Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 3

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 3

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 3
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

Đầu tháng Giêng 1975, phái đoàn quân sự Liên Xô do tướng V.A. Jukilov tham mưu trưởng quân đội Liên Xô cầm đầu, đến Hà Nội. Về bài toán Việt Nam, Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh luôn có cái nhìn tương phản. Từ 1954, Liên Xô đã thúc đẩy Hà Nội mở cuộc tấn công quân sự quy mô và quyết định để chiếm miền Nam. Ngược lại Trung Cộng lại khuyên Hà Nội chỉ nên tăng cường “các khu giải phóng” và tiến hành một cuộc chiến gậm nhắm lâu dài.

Lần này thì đề nghị của Liên Xô có phần thắng. Mạc Tư Khoa vốn không có ảnh hưởng ở Campuchia nên muốn nắm trọn Việt Nam, một chế độ thân hữu có thể giúp họ có các căn cứ hải quân và không quân ở Á Châu. Liên Xô khẳng định thời cơ quốc tế đang rất thuận lợi nên đã cung cấp cho cộng sản Bắc Việt rất nhiều phương tiện có thể trang bị 55 trung đoàn chiến xa biệt lập, và hỏa tiễn, pháo binh phòng không để tiến tới thành công. Các tàu hàng của Nga chở đầy ắp đạn dược đã chen chúc ở hải cảng Hải Phòng.

Sau khi phái đoàn tướng Jukilov rời Bắc Việt lại có một nhân vật cao cấp thuộc bộ ngoại giao Liên Xô đến Hà Nội: Nicolai Firyubin. Cứ mỗi lần Mạc Tư Khoa muốn tiến hành một hoạt động chính trị, quân sự ở khu vực đặc biệt nóng bỏng nào thì y như rằng họ gởi Firyubin đến đó.

Ngày 28 tháng Hai, đến lượt tướng Yang Yung, cựu phụ tá tư lệnh chí nguyện quân Trung Cộng tại Triều Tiên,  dẫn đầu một phái đoàn quân sự đáp xuống Hà Nội cho một cuộc “viếng thăm dài hạn”. Một sư đoàn đặc công Bắc Việt thành lập ở Nam Kinh (miền Nam Trung Quốc) được đưa về đóng ở vùng Thượng Du. Bắc Kinh đã chấp thuận “một hành động giới hạn nhưng quyết định” mà mục tiêu đầu tiên là cắt miền Nam Việt Nam làm hai đoạn. Như thế, kế hoạch của Hà Nội nằm ở giữa sự khuyến cáo của Nga và của Trung Cộng.

Quân đội cộng sản miền Bắc trước tiên sẽ chiếm Cao Nguyên Trung Phần, sau đó cố gắng chiếm Huế và Đà Nẵng, rồi chờ hết mùa mưa, tức là vào mùa thu 1975, mới tấn công Sài Gòn và đồng bằng Cửu Long.

oOo

Lãnh đạo Bắc Việt rất lạc quan: quân đội của họ đã sẵn sàng hành động. Báo Học Tập – cơ quan chánh thức của đảng cộng sản Bắc Việt – phản ảnh cái nhìn của đảng, cho thấy Hà Nội hoàn toàn nhận rõ mức thảm hại của miền Nam khi Quốc Hội Hoa Kỳ quyết định chuyển từ cắt giảm qua đình hoãn viện trợ quân sự và kinh tế cho Sài Gòn.

Vài ngày trước cuộc tổng tấn công mang tên “chiến dịch Hồ chí Minh”, đảng cộng sản rất thích thú ghi nhận: “Hỏa lực và sự khả dụng của các chiến cụ lưu động của lực lượng bù nhìn đã giảm sút hẳn. Tình hình cho thấy dự trữ đạn dược và bom của “ngụy quân” không còn đầy đủ và chúng đang gặp nhiều khó khăn trầm trọng để tái lập các kho dự trữ săng dầu, để bảo trì và sửa chữa các loại chiến xa, tàu chiến và vũ khí nặng thường dùng.

Ngày 10 tháng 3, hồi 3 giờ sáng, các đơn vị cộng sản mở “mặt trận” mới trong vùng Cao Nguyên bằng cuộc tấn công quy mô vào thành phố Ban Mê Thuột, tỉnh lỵ của tỉnh Darlac, nằm cách Sài Gòn 250 cây số về hướng Bắc.

Từ Paris, nơi tôi đang ở, rất khó mà đo được tầm rộng lớn và diễn tiến của hành động này. Những tin tức đầu tiên từ Sài Gòn “xác nhận là những trận đánh ở các đường phố đã bắt đầu trong đêm và còn đang tiếp tục. Theo phát ngôn viên của quân đội miền Nam, “lực lượng của chính phủ và địa phương quân cố gắng chống lại một lực lượng địch quá đông có chiến xa,  pháo binh phòng không và một hỏa lực pháo hùng hậu yểm trợ. Cuộc tấn công vào tỉnh lỵ đã được pháo binh hạng nặng và hỏa tiễn bắn dữ dội dọn đường trước. Nhiều cuộc chạm súng đã diễn ra quanh phi trường cách thành phố 7 cây số. Tất cả liên lạc vô tuyến với Bộ chỉ huy tiểu khu gần phi trường đều mất hết. Cũng theo Sài Gòn, vòng đai phía Nam của thành phố đã  bị địch chiếm, nơi đây có gần 15.000 dân sanh sống. Không quân và binh sĩ chính phủ đã bắn hạ 8 chiến xa địch trong thành phố và vùng ngoại ô.

Theo các tin tức đầu tiên, chính quyền miền Nam ước tính đây là “cuộc tấn công quy mô nhất mà cộng sản tung ra từ sau ngày ký Hiệp Định Ba Lê về Ngừng Bắn 1973“,  và cho là tình hình “rất nghiêm trọng.

Hoa Thịnh Đốn không có phản ứng nào.

oOo

Ngày thứ Ba 12 tháng 3-1975, một điện tín từ Hoa Kỳ xác nhận rất đơn giản rằng “theo kết quả thăm dò của viện Gallup thì 78% dân chúng Mỹ chống lại việc Quốc Hội tăng viện trợ cho Campuchia và Việt Nam, chỉ có 12% là chấp thuận.  Ngày thứ Tư 13 tháng 3, cũng theo Sài Gòn, cuộc chiến ở Cao Nguyên vẫn tiếp diễn.

Ký giả Gerard Le Quang viết trong báo France Soir: “Trong khi các trận đánh ở Phnom Penh tiếp diễn thì Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chiếm một phần thị xã Ban Mê Thuột (160.000 dân), một thị trấn quan trọng trên Cao Nguyên, sau khi chiếm quận lỵ Đức Lập. Tấn chiếm như vậy là kháng chiến quân miền Nam Việt Nam muốn ngăn chận một sự can thiệp của quân đội Sài Gòn vào Campuchia để giải vây cho Phnom Penh. Kế hoạch can thiệp này có sự không trợ từ không lực Hoa Kỳ được đề nghị với Tổng Thống Thiệu gần đây. Vị nguyên thủ miền Nam Việt Nam đã dự trù tiến tới một hành động như vậy. Ông hy vọng có hai điều lợi: trên phương diện tài chánh ông sẽ được tăng cường một ngân khoản viện trợ từ phía Hoa Kỳ, trên phương diện chính trị sẽ tăng cường được vị thế không chối cãi của vị nguyên thủ quốc gia. Sự tấn công của “kháng chiến quân” đặt lại tất cả mọi vấn đề, từ nay quân lực miền Nam có rất ít khả năng để hành động ở Campuchia. Ở đây người ta chỉ nói đến việc gởi 20.000 quân thuộc nhóm Khmer Krom mà thôi  (binh sĩ gốc Khmer được huấn luyện ở miền Nam Việt Nam được gọi là Khmer Krom).

Tôi tự hỏi từ đâu mà ký giả này nắm được tin tức quân đội miền Nam Việt Nam sẽ tấn công Phnom Penh, và tại sao hệt như những người khác, ông ta ngang nhiên gọi là “kháng chiến quân” những anh “bộ đội chánh quy” thuộc quân đội cơ giới Bắc Việt, trang bị chiến xa, súng phòng không, hỏa tiễn và đại pháo tầm xa hạng nặng?

Tờ Le Figaro kéo dài một chuyện hoang đường tương tự: “14 thành phố, 13 quận lỵ và một tỉnh lỵ đã rơi vào tay của “những người nổi dậy” từ khi Hiệp Định Paris được ký kết. Đó là do lực lượng cánh tả ở miền Nam đánh bật từng chốt do quân đội chính phủ Miền Nam kiểm soát“.

oOo

Tại miền Trung Việt Nam, dù sao, cuộc tấn công của cộng sản cũng có một tầm rộng lớn khó thể ngờ. Gần như đâu đâu binh sĩ miền Nam cũng bỏ mất đất. Bốn tỉnh, ba tỉnh lỵ, gần hết vùng Cao Nguyên bị đổi chủ. Tỉnh thứ năm, tỉnh Quảng Trị sát biên giới phía Bắc của Việt Nam đang di tản. Và nửa triệu dân chúng đang chạy về hướng Nam theo các trục lộ… Chỉ mấy ngày, mũi dùi tấn công bất thần của cộng sản đã gây đảo lộn lạ thường về những bản đồ quân sự và về vấn đề dân số từng được chánh thức đăng bạ ở miền Nam Việt Nam từ hơn 20 năm qua.

Vậy, chuyện gì xảy ra? Đâu là lý do sâu xa và chính xác về sự sụp đổ thình lình của miền Nam Việt Nam?

Tới thời điểm đó, chính phủ của ông Thiệu không đưa ra một giải thích nào ngoài việc “tái phối trí chiến thuật” lực lượng của mình. Và để cắt ngang mọi câu hỏi gây bối rối được nêu lên, phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng xác định với báo chí rằng kể từ nay sẽ không có một bình luận nào về diễn tiến của các cuộc hành quân trong tương lai. Sự rút bỏ 4 tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac và Quảng Đức nằm dựa lưng vào biên giới Lào và Campuchia, đã để mất vào tay cộng sản 4 thành phố quan trọng có phi trường và một hệ thống đường sá quá tốt, một lãnh thổ có rừng cây rộng lớn, có những vườn trồng trọt sung túc và những đồng ruộng phì nhiêu trải trên 250 cây số bề dài và 150 cây số bề ngang. Một hành lang chiến lược của miền Nam Việt Nam vừa rơi vào tay của cộng sản mà trên thực tế không có một cuộc chạm súng nào.

Dường như Bộ Chỉ Huy Sài Gòn đã quyết định phải rút tối đa binh sĩ của mình và dân chúng về vùng bờ biển giàu có hơn, trú đóng ở các thị trấn dựa lưng vào biển, khi họ đứng trước mối đe dọa do sự tập trung quá lớn của lực lượng cộng sản được trang bị hùng hậu về chiến xa, hỏa tiễn và pháo binh hạng nặng, bỏ cho cộng sản những khu vực rộng lớn nhưng “trống rỗng”, ở đó miền Nam có thể sử dụng mọi phương tiện hỏa lực không quân mà không sợ đánh nhằm dân chúng lẫn lộn với binh sĩ của mình.

Dân chúng trong những vùng bị đe dọa không cần được kêu gọi hay khuyến khích mới bỏ đi. Các nông dân và trại chủ định cư ở Cao Nguyên từ 1960 hầu hết thuộc thành phần di cư người Công giáo, từng chạy khỏi Miền Bắc ngay sau khi hiệp ước Genève 1954 vừa được ký kết. Những người từ Quảng Trị và Huế chạy vào đây thì không bao giờ quên cuộc “thanh trừng đẫm máu” năm [Mậu Thân] 1968, lúc quân cộng sản chiếm một phần của hai thành phố này. Một cuộc thanh trừng kết toán bằng 6000 vụ hành quyết với phương tiện thô sơ trong vòng chưa đầy một tháng.

Tuy nhiên, sự rút đi bất thần của tất cả mọi hiện diện quân sự trên nhiều tỉnh yết hầu đã làm thương tổn nặng nề uy tín và tinh thần của chính phủ Sài Gòn..

Đường mòn Hồ Chí Minh được Hà Nội bảo vệ toàn vẹn, ngăn chặn mọi xâm phạm từ hai sườn. Do đó quân cộng sản kiểm soát hết phía Đông và phía Nam Campuchia, tất cả dãy Trường Sơn và cái “sân thượng” ngay trung tâm nước Việt Nam. Họ có thể đổ ập bất cứ lúc nào xuống Đà Lạt, vùng trồng rau chính của miền Nam mỗi ngày cung cấp cho Sài Gòn 70% rau tươi. Trú đóng trên các cao điểm và được trang bị cơ giới hùng mạnh, lực lượng cộng sản cũng có thể thọc một mũi dùi tấn công xuống biển để cắt đứt miền Nam làm hai đoạn, qua hành động đó cụ thể hóa sự hình thành một “nước Việt Nam thứ ba”.

oOo

Ngày 21 tháng 3-1975, đài BBC, từ trước vẫn hay phát lại các thông cáo của đài Hà Nội, loan báo sự di tản của thành phố An Lộc, cách Sài Gòn 100 cây số về hướng Bắc.

Năm 1972, An Lộc là nơi mà 5.000 binh sĩ miền Nam, trú ẩn trong thành phố hoàn toàn đổ nát vì 70.000 quả đạn pháo đủ loại của cộng sản Bắc Việt, suốt ba tháng dài đã chống trả và đánh bật hết các cuộc xung phong liên tiếp của 3 sư đoàn cộng sản Bắc Việt có sự yểm trợ trực tiếp của 2 trung đoàn chiến xa T.54. Bản thân tôi, lợi dụng các chuyến bay tản thương, đã đáp xuống thành phố này và sống ở đó được vài giờ. Vì hỏa lực địch dày đặc, các trực thăng chỉ ở dưới đất 30 giây — thời gian tối thiểu để những người trên trực thăng nhảy xuống, và những người khiêng cán đưa thương binh lên —  sau đó phải bay lên ngay. Thành phố chỉ còn là đống gạch vụn, ngổn ngang xác chiến xa T.54 bị lực lượng phòng thủ hạ bằng súng không giật và hằng ngàn xác bộ đội cộng sản sình trương trong bộ quân phục xanh tơi tả. Nhà thờ bay mất nóc. Cả trăm thi hài chồng chất, thối rữa giữa hàng ghế ngồi nát vụn dưới bục thờ Chúa. Hai tuần trước, một chiếc T.54 của cộng sản đã dùng đại bác bắn trực xạ vào các tín đồ đang cầu nguyện, trước khi bị pháo 105 ly của quân trú phòng bắn hạ với máy nhắm ở cự ly số 0… Rất nhiều binh sĩ miền Nam bị thương. Nhiều người không hề chợp mắt trong 60 giờ. Nhưng các đơn vị trú phòng đều có một tinh thần thép. Chúng tôi đang ở vào tháng 6. Vài ngày sau, Tổng Thống Thiệu đáp xuống An Lộc. Quân trú phòng bước ra khỏi hầm trú ẩn để hoan hô và bế bổng ông lên trong chiến thắng. Một đạo quân tiếp viện cuối cùng đã bẻ gãy vòng vây và thành phố An Lộc trở thành biểu tượng cho lòng can đảm vô biên của quân dân miền Nam Việt Nam. Các hư hại đổ nát được dẹp dọn và thành phố sống trở lại.

Và bây giờ không đầy 3 năm sau chiến công oanh liệt đó, An Lộc di tản mà không có một trận đánh nào.

oOo

Vả lại, cũng không nơi nào xảy ra trận đánh thật sự!

Ngày 24 tháng 3, cộng sản đã tiến tới bờ biển. Đất nước kể như bị cắt đôi. Cố đô Huế thất thủ ngày 26, không hề có phòng thủ.

Huế, nơi đã có hằng ngàn người chết năm [Mậu Thân] 1968. Huế, nơi mà những đơn vị “beo đen” [Hắc Báo], Nhảy Dù, Biệt Động Quân và sư đoàn Không Kỵ nổi tiếng của Hoa Kỳ đã lùng sục từng nhà trong trận đánh thuở đó.

Cuộc triệt thoái đã trở thành “mạnh ai nấy chạy”.

Sự sụp đổ này bao gồm toàn bộ miền Trung Việt Nam. Đám đông dân chúng hốt hoảng chạy loạn lớn dần như một con sông cuồn cuộn những lớp sóng hình ảnh đau thương không chịu nổi… Cuộc chạy trốn cuống cuồng của cả một dân tộc bị vứt ra đường. Cuộc di dân quái dị với dòng người tràn ngập kéo theo mọi thứ trên đường đi, đã phân tán và nhận chìm các đơn vị còn có ý định chống trả và chiến đấu. Nhiều phụ nữ la hét kinh hoàng và vô vọng vì không tìm được đứa con đi lạc, gần như trần truồng ngơ ngác giữa khối người chạy loạn. Nhiều cụ già chỉ còn da bọc xương, khô quắt dưới nắng cháy, kiệt lực vì cuộc chạy dài trong nóng nung và bụi bặm, đã té xuống nằm bất động “chờ giờ chết”. Cả thế giới đều mục kích những hình ảnh đó ngay trên màn ảnh truyền hình. Phản ứng đầu tiên của họ rất nhân đạo, rất tự nhiên, không kềm chế được. Họ run lên, sau đó họ tìm cách xin về nuôi hàng ngàn trẻ mồ côi. Không lúc nào có ai nghĩ rằng muốn bảo đảm tương lai cho những đứa trẻ đó chỉ có một cách hay nhất là phải tìm cách cứu cha mẹ của chúng.

Ở Sài Gòn, báo Chính Luận đăng bài phóng sự xúc động tới rã rời của một phái viên từ Qui Nhơn:

Khó thể tưởng tượng nổi những giờ phút cuối cùng của thành phố đang tự trút bỏ hết đời sống của mình. Dân chúng cướp giật thuyền máy do binh sĩ canh giữ. Sau lưng họ vô số va-li, thùng cây, rương hòm, quần áo trộn lẫn với giẻ rách được người ta vứt bỏ đầy trên bãi cát, với hàng chục, hàng chục tử thi bé nhỏ gây nên một mùi hôi thúi  không chịu được. Có nhiều bà mẹ vẫn còn ôm cứng xác chết của con trong tay mình. Trên những con đường dẫn tới hải cảng, những bé trai bé gái lạc mất hết cha mẹ đã cố kéo lê thân khô cằn đến tận bãi biển để rồi nằm chết lịm trên cát vì quá đói, quá khát và quá mệt mỏi.

Một cụ già mặc đồ đen ngồi dựa trên bến thuyền, kể lại hành trình chạy loạn từ Cao Nguyên:”Chúng tôi gồm hơn hai trăm ngàn người trên lộ 7B, bốn ngàn xe vận tải chở đầy binh sĩ, hằng ngàn mô tô, xe ba bánh, xe cũ của người Tàu, xe đạp, và người đi bộ. Có trên 100.000 người đi bộ, gồng gánh tất cả những gì mà họ có thể mang theo được, nào là gà nhét vào bị, nào là heo cột nằm trong gánh, nào là chó với sợi dây dắt theo… người Công giáo thì mang theo tượng ảnh Đức Mẹ và tượng Chúa. Con đường nhỏ hẹp chạy xuyên qua rừng giữa những bụi rậm và tre dày đặc. Chúng tôi không có thức ăn, và tuyệt đối không có gì để uống. Chúng tôi đi suốt 3 ngày ba đêm như vậy. Một bộ phận công binh đi trước đoàn xe để sửa đường và sửa lại cầu hư vì chiến cuộc trong những ngày qua.

Khi gần tới sông Ba thì từ trong cánh rừng xuất hiện một toán lính cộng sản có người cầm cờ đi đầu. Người chỉ huy toán bộ đội ấy phát loa ra lệnh cho chúng tôi phải ngừng lại và phải đi trở về. Nhưng làm sao được bây giờ vì có quá nhiều người ở phía sau cứ đùn chúng tôi đi tới. Tất cả coi như bị dồn cứng lại thành một khối người không nhúc nhích được nữa, rất khó ra lệnh còn hơn là đối với một đàn trâu đang cúi gầm đầu xuống đất. Bấy giờ bọn cộng sản mới bắn vào chúng tôi với tất cả các loại súng của họ đang có… Được giấu kín trong rừng, các loại pháo nặng nhẹ, súng cối, súng không giật… nã thẳng vào chúng tôi dọc theo con lộ đang bị kẹt cứng. Tất cả đều nổ đồng loạt. Một trái đạn pháo đã chém ngang con gái tôi và hai đứa con của nó. Trên đoạn đường dài 3 cây số, thây nằm la liệt, lẫn lộn kẻ chết người bị thương. Hàng trăm xe đủ loại bị cháy, nổ ì ầm như người ta ném đạn vào lửa vậy. Tôi ôm đứa cháu chín tuổi trong lòng, và cố gắng chạy bừa tới đâu hay tới đó. Đứa bé rên rỉ, vì nó bị một mảnh đạn pháo xuyên qua lưng từ bên này sang bên kia. Nó khóc thét lên nhắc đi nhắc lại: “Ông ơi, ngực cháu bị thủng rồi đau lắm”. Rồi đùng một cái, tôi không còn nghe nó nói gì nữa. Tôi nhìn lại nó thì đôi môi của nó đã đen hết rồi, và nó đã chết. Tôi tiếp tục bế nó để sẽ chôn cất nó cho phải phép. Khi vào đến thành phố, tôi rửa mặt cho nó ở một cái vòi nước đầu tiên, tôi cuốn nó vào một cái bị vải mới mà tôi mua với số tiền còn lại của tôi, và tôi chôn nó duới một gốc cây.

Bây giờ thì tôi không còn gì nữa, người thân cũng không có để mà thương yêu và che chở. Tôi sẽ không rời khỏi đây đâu” (*).

(*) Tác giả bài phóng sự này là ký giả Nguyễn Tú, sau 30-4-1975 đã bị nhốt vào trại tù cải tạo tới năm 1986. Mấy năm sau, ông vượt biên tới định cư tại Hoa Kỳ. Ông sống trong tình trạng bịnh hoạn tại Virginia ở tuổi 80. Chú thích của TQH.

(Còn tiếp – Chương 3)

Share this post