ngoại giao là chơi chữ, như chuyển đổi những điều lăng nhục thành những sự hiểu lầm. Nhưng sự kiện là sự kiện, không thể biến thể dễ dàng được. Ông đại sứ Jean-Marie Mérillon đã rời khỏi Việt Nam mà không bao giờ được tướng Trần Văn Trà tiếp kiến. Tướng Trà là chính quyền duy nhất tại Sài Gòn. Theo lời kể, ông Mérillon đã gặp nhiều “cán bộ cách mạng”, trong khi người đồng nhiệm Bắc Việt của ông ở Ba Lê lại nhận danh dự được điện Élysée tiếp kiến. Một ngày trước khi rời miền Nam Việt Nam, ông được gọi tới Bộ Ngoại Giao. Ông đã gặp 3 nhân vật vô danh vì đứng trước mặt ông, họ không thèm xưng danh tánh, cấp bậc. Họ “cám ơn” ông về hoạt động của ông và thông báo là sẽ có “một người nào đó thuộc ban nghi lễ” đợi ông ở phi trường để giúp ông khỏi bị phiền phức về thủ tục khai báo với Công An và Quan Thuế. Đúng giờ, một công chức cũng vô danh đã đợi vị đại sứ Pháp để đưa đến tận phi cơ và cho ông được ưu tiên lên phi cơ trước các hành khách khác. Đó là niềm an ủi cho chút tự ái mỏng manh của người đại diện một quốc gia đã từng “đóng góp quá nhiều cho nền hòa bình”! Tuy nhiên đức tánh bình dân của ông đại sứ Jean-Marie Mérillon đã đặc biệt bị hạ quá thấp giữa những người Pháp ở Sài Gòn. Một số người đã nói:

— Ông đại sứ đã thực hiện một tiết mục lớn là thúc hối ông Thiệu sớm rời khỏi chức vụ và sau đó, cả ông già Hương nữa, để đưa cho được tướng Dương Văn Minh lên. Ông tưởng như vậy là sẽ đem lại hòa bình và một sự hòa hợp. Nhưng ông chỉ thành công trong việc nhanh chóng làm tan rã nền chính trị miền Nam và đưa miền Nam đến sự đầu hàng không điều kiện. Trước ngày mất thủ đô, người ta chỉ thấy một mình ông đại sứ Pháp. Nhưng sau đó thì ông biến thành một luồng gió… Và giờ đây ông ra đi, để lại sau lưng trên mười ngàn con tin người Pháp…

Thật vậy, nước Pháp có quyền hy vọng một ân huệ nào đó trong thái độ đối xử — để tưởng thưởng những nỗ lực của mình. Nhưng trái lại, nước Pháp chỉ nhận được những ức hiếp và lăng nhục!

Ngược lại, các đại diện Hà Nội và Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam ở Ba Lê (có mặt ở thủ đô Pháp thường hơn là ở thủ đô miền Nam) lại được hưởng một sự tự do phát biểu và tự do đi lại trong toàn lãnh thổ Pháp. An ninh của họ được hoàn toàn bảo đảm. Họ có những đoàn hộ tống chánh thức. Báo chí và đài phát thanh giúp họ phổ biến các bản tuyên bố và thông cáo. Họ được bênh vực luận cứ và quan điểm của họ trên đài truyền hình. Chính phủ Pháp không hề gây cho họ bất cứ khó khăn hay phiền toái nào. Có phải là phi lý khi chỉ đòi hỏi đơn giản một sự đối xử tương ứng?

Sự ra đi của ông Mérillon khi ông chỉ là một nhân viên thừa hành trung thành với đường lối chính trị lệch lạc từ Bộ Ngoại Giao đã không giúp cải thiện bao nhiêu mối giao hảo giữa “chính quyền cách mạng” và các công dân người Pháp chúng tôi.

Trong đêm 16 rạng ngày 17-6, bệnh biện Grall bị bộ đội với súng ống đầy đủ, vây kín. Binh sĩ Bắc Việt và các viên chức an ninh tràn vào lục soát khắp nơi: phòng mổ, tủ thuốc, phòng của bác sĩ và người bệnh. Họ nói là muốn “biết chắc chắn không có vũ khí nào cất giấu trong bệnh viện và không có người nào ở phòng bệnh nhân ở trong tình trạng bất hợp lệ”.

Sáng ngày 17-6, tờ Sài Gòn Giải Phóng loan báo kể từ nay chỉ có một ngân hàng duy nhất ở Việt Nam. Tất cả ngân hàng tư, của người trong nước hay ngoại quốc, đều phải giao nộp sổ sách, trương mục và bản kết toán cho ngân hàng quốc gia mới của Việt Nam. Các biệt thự của nhân viên ngoại quốc đều bị sung công. Cùng lúc, các thanh tra vào chiếm ngụ các cư xá thuộc Ngân Hàng Á Châu, (tên địa phương là Banque de l’Indochine), Ngân Hàng Thương Mại và Ngân Hàng BNP. Giám đốc của ba ngân hàng này thảo một tuyên bố chung gởi Ủy Ban Quân Quản có đoạn kết: “Trong hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi không thể nghĩ tới bất cứ một hình thức hợp tác kỹ thuật nào và chúng tôi chỉ có một nguyện vọng: được trở về Pháp càng sớm càng tốt“. Các hãng Chargeurs Réunis và Messageries Maritimes phụ trách hầu hết dịch vụ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển đến Âu Châu cũng được lệnh phải ngừng hoạt động để biến thành công ty quốc doanh độc quyền của Nhà Nước.

Ba ngày sau khi giám đốc hãng thuốc lá Đông Dương trở về Pháp, hãng thuốc lá này bị chiếm giữ ngay. Hãng thuốc lá Bastos và hãng bia lạnh Đông Dương (Brasseries-Glacières d’Indochine) chỉ sản xuất 30% năng suất vì gặp nhiều khó khăn với các “ủy ban xí nghiệp”.

Xa cách gia đình đã về Pháp từ tháng Tư, các giáo sư, các thiện nguyện viên đang ở không (do trường học bị đóng cửa), các bác sĩ quân y mãn khế ước, các nhân viên xí nghiệp đang ngừng hoạt động, các thương gia không có khách (tiệm tùng bị dẹp, khách sạn bị trưng dụng)… những người này sống thu hẹp như một xã hội bị đóng kín trong tuyệt vọng và buồn nản. Trong khi chờ đợi các đường hàng không được cho mở lại, họ không có việc gì làm, nên chạy đi chạy lại thăm nom nhau để giết thì giờ, rồi mang hết những gì họ còn lại như rượu và thức ăn ra ăn nhậu cho hết. Nhưng sự bực dọc của “bộ đội” thường gây ra các rắc rối khó chịu cho những người Pháp này (như xét căn cước liên tục, viếng nhà bất thần và thường xuyên, không cho di chuyển) vì cho rằng những người ngoại quốc khinh thường họ khi lái xe hay khi ngồi tán gẫu trên sân thượng… nên bất kỳ vi phạm nhỏ nào cũng có thể đưa họ tới công an để nghe giáo huấn hằng giờ… hoặc nghe thuyết về sự cần thiết phải thay đổi “tánh phản động” của mình.

Tất cả đồn điền cao su lớn đặt dưới quyền chỉ đạo của một “ủy ban cao su” do nhân viên Việt Nam quản lý, phối hợp với chính quyền địa phương. Một số nhà trồng tỉa phải trở về Sài Gòn và tuyên bố lúc nào cũng sẵn sàng giữ một vai trò cố vấn kỹ thuật, nếu chế độ mới đòi hỏi. Nhưng chính quyền cộng sản cho biết “chỉ mong hợp tác với những người chưa bao giờ làm việc ở Việt Nam trước ngày chiến thắng của cách mạng. Họ nêu rõ lý do là “nhiều linh mục, chuyên viên hay nhà ngoại giaođã từng quan hệ với chính quyền bù nhìn của Thiệu trước khi tên này ra đi.

Những người Việt Nam có quốc tịch Pháp tiếp tục vây quanh văn phòng Di Trú và tòa Lãnh Sự Pháp (Sài Gòn đã xuống hạng cấp vùng nên chỉ được phép có một đại diện lãnh sự, các tòa đại sứ đều ở Hà Nội). Không một người nào được phép hồi hương vì là “công dân da vàng”. Ba Lê vẫn không làm gì được trong lúc này. Các công chức trong lãnh sự quán chỉ biết nói là sự di tản tất cả người Pháp nói chung “có thể đòi hỏi 2 tháng hoặc 2 năm”. Người Pháp nào được ra đi sau một thời gian chờ đợi khá lâu đều phải giao chìa khóa nhà và chìa khóa xe của họ cho chính quyền mới để “quản lý giùm”. Họ chỉ được quyền mang theo “quần áo và giấy tờ cá nhân”. Họ không được rút tiền từ trương mục ngân hàng. Họ không được phép nhờ một thân nhân hay môt bạn thân nào coi sóc giùm căn phòng, biệt thự hay xe cộ của họ. Các tài sản này không phải bị cưỡng đoạt mà chỉ bị di lý thôi để “giao lại cho nhân dân quản lý” trong khi chờ đợi sung công… Và chờ thủ tục bồi thường.

Nói gọn lại là sự có mặt một trăm năm của người Pháp ở Việt Nam đã được nỗ lực bôi xóa một cách nhanh chóng. Sau ba mươi năm cách mạng và tranh đấu, không phải chỉ để dùng tên của bao nhiêu anh hùng mà kẻ chiến thắng không bao giờ thiếu, để thay thế vào tên đường như tên của ông Pasteur chẳng hạn…

oOo

Tuần lễ thứ ba của tháng 7, một người Pháp từ Sài Gòn về nước đã trao cho tôi một bức thư viết từ lâu nhưng không gởi được của một người bạn Việt Nam, giáo sư T… Thư viết:

Pierre thân mến,

Có quá nhiều biến cố đã xảy ra từ sau lần chúng ta gặp nhau chỉ mới cuối tháng 4 đây thôi, nhưng tôi có cảm tưởng như chuyện đã xảy ra cả trăm năm trước và trong một thế giới khác. Đứa con trai lớn của tôi, thằng Viên trung úy ở sư đoàn 18 bộ binh, đã bị tử thương trên đường Long Thành ngày 29 tháng 4. Nó mới 24 tuổi. Ba đứa khác lại được đoàn ngũ hóa vào những hội đoàn mới. Chúng nó đi vẽ biểu ngữ trên tường và kiểm tra phân loại dân tỵ nạn. Nỗi buồn của chúng tôi không thể diễn tả bằng chữ được. Tôi đã cố gắng gạn lọc tư tưởng của mình vì có quá nhiều điều phải nói với anh. Nhưng trước hết tôi cố gắng cho anh biết vài tin tức hay hay.

Tinh thần của binh sĩ miền Bắc cả ở Sài Gòn lẫn Đồng Bằng Cửu Long, không tốt như người ta tưởng. Họ đào ngũ quá nhiều. Đài phát thanh cộng sản và các bản thông cáo dán trên tường thường xuyên cảnh giác dân chúng không được chứa chấp binh sĩ đào ngũ, nếu không sẽ bị “nghiêm trị”. Lúc họ vào Sài Gòn, bộ đội và cán bộ có rất nhiều tiền do họ thu nhặt từ các cơ quan chính quyền ở các thành phố mà họ vừa chiếm được. Phần đông đã dùng tiền này để mua đồng hồ tự động, quẹt máy và nhiều món khác mà họ chưa từng thấy bao giờ. Hết tiền rồi họ trở lại tình trạng thật sự như trước, nghĩa là không sáng sủa gì cả. Để giữ tinh thần họ, cấp chỉ huy đã tăng gấp đôi phụ cấp gạo cho họ. Nhưng lương thì không tăng: 1200$ hằng tháng. Chỉ vừa đủ mua 4 bao thuốc lá. Một số binh sĩ bị động viên từ nhiều năm rất bất mãn vì không được phép trở lại gia đình. Theo ước tính của họ thì họ nghĩ rằng họ còn sẽ bị lưu giữ lại ở miền Nam từ hai năm tới hai năm rưỡi nữa. Nhiều đơn vị tác chiến vừa được thông báo là sẽ qua một khóa huấn luyện đặc biệt trong thời gian 18 tháng để được chuyển thành “lực lượng gìn giữ an ninh và trật tự”.

Về phương diện kinh tế, chính quyền cộng sản chưa có biện pháp nào thuyết phục hết. Một đội ngũ được gọi là chuyên viên tài chánh (đúng hơn phải gọi là nhân viên kế toán) đã từ Hà Nội vào đây với các thùng “bàn toán” Tàu (trong lúc tất cả ngân hàng và công ty xí nghiệp sẽ được họ kiểm soát đã và đang sử dụng máy điện toán). Các “chuyên viên” này thường nhắc đi nhắc lại với những ai muốn nghe rằng ưu tiên hàng đầu của họ là phải “đập tan bộ máy kinh tế bù nhìn”. Theo họ, đời sống người dân thủ đô Sài Gòn quá dễ dàng là nhờ viện trợ Mỹ. Hầu hết dân Sài Gòn chỉ là “ký sinh trùng” ăn bám vào mưu mô thủ đoạn và sự đầu cơ. Tất cả tiền bạc tích trữ trong ngân hàng sẽ bị tịch thu hết. Tất cả công chức và chuyên viên được lưu nhiệm được trả lương theo cách phân nửa bằng gạo và phân nửa bằng tiền. Lương thấp nhất được 10.000 đồng (khoản 120 quan Pháp) và phụ cấp gạo 10 kí lô cho mỗi người lớn và 5 kí lô cho trẻ con. Lương cao nhất không quá 25.000 đồng (tương đương 250 quan Pháp). Tiền cũ vẫn được xài. Một số cán bộ địa phương của Mặt Trận khuyên các nhà buôn nên mua vàng và hàng vải hơn là tích trữ tiền mặt. Có nhiều cuộc chuẩn bị cho thấy sắp sửa đổi tiền cũ lấy tiền mới. Chính quyền sẽ hành động bất thần, không báo trước, và thời gian đổi tiền chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Tiền mới đã được in rồi. (*) Đời sống đã đổi khác hết. Không ai còn tìm được một giọt xăng. Tất cả đều phải đi xe đạp ( hãng L’UCIA của người Pháp gặt được một mẻ lớn vì đã bán hết số xe đạp còn tồn kho). Chính quyền có cho mở lại vài trạm xăng, nhưng chỉ dành cho xe buýt và xe vận tải công cộng. Cho đến những ngày đầu tháng 6, các chợ còn được tiếp tế khá đầy đủ và giá cả còn bình thường. Trừ cá là càng ngày càng ít và càng ngày càng mắc. Cũng vì không có đủ xăng, 90% tàu đánh cá không thể ra khơi được. Vào tháng 6, gạo bắt đầu khan hiếm. Các chợ không nhận được gạo. Kêu than vô ích thôi. Mà nếu như chợ có đầy đủ như trước kia… thì chúng tôi cũng không còn tiền.

[*] Tác giả chú thích: Tiền mới thực sự lưu hành vào tuần lễ thứ hai của tháng 9-75: Một đồng trị giá 500 đồng tiền cũ của miền Nam hay 3 quan Pháp. Mỗi gia đình chỉ đổi được 200 đồng tiền mới. Tất cả người Việt Nam và ngoại quốc đều được lệnh phải đem nộp cho Ngân Hàng Quốc Gia số tiền còn lại mà họ đang có.

Bạn bè từ miền Trung vào nói với tôi là hầu hết vùng ngoài đó đã bị cộng sản kiểm soát khá chặt chẽ đến độ chỉ có lá cờ đỏ sao vàng của Hà Nội được treo ở các quận lỵ của tỉnh. Cuộc thanh trừng thật khủng khiếp. Tất cả những sĩ quan trình diện đi học tập đã được đưa đi các trại lao động khổ sai ở trên núi rừng. Họ phải mở những con đường xuyên qua rừng rậm, để chở những mảng gỗ to và những tảng đá nặng. Vì khí hậu ở đó quá khắc nghiệt và không được trong lành, lại thiếu thuốc men, mặc không đủ ấm, ăn không đủ no nên họ chết rất nhiều. Phần lớn cảnh sát đã bị hành quyết. Con gái hay những bà vợ góa của các quân nhân, của những nhà tư bản và công chức cao cấp, bị gả ép cho các thương phế binh Bắc Việt để vừa làm bạn vừa làm y tá cho họ. Trái lại, ở vùng Đồng Bằng Cửu Long và ở Sài Gòn, tình trạng mất an ninh và vô trật tự càng ngày càng lớn. Trộm cướp và ám sát ngày càng nhiều. Báo chí và đài phát thanh cộng sản quy trách cho “binh sĩ chế độ bù nhìn cũ đã dùng vũ khí của họ để hành động phá rối trị an”. Chuyện đó còn phải chờ xem, vì từ ngày chấm dứt chiến trận, các cựu quân nhân của quân đội chúng tôi sống vất vưởng không có một lợi tức nào. Họ không còn được trả lương, không có quyền lãnh một hột gạo và dĩ nhiên là thất nghiệp. Nhưng không chỉ có những cựu quân nhân mà thôi. Còn có những người “hồi chánh”, những cán binh Việt Cộng đã trở về với quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Có khoảng 200.000 người. Cộng sản Bắc Việt đã cho lệnh họ phải trở về đơn vị cũ của họ. Khiếp sợ vì phải rơi lại vào tay những người mà họ đã chối bỏ và chống đối trước kia nên họ lẩn trốn và sống gần như ngoài pháp luật.

Cộng sản cũng đã phạm nhiều lỗi lầm không giải thích được. Trong tuần lễ đầu của tháng 5, họ đã mở cửa các khám, thả ra tất cả tội phạm, kể cả người mắc bệnh tâm thần ở bệnh viện Chợ Quán. Không phải tất cả đều là tù nhân chính trị mà có cả ngàn người trong số được thả ra là những tội phạm hình sự, phạm tội giết người và trộm cướp chuyên nghiệp. Những bệnh nhân tâm thần ở Chợ Quán phần đông là những người điên rất dữ dằn, rất nguy hiểm cho xã hội. Chuyện thả hết những tội phạm bất lương và những người điên chỉ làm cho tình hình trở nên trầm trọng.

Ở trung tâm Sài Gòn, sự kiểm soát có phần khá hơn, nhưng trong những khu vực đông dân và ở ngoại ô, ban đêm thường có những đụng chạm. Người ta thường nghe tiếng súng nổ. Trong những khu vắng vẻ ở Phú Nhuận và Tân Sơn Hòa chẳng hạn, những vụ trộm, những vụ ném lựu đạn và ám sát có khi xảy ra giữa ban ngày.

Chúng tôi được biết hiện có các chiến khu ở nhiều nơi trong vùng Đồng Bằng Cửu Long cũng như trong rừng và vùng đầm lầy miền Đông của Sài Gòn. Một số binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân và lính Dù còn đầy đủ trang bị, di chuyển gần như khắp nơi và phục kích. Ở miền Tây thì Hòa Hảo nổi dậy chống đối công khai. Họ tấn công các đoàn xe cộng sản, bắn phá các trung tâm đô thị và phá hoại các đường dây liên lạc. Ở cao nguyên, có hàng chục ngàn đồng bào Thượng đốt bỏ làng rút vào rừng sâu. Về những chuyện như thế chúng tôi biết nhiều chi tiết chính xác, nhưng nếu viết ra đây thì quá dài. Bạn của anh là Paul Ph. biết rành các chuyện này. Chắc không bao lâu nữa anh ta sẽ về Ba Lê, vì anh là công dân Pháp. Anh ta có liên lạc được nhiều nơi và đi lại khá tự do.

Tôi thích nói cho anh vài chi tiết về những người Công giáo. Những trận đánh cuối cùng, đẫm máu nhất và khốc liệt nhất không do các đơn vị chánh quy của miền Nam Việt Nam mà do những dân vệ Công giáo ở Hố Nai. Có nhiều em chỉ mới 15 tuổi đầu, do các linh mục chỉ huy, cầm thánh giá và cờ vàng trắng của Đức Thánh Cha, đã chiến đấu dữ như cọp. Họ đã phá hủy 8 chiến xa T.54 chỉ bằng lựu đạn và các chai xăng Molotov và đốt cháy nhiều xe vận tải chở đầy lính Bắc Việt. Trận chiến kéo dài hai ngày hai đêm. Lúc trước, khi quân đội chánh quy miền Nam đóng ở Hố Nai rút đi, lực lượng dân vệ ở đây đã giữ lại được mấy khẩu pháo và đã sử dụng. Linh hồn của trận chiến là cha Sửu, người mà anh từng biết rõ. Ông đã bị tử thương. Các em dân vệ đem được ông vào nhà và ở đó chiến đấu luôn mấy giờ. Những người sống sót, hầu hết đều bị thương, bị cộng sản đem ra xử bắn hết. Ở Sài Gòn, người ông giáo trên nguyên tắc không có gì lo lắng hết. Các nhà thờ đều mở cửa và các linh mục được phép làm lễ. Các nhà thờ đều đầy nghẹt tín đồ. Nhưng vẫn có nhiều chuyện rắc rối đã xảy ra. Chuyện thứ nhất nhằm vào Đức Ông Le Maître, đại diện Tòa Thánh Vatican. Các tín đồ cánh tả đã tràn vào tòa đại diện Tòa Thánh. Họ lôi Đức Ông và thơ ký của ông ra ngoài đường nơi đang có một cuộc mít tinh tố khổ. Đức Ông bị họ lên án đã hỗ trợ cho hành động của chính phủ bù nhìn của ông Thiệu. Họ xô đẩy và la ó lớn tiếng với Đức Ông. Những người trong mít tinh đã hạ lá cờ của Tòa Thánh Vatican xuống và thay vào đó lá cờ CPLTCHMN. Công an đã đến can thiệp bằng cách bắn chỉ thiên vài phát súng. Đức Ông được giải tỏa và dẫn về phòng của ông. Sau đó Ủy Ban Quân Quản trao cho ông một quyết định trục xuất, với lý do: “sự hiện diện của ông sẽ làm xáo trộn trật tự công cộng”. Và Đức Ông Le Maître đã rời khỏi Việt Nam.

Một chuyện rắc rối khác, quan trọng hơn nhiều, xảy ra vào đêm mồng 4 tháng 6, ở khu Trương Minh Giảng mà như anh đã biết đó là địa bàn của những người Công giáo cứng đầu, khó chịu nhất. Ngày 3 tháng 6, có vài trăm tín đồ cánh tả đã biểu tình đòi Đức Cha Thuận phải từ chức. Giám Mục Nguyễn Văn Thuận vốn là cháu Tổng Thống Diệm, là Giám Mục địa phận Nha Trang và Vatican vừa bổ nhiệm ông vào nhiệm vụ Phụ Tá Tổng Giám Mục Địa Phận Sài Gòn. Đức Cha Thuận là người được giáo dân thương mến, kính trọng và cả những người không phải tín đồ cũng vậy. Hàng ngàn tín đồ Công giáo thuộc giáo khu Fatimah đã tổ chức một cuộc xuống đường chống biểu tình và hô to những khẩu hiệu chống cộng sản. Vì đã quá giờ thiết quân luật nên một toán bộ đội tuần tiễu đến cảnh cáo họ phải giải tán. Các giáo dân đã giựt chuông inh ỏi ở các nhà thờ. Đám biểu tình giải giới mấy anh “bộ đội” và đánh đập họ. Quân đội đã đến can thiệp và bắn vào đám đông. Có 2 người chết và 6 người bị thương. Ngày hôm sau, người ta tìm thấy xác của 3 bộ đội bị cắt cổ và được treo ở thành cầu. Còn Đức cha Thuận thì bị buộc phải rời khỏi Tòa Giám Mục, về sống ẩn cư ở Nhà Dòng Lớn.

Ở miền Trung và các tỉnh ở miền Nam, tất cả cơ sở tôn giáo (trường học, nữ tu viện, cơ sở y tế lớn nhỏ…) đều bị sung công và sử dụng làm trại lính.

Trong khu vực của tôi, từ vài ngày nay, các cuộc khám xét gia tăng và lương thực càng ngày càng khan hiếm. Là một giáo sư về Luật, tôi không còn việc làm nữa. Như thế là không có lợi tức. Tuy vậy tôi vẫn phải tham gia các “buổi học tập của các luật gia” để tự “cải tạo” mình. Người ta chỉ bàn cãi về chính trị. Mọi người đều tranh đua tưởng tượng để sáng chế ra những khẩu hiệu mới mẻ theo chiều hướng “Pháp luật dính liền với chính trị, đó là một công cụ đấu tranh, một phương tiện đạt tới mục tiêu cách mạng”. Đó là một khẩu hiệu ngu xuẩn, nhưng khi đã nói đi lập lại và viết đi chép lại cả ngàn lần thì không ai còn nhớ rõ tại sao người ta đã bắt đầu phải học Luật. Thà là tôi chịu khó đi cuốc đất, vác hàng cho các xe vận tải hay cưa củi. Có thể người ta sẽ đưa tôi đi một trại lao động.

Tôi là một tín đồ Thiên Chúa giáo như anh đã biết đó. Nhưng đôi lúc tôi thấy Đức Chúa Trời ở xa Việt Nam quá! Và tôi có cảm tưởng chúng tôi còn phải ở lâu lắm trong thế giới cộng sản.

oOo

Đầu tháng 8, sau 3 tháng thương lượng đầy gay go và thất vọng, cuối cùng nước Pháp cũng mở được một cầu không vận với Sài Gòn, để di tản trong thời gian hơn một tháng, 1600 công dân Pháp.

Còn những người khác thì sao?

(Hết Chương 25)

Share this post