Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 27

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 27

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 27
30 NĂM CHIẾN TRANH: KHÔNG GIẢI QUYẾT ĐƯỢC GÌ

Lúc tôi rời Sài Gòn (lần cuối) vài giờ trước khi thành phố bị chiếm, tôi đã tưởng mọi việc đều chấm dứt. Miền Nam đã thất trận. Khi thua rồi thì chỉ còn có phục tùng theo luật của kẻ thắng. Không còn gì để nghi ngờ việc Sài Gòn sẽ sống lâu dài, thật lâu dài với giờ Hà Nội. Một trang sử đẫm máu có vẻ vĩnh viễn lật qua. Sợ hãi và chết chóc đã được gạt khỏi một đất nước đói nghèo và quá đau khổ.

Nhiều tháng trôi qua và tất cả hình như không đơn giản như tôi đã tưởng. Cuối cùng, những tiếng vang từ miền Nam Việt Nam cho thấy mọi việc không khá lắm.

Sài Gòn và Đồng Bằng Cửu Long đầy rẫy các trung đoàn chánh quy Bắc Việt bực bội vì dân chúng có vẻ bất phục tùng.

Các chiến binh miền Nam chưa buông súng hết. Có những chiến khu đang hình thành, một số sinh viên đang tìm tới đó. Dân chúng yểm trợ họ. Tình trạng mất an ninh lan rộng. Cuộc trấn áp được coi là khốc liệt. Tình trạng thiết quân luật chưa bao giờ được bãi bỏ. Bắt bớ càng ngày càng tăng. Đại bác vẫn nổ rền trên đồng ruộng và đêm đêm còn nghe nhiều tràng súng liên thanh tự động.

Nhiều người ngoại quốc đã ra đi. Các giáo sĩ bị trục xuất. Cái được gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam không có thực quyền. Ngày 2 tháng 9 vừa qua trong cuộc diễn binh vĩ đại được tổ chức để “kỷ niệm ngày lễ độc lập lần thứ 30”, tất cả “xe chỉ huy” đi trước các đơn vị chỉ mang lá cờ duy nhất — cờ đỏ sao vàng —  là quốc kỳ của miền Bắc.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, gốc miền Nam, một nhân vật thuộc giai cấp tư sản Sài Gòn trước khi gia nhập lực lượng cách mạng và trở thành Chủ Tịch của Mặt Trận Thống Nhất Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, đã lên khán đài đọc một bài diễn văn dài nói lên “sự vui mừng vì nước Việt Nam không còn bị chia cắt và đã hoàn toàn tự do, độc lập, thống nhất từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau“.

Không còn một ám chỉ nào đến những chủ đề trong quá khứ về “hai chữ miền Nam” hay về sự tôn trọng “dư luận của số đông quần chúng”.

Báo chí chánh thức ở Sài Gòn trình bày ngày này qua ngày khác chiến thắng của quân đội Bắc Việt, Khmer Đỏ, Pathet Lào như chiến thắng chung của một Mặt Trận Cách Mạng duy nhất bao gồm toàn cõi Đông Dương, tựa hồ một Liên Bang do Hà Nội lãnh đạo.

Đồng hồ của Sài Gòn được kéo lùi lại 60 phút, để theo đúng giờ Hà Nội mà qua xác nhận của người nữ xướng ngôn Đài Phát Thanh Giải Phóng đọc trước mỗi bản tin, kể từ nay sẽ là “giờ chánh thức của Đông Dương”.

Ca tụng một chiến thắng được mong đợi từ lâu, đã đưa những người lãnh đạo miền Bắc Việt Nam đến chỗ hết lời tán dương sự hình thành một khối đấu tranh chống đế quốc gồm những chế độ tiên tiến hiện hữu và tương lai, bành trướng xuống hết miền Đông Nam Á Châu.

Nhưng khi Hoa Kỳ rút lui, họ đã để lại trên đất nước Việt Nam hai cường quốc xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc chia rẽ nhau vì sự tranh giành ảnh hưởng ý thức hệ và vì sự đối đầu truyền kiếp. Đã thấy có nhiều sự rạn nứt giữa hai nhóm thân Nga và thân Tàu.

— Tại Lào, nhóm thân Nga đã thắng thế vì có Hà Nội đỡ đầu. Nhưng Trung Quốc vẫn nắm chặt Bắc Lào và hai con đường chiến lược do 3 sư đoàn và một lực lượng phòng không hùng hậu bảo vệ. Quân đội hoàng gia Lào, hùng hậu với 60.000 người, đã bị giải tán. 3000 sĩ quan của lực lượng này bị đày lên Sầm Nứa (vùng Cao Nguyên Bắc Việt) để “học tập cải tạo”, và tất cả binh sĩ của họ đều bị nhốt trong các trại lao động khổ sai. 1.500 chuyên viên Liên Xô và 400 phi cơ của hãng Aéroflot đã đến thay thế các chuyên viên Mỹ và phi cơ của hãng Air América (hãng hàng không riêng của CIA). Họ đảm trách công tác tiếp vận và iên lạc của Pathet Lào. Hoàng thân Souvanna Phouma, vị chủ tịch chỉ định của chính phủ Liên Hiệp Lào chỉ giữ vai trò tượng trưng, và sẽ rút lui vĩnh viễn sau các cuộc bầu cử vào tháng 4 năm 1976.

— Tại Campuchia, các nhà ngoại giao Liên Xô đều bị trục xuất và Trung Quốc đang ở thế mạnh. Nhưng phi cơ nào muốn đáp xuống phi trường Phnom Penh đều phải bay vòng chừng 1500 cây số để tránh bay ngang qua lãnh thổ Việt Nam, ở đó sự có mặt của Liên Xô càng ngày càng mạnh. Những tàu đầu tiên cập bến cảng Sài Gòn và Đà Nẳng là tàu chở dầu và chở hàng Liên Xô. Mạc Tư Khoa đã bí mật và cứng rắn cho Bắc Việt biết họ đặt quyền lợi của họ vào việc sử dụng căn cứ Không quân và Hải quân ở Cam Ranh, một vị trí chiến lược hàng đầu giữa Hồng Kông và Tân gia Ba, một căn cứ mà Hoa Kỳ đã bỏ ra mấy trăm triệu mỹ kim để tu bổ. Bộ chỉ huy tối cao Liên Xô coi việc họ được nhượng quyền sử dụng căn cứ Cam Ranh chỉ là sự bồi hoàn hợp lý cho số lượng phương tiện khổng lồ mà Liên Xô đã viện trợ giúp đỡ Bắc Việt suốt cuộc chiến giành độc lập.

Với sự tái khai thông kinh đào Suez, việc sử dụng căn cứ Cam Ranh sẽ là một trạm chủ yếu nối các căn cứ Liên Xô từ phía Nam tại Ấn Độ Dương (đảo Socotra, Berbara ở Somalie) với mũi Vladivostock ở mạn Bắc. Các hạm đội Liên Xô sẽ có thể mở rộng phạm vi hoạt động trên Biển Đông của Trung Quốc hết sức an toàn. Tuy vậy cũng không hẳn dễ dàng đi đến một hiệp định. Bắc Kinh không bao giờ muốn thấy một kẻ địch lảng vảng ngoài khơi không xa bờ lục địa để có thể đe dọa mình, sau sự lui binh của Hoa Kỳ. Bộ Chính Trị Hà Nội tuy phần lớn “thân Liên Xô”, nhưng cũng có một số “thân Tàu” giữ các vị thế chính trị nặng ký như Phó Chủ tịch Nhà Nước Nguyễn Lương Bằng, Chủ tịch Quốc Hội Trường Chinh, Bộ trưởng Nội Vụ Hoàng văn Hoan.

Một vấn đề khác khiến Bắc Kinh tức giận là số phận hơn một triệu rưởi người Hoa ở miền Nam Việt Nam. Khi bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn, tất cả thương gia Tàu ở Chợ Lớn đều treo cờ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trước tiệm của họ. Nhưng họ được lệnh tháo xuống ngay.

Những người Hoa này rất đông, sống có tổ chức, đã kiểm soát hầu hết nền kinh tế và hệ thống phân phối ở miền Nam nên có thể phản ứng tai hại cho Hà Nội về hành động áp chế nặng nề, nếu được Bắc Kinh che chở cho họ thoát khỏi sự kềm kẹp. Họ nhập quốc tịch Việt Nam theo một sắc luật của Tổng Thống Diệm từ 1956, và vẫn tiếp tục được coi là “công dân Việt Nam”.

Một chiến dịch hung bạo đang được tiến hành nhắm triệt hạ nhóm đầu não của khối người Hoa bằng cách quy kết là “tư sản mại bản” do ngoại bang trả lương. Đài phát thanh cộng sản trút trách nhiệm về việc giá cả thị trường tăng vọt là do họ đầu cơ tích trữ gây ra nạn khan hiếm hàng hóa và buộc tội họ đã phá hoại cuộc cải cách tiền tệ. Đài phát thanh còn loan báo tên tuổi những người bị bắt với các tước hiệu “vua gạo,vua thuốc lá, vua cà phê, vua vận tải, vua ngư trường, vua thuốc tây. Viên tướng cộng sản vừa thay Trần Văn Trà cầm đầu Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Chợ Lớn là Mai Chí Thọ, vốn lai Tàu, đang điều hành chiến dịch đánh “tư sản mại bản” đã nói: “Chúng ta phải ngăn chận bọn tôi tớ đế quốc, không cho chúng tiếp tục làm đội quân thứ năm phá hoại nền kinh tế của đất nước.

Người Hoa phản ứng lại mối đe dọa mới mẻ này bằng cách gia tăng số lượng kiến nghị ủng hộ đường lối chính trị của chủ tịch Mao Trạch Đông.

oOo

Thống nhất đất nước bằng võ lực không giải quyết được điều gì. Việt Nam vẫn là con mồi giữa sự giành giựt của các thế lực ngoại bang.

Cũng như việc ký kết Hiệp Định Ba Lê không thể dẫn tới chấm dứt chiến tranh, việc chiếm Sài Gòn và cả miền Nam bằng võ lực quân sự không chấm dứt nổi các cơn biến loạn của một dân tộc bị vò xé.

“Chính quyền trên đầu họng súng” là nguyên tắc nền tảng hướng dẫn hành động của cách mạng miền Bắc khắc nghiệt, bạo hành và hiếu chiến.

Hà Nội đã lựa chọn con đường tàn khốc bất khả lay chuyển. Chẳng những họ muốn thống trị mà còn muốn hài tội, cưỡng bức và khuất phục miền Nam phải tuân hành một chân lý mà họ nghĩ họ là người duy nhất nắm giữ.

Con đường quá dài này được lát bằng chướng ngại, áp chế và tủi nhục, khó thể dẫn tới nền hòa bình từng mong đợi từ ba mươi năm qua bởi một dân tộc bị chia xé với quá nhiều xương máu, tóc tang và đau đớn.

Cách duy nhất để hàn gắn các vết thương còn tuôn máu và nhức nhối này là người chiến thắng phải dẹp bỏ sự tự kiêu chiến thắng để tuyên bố ngưng tranh đua về ý thức hệ và chứng tỏ nổi sự khoan hòa.

Cuộc thống nhất thật sự phải qua sự hòa bình của những con tim, trở về với truyền thống khôn ngoan và độ lượng từ xa xưa. Đó là con đường vỗ về xoa dịu. Chỉ như vậy hai miền Việt Nam mới có thể họp thành đất nước duy nhất của một dân tộc gồm hơn 40 triệu công dân tự do trong tình huynh đệ. Một đất nước trù phú và phồn thịnh được ban tặng các nguồn tài nguyên gần như vô tận với những khu rừng nguyên thủy, những dòng sông cuồn cuộn phù sa, những cánh đồng bát ngát, những mỏ than lộ thiên, những mỏ dầu, những bãi cát trắng, những hải cảng khuất gió. Một dân tộc có tay nghề cao, đảm lược và đầy lòng tự hào sẽ giành lại vị thế xứng đáng để hòa nhập cùng cộng đồng thế giới.

Sau hết, xô trút bức màn đẫm máu vẫn đè phủ mảnh đất bị vò xé này — hầu thúc đẩy hướng nhìn về một đất nước không hận thù, không chém giết, ở đó những người chung một giống nòi cùng nhau nỗ lực tìm lại con đường hạnh phúc — có phải là giấc mơ bất khả thực hiện?

PIERRE DARCOURT (1975)

Share this post