Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 5

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 5

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 5

TƯỚNG LÃNH TỨC GIẬN VÌ THẤY MÌNH BỊ NHỤC

Thứ Hai, 7 tháng 4 năm 1975

Đại tá Khôi, sĩ quan phụ tá trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn III tiếp tôi tại Bộ Tổng Tham Mưu, một doanh trại rộng lớn nằm gần sân bay Tân Sơn Nhất, nơi có rất nhiều ăng-ten và có thiết giáp canh gác.

Lúc bấy giờ là 9 giờ sáng.

Đại tá Khôi, cựu sĩ quan lực lượng đặc biệt, được huấn luyện ở Okinawa, là một người cao mảnh khảnh mặt đầy vết thẹo vì đã đạp phải mìn năm 1970. Trên tường văn phòng của ông treo đầy bản đồ, được cập nhật rất cẩn thận.

– Tôi chắc là anh muốn biết những gì đã xảy ra ở Cao Nguyên và ở Huế phải không? Ông ta hỏi tôi.

– Thưa đại tá, Tổng Thống Thiệu có nói về “những sai lầm trầm trọng về chỉ huy”. Vì tôi không có mặt tại chỗ, nên tôi muốn có vài chi tiết chính xác.

Đại tá Khôi xoa tay, nhìn tôi bằng cặp mắt sắc bén và dò xét, sau đó trả lời với nụ cười có chút gượng gạo:

– Chắc là tôi không thể trả lời hết các câu hỏi của anh được, nhưng tôi sẽ cố gắng nói với anh phần chính. Đồng ý không?

Tôi gật đầu chấp thuận ngay.

Đại tá Khôi bắt đầu nói:

– Trước hết chúng ta phải xác nhận một việc: cộng sản đã tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột 2 lần vào năm 1968 và năm 1972, và cả hai lần chúng đều thất bại. Nhưng lần này quân lực của chúng tôi ở vào một vị thế rất yếu kém và không còn sự không trợ mạnh mẽ của Không Lực Hoa Kỳ như đã từng giúp chúng tôi bẻ gãy cuộc tấn công của cộng sản lần trước. Chúng tôi biết là cộng sản Bắc Việt đã tập trung các đơn vị và chiến cụ trong những vùng rừng rậm nằm giữa biên giới Lào – Campuchia và các thành phố vùng Cao Nguyên. Nhưng vì người Mỹ luôn luôn từ chối không cung cấp cho chúng tôi các oanh tạc cơ hạng nặng để giúp chúng tôi đánh ngay vào tuyến xuất phát nằm ở các vùng tập trung của địch nên chúng tôi không thể dự đoán được cuộc tấn công của họ. Ngày 10 tháng 3, hồi 4 giờ sáng, cộng sản đã mở màn trận đánh bằng một trận mưa pháo đủ loại, từ 130 ly, đến bách kích pháo nặng và hỏa tiễn, nã vào thành phố Ban Mê Thuột. Cuộc pháo kích dọn đường này kéo dài ba tiếng đồng hồ, và ngay sau đó là các chiến xa T.54 mở cuộc xung phong vào thị trấn. Người của chúng tôi đã cực lực chống trả, đặc biệt là ở mạn Nam của thành phố và xung quanh phi trường, nhưng vào buổi trưa các oanh tạc cơ của chúng tôi lại đánh nhằm ngay bộ chỉ huy tiểu khu, cứ điểm phòng ngự cuối cùng, và sau đó tất cả mọi nỗ lực tái chiếm thị trấn đều thất bại.

Tổng Thống Thiệu muốn giữ vững Ban Mê Thuột, vì đây là thủ đô của đồng bào Thượng, và mất Ban Mê Thuột là tất cả các bộ lạc trên vùng Cao Nguyên này sẽ mất hết tinh thần. Ngày 13 tháng 3, được báo là thành phố này bị cộng sản Bắc Việt hoàn toàn kiểm soát, Tổng Thống Thiệu đã đơn phương quyết định bỏ hết vùng Cao Nguyên, thà là di tản hết dân chúng và quân đội trú phòng đang bị đe dọa còn hơn tiếp tục chống giữ tới cùng, để có thêm nguy cơ tổn thất rất cao về nhân mạng. Từ nhiều tháng trước Bộ Tổng Tham Mưu chúng tôi có thỏa thuận với các cố vấn Hoa Kỳ một kế hoạch theo đó chúng tôi dự trù rút hết quân lực về các tỉnh duyên hải miền Trung trong trường hợp bị cộng sản Bắc Việt tổng tấn công mạnh. Cuộc lui binh này – đã không thực hiện được vì vừa quá tốn kém vừa còn phải chống giữ lãnh thổ trên phương diện chiến thuật –  thật ra có 2 lợi điểm, là rút gọn tuyến phòng ngự của chúng tôi và có thể tiếp vận dễ dàng bằng đường biển.

Ngày 13 tháng 3, tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Vùng I tức vùng Bắc giữa vĩ tuyến 17 và Đà Nẵng, bay về Sài Gòn để họp với Tổng Thống Thiệu. Tổng Thống Thiệu đã ra lệnh cho tướng Trưởng rút quân trú phòng Quảng Trị và cũng đừng ngần ngại bỏ luôn Huế, nếu thấy cần thiết để tổ chức tuyến phòng thủ vững chắc ở Đà Nẵng, ở đó có thể lợi dụng được phi trường lớn và các kho dự trữ lương thực, đạn dược quan trọng. Tướng Trưởng đã tuyên bố thỏa thuận trên nguyên tắc, và nói thêm là ông sẽ dùng hết khả năng để phòng thủ Huế.

Ngày 14 tháng 3, Tổng Thống Thiệu đến căn cứ hải quân ở Cam Ranh để có một buổi họp kín của hội đồng quân sự. Năm tướng lãnh hiện diện trong buổi họp gồm: Tổng Thống Thiệu, tướng Khiêm, thủ tướng chính phủ, tướng Cao Văn Viên tổng tham mưu trưởng QLVNCH, tướng Đặng Văn Quang cố vấn quân sự của Tổng Thống và tướng Phú tư lệnh Vùng II Chiến Thuật.

Sau cuộc bàn cãi khá dài, tất cả tướng lãnh hiện diện trong buổi họp đều quyết định rút bỏ luôn hai thành phố hướng Bắc vùng Cao Nguyên là Kontum và Pleiku.

Kế hoạch được soạn thảo dự trù tập trung các đơn vị xuống vùng duyên hải và từ đó sẽ mở một cuộc phản công lên Ban Mê Thuột. Không có ấn định chính xác giờ giấc để tiến hành cuộc di tản hai thành phố Kontum và Pleiku…

Đại tá Khôi thình lình ngưng lại, bóp loạt xoạt mảnh giấy bằng hai bàn tay khô cằn, nói tiếp, giọng nhấn mạnh:

– Điểm sau cùng này mang một tính cách lịch sử quan trọng. Bốn trong số năm vị tướng hiện diện đều nghĩ rằng cuộc triệt thoái phải được tiến hành tuần tự và sẽ được kết thúc vào tuần lễ chót của tháng 3. Vị tướng thứ năm là tướng Phú, người chịu trách nhiệm về cuộc hành quân này, là một sĩ quan có một dĩ vãng quân sự hào hùng, tuy ông đi lên từ hàng binh sĩ. Từng lăn lóc trên chiến trường suốt 14 năm, ông là một tư lệnh sư đoàn tài giỏi nhưng lại là một tư lệnh Quân Đoàn quá yếu. Đã từ lâu rồi ông bị bệnh, ông lại không được chuẩn bị trước và không đủ khả năng điều khiển một cuộc hành quân triệt thoái quy mô như vậy, nghĩa là một cuộc điều quân khó khăn nhất trong phép dụng binh.

Tôi quan sát rất kỹ đại tá Khôi.

Thình lình tôi có cảm tưởng khó chịu là hình như ông đang đọc cho tôi một bài “diễn văn” soạn sẵn. Tôi tính ngắt ngang nhưng lại thấy cần phải nghe luận giải của ông đến cùng: cũng sắp sửa đến phần kết luận rồi…

Và đại tá Khôi nói tiếp:

Chiều tối 14 tháng 3, về đến Pleiku hơi trễ, tướng Phú không cần giải thích, đã cho lệnh Quân Đoàn tiến hành cuộc hành quân triệt thoái ngay sáng sớm hôm sau. Rạng đông ngày 15 tháng 3, tất cả binh sĩ cùng dân chúng hai tỉnh Kontum và Pleiku vội vã rời khỏi hai thành phố nói trên, bỏ lại tại chỗ hàng chục triệu mỹ kim chiến cụ. Cả hai đoàn người và xe qua quốc lộ 19 rồi vào con đường 7B. Con đường 7B này vốn chỉ là một con đường mòn được trải đá sơ sài, tất cả các cầu đều bị giật sập, đi sâu vào một vùng rừng đầy gai góc lùm bụi, cỏ cao ngất trời. Khi xe vận tải nặng và xe thiết giáp đi qua rồi thì các đường nước trở thành những vũng sình lầy lội, làm cho hàng ngàn xe khác đi sau bị mắc lầy, tự đâm vào nhau và ùn tắc lại hết. Trên đường rút đi, các đơn vị đi trước và đi sau 200.000 dân tỵ nạn, bị rơi vào một trận phục kích kinh hồn của sư đoàn 320 Bắc Việt. Hai chục ngàn dân bị tàn sát, 500 xe đủ loại bị phá hủy, tất cả đã biến cuộc triệt thoái này thành một cuộc tháo chạy trong hỗn loạn. Và cũng từ đó mới gây ra nỗi kinh hoàng khó tả trong dân chúng…

– Và Huế thì sao, thưa đại tá? Việc gì đã thật sự xảy ra ở đó?

– Tin tức thảm hại trên con lộ 7B được lan truyền rất nhanh. Tướng Trưởng sợ mình bị hoàn toàn cô lập ở phía Bắc, đã quyết định bỏ Huế. Nhưng Tổng Thống Thiệu vừa mới tuyên bố trên vô tuyến truyền thanh ý định cố thủ cố đô của Việt Nam, đã lệnh cho tướng Trưởng phải quay trở lại. Quân lính lúc đó đang di chuyển gần đến Đà Nẵng trong trật tự, đã phải quay trở lại. Nhưng họ lại gặp hơn 100.000 dân tỵ nạn đang chạy loạn, xô đẩy và ngăn cản làm cho họ không sao tiến lên được. Sư đoàn 1 Bộ Binh, một sư đoàn ưu tú của QLVNCH do đó bị tan hàng và biến mất trong đám đông hỗn loạn quái ác này vốn đang bị cộng sản Bắc Việt tàn sát bằng đủ mọi loại pháo. Huế đã hoàn toàn bị địch chiếm. Và Đà Nẵng không còn có thể phòng thủ được nữa. Phần còn lại thì tất cả các nhà báo đã có tường thuật hết rồi.

Đại tá Khôi đứng dậy, đi quanh bàn viết của ông ta, như báo cho tôi biết buổi nói chuyện đã chấm dứt.

Tôi khẳng định là những tin tức mà ông đã nói với tôi chắc chắn không phải tất cả sự thật mà chỉ đúng sự thật một phần nào thôi. Lối giải thích làm giảm nhẹ phần nào trách nhiệm của Tổng Thống Thiệu không đúng với tính tình của các nhân vật trong câu chuyện…

Tôi rất muốn nói với đại tá Khôi như vậy, nhưng tôi cảm thấy ông ta không muốn vượt khỏi luận cứ “chánh thức” đã cung cấp cho tôi. Do đó tôi chỉ hỏi:

Xin đại tá chỉ giùm tôi có thể tìm gặp tướng Phú ở đâu?

Gương mặt ông lạnh nhạt trở lại, và câu trả lời cụt lủn làm tôi hết sức ngạc nhiên:

Tướng Phú đã bị phạt giam, không thể tiếp ai được hết.

Tôi từ giã đại tá Khôi. Nhưng trước khi rời Bộ Tổng Tham Mưu, tôi nhờ vị sĩ quan báo chí xin giùm tôi một cái hẹn để đi gặp thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh vùng đồng bằng Cửu Long. Sau vài lần điện thoại, và gọi vô tuyến, tướng Nam đồng ý gặp tôi sau 3 giờ chiều, nhơn lúc ông ghé lại Mỹ Tho.

oOo

Cuộc nói chuyện với đại tá Khôi làm tôi đau đầu. Hình ảnh mà ông ta tả cho tôi về một tướng Phú già nua, suy nhược, không còn đủ sáng suốt và khả năng để phối hợp một cuộc điều quân, thực khó đứng vững.

Thật vậy, tôi chỉ không gặp tướng Phú chừng sáu tháng, nhưng tôi biết ông cách đây 23 năm, từ khi ông ra trường sĩ quan Thủ Đức. Tôi biết ông chỉ còn một lá phổi. Nhưng con người ốm yếu 49 tuổi đầu này là một người dày dạn phong sương. Ông rất cứng rắn đối với binh sĩ và cũng cứng rắn đối với bản thân, dẻo dai, mưu lược và giỏi về chiến thuật, nên trước hết ông là một sĩ quan của thế công.

Ở Điện Biên Phủ, nơi mà ông được thăng cấp đại úy tại mặt trận, ông đã tạo được lịch sử của ông rồi. Ngày 30 tháng 3 năm 1954, quân Việt Nam đánh một trận đẫm máu ở 5 ngọn đồi, trong lúc xáp lá cà, bộ đội đã gọi nhau ơi ới: “Thằng Phú đâu rồi? Phải bắt thằng Phú nghe, bắt sống nó nghe!“. Ông không rơi vào tròng của họ và liên tiếp mở hết cuộc phản công này đến cuộc phản công khác. Phương pháp chỉ huy của ông Phú rất khắt khe. Với người có hành động vi phạm kỷ luật mà ông đã ban hành, ông cho cột chân tay vào hàng rào kẽm gai. Mặc dù liên tục bị pháo kích hết sức nặng nề, hệ thống phòng ngự chỉ gồm những hố tác chiến trên đồi Elian 1 của ông đã cầm cự suốt nhiều tuần lễ, đẩy lui tất cả các đợt xung phong của địch. Bốn ngày trước khi cứ điểm bị thất thủ, ông còn oanh liệt cho nổ 3 lô cốt có trang bị súng không giật 57 ly, kịp thời phát hiện, chận đứng và tấn công một tiểu đoàn địch trên sườn đồi, buộc địch phải rút lui với sự yểm trợ hữu hiệu của pháo binh Pháp do ông đích thân đứng ngay trên địa thế trống trải để điều chỉnh tác xạ chính xác. Ông đã sống sót sau 18 tháng bị bắt giam tại một trại tẩy não cộng sản ở Thượng Du Bắc Việt, dứt khoát không ký một bản “thú tội” hay một tờ truyền đơn nào. Và các sinh viên ở Sài Gòn đã tranh đấu dồn ép phái đoàn Bắc Việt đang ở khách sạn Majestic lúc bấy giờ để đòi Bắc Việt trả tự do cho ông. (*)

(*) Phái bộ Bắc Việt do Văn Tiến Dũng cầm đầu ngụ tại khách sạn Majestic và Galliéni, Sài Gòn, đã bị sinh viên học sinh và dân chúng truy lùng trong cuộc biểu tình vào ngày 20-7-1955, phải nhờ quân đội Pháp che chở tháo chạy về một trụ sở Hiến Binh Pháp tại khu Chi Lăng, Gia Định. – Chú thích của TQH.

Từ khi được trở về Nam, ông Phú đã tham gia tích cực vào cuộc chiến. Đặc biệt tại Lào, năm 1971, đang là tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh, ông đã giúp một đoàn xe thiết giáp của Miền Nam thoát khỏi sự thảm bại trông thấy, trên đường rút lui ở quốc lộ 9. Để cứu đoàn thiết giáp đang bị 2 sư đoàn Bắc Việt tấn công từ hai bên sườn, tướng Phú đã không ngần ngại băng qua rừng tìm địch để cuối cùng bẻ gãy gọng kềm của đối phương sau 3 ngày tác chiến ác liệt nhiều lúc phải đánh xáp lá cà. Tháng 5-1972, trong trận tấn công quy mô của Bắc Việt vào Huế, tướng Phú cùng đại tá Dickinson đã đưa tôi đi quan sát bằng trực thăng ngay trên vùng cộng sản. Khi cố gắng đáp xuống một mỏm núi đang bị Bắc Việt bao vây, trực thăng của chúng tôi bị trúng một viên đạn trực xạ của súng 75 không giật, bay mất nửa mảng phía trước và gãy một chân càng. Như có phép lạ, chiếc trực thăng lại bay lên được và tướng Phú đã bắt phi công phải lượn lại trên vị trí bạn một vòng với câu nói: “Tôi muốn cho cả Việt Cộng lẫn binh sĩ của tôi biết rằng tôi vẫn sống.

Tôi nghĩ lại tất cả các chuyện này và không bao giờ tin rằng tướng Phú tự nhiên lại mất bình tĩnh đến độ cho lệnh triệt thoái hối hả vô trật tự mức đó để cuối cùng phải nhận lãnh một thảm trạng như vậy. Phải chăng vì tôi biết về ông quá nhiều, vì ông là bạn của tôi, hay vì tình đồng đội lâu đời khắng khít giữa người cùng binh chủng Nhảy Dù của hai chúng tôi đã làm lạc hướng nhận định của tôi? Tôi không tin điều đó. Tôi nghĩ sẽ biết rõ sự thực khi tôi thảo luận với tướng Nam cũng là một người bạn từ lâu của tôi…

oOo

Đoạn quốc lộ 4 nối liền Sài Gòn với Mỹ Tho là một con đường rất tốt. Một cây cầu dài 550 thước chạy ngang sông Vàm Cỏ Đông, dòng sông đầy bùn lờ lững chảy, mang theo nhiều mảng cỏ… mặt nước chỉ cách sàn cầu 20 thước. Các xe vận tải quân sự chở đầy đạn pháo binh và binh sĩ đang vẫy tay cười đùa và dùng hai ngón tay ra dấu chữ V (chiến thắng) với tôi. Họ nhấn kèn báo cho các xe đò chở dân chúng nhường đường cho binh sĩ đi qua. Chúng tôi đang vào phần đồng bằng có ruộng lúa, ruộng mía và vườn dừa, một phần đất mầu mỡ nhất của vùng Đông Nam Á. Nhìn mút tầm mắt là đồng lúa màu vàng cò bay thẳng cánh với những con đê và lác đác vài con trâu đen bất động. Làng mạc nằm sau các lũy tre xanh, có nhà dân lợp lá, có các bờ chuối, bờ dừa. Binh sĩ đi dọc theo các bờ ruộng, súng tự động cầm tay. Mấy chiếc trực thăng bay lượn trên bầu trời. Trẻ em vui đùa bên các khẩu pháo 105 ly đặt dọc theo quốc lộ, tác xạ không ngừng.

Qua một số cầu có chiến xa tăng cường canh gác, hoặc có tháp canh với các đài quan sát cao, các nhà dân sau các rào bông bụp hay xương rồng trước khi đến chợ Tân An, rồi Tân Hiệp, cuối cùng thì đến Mỹ Tho. Thành phố đầy xe thiết giáp, xe cứu thương và các đoàn xe đạn dược.

Nhưng ở đây, các chiến cụ dù là bất đắc dĩ dự phần trang trí cho tỉnh lỵ cũng không gây cảm giác gì hay làm khó cho ai hết. Dân chúng ồn ào và tấp nập, chuyện trò, mua bán, chuyên chở rất tự nhiên, gây một cảm tưởng như không hề biết gì về những thảm trạng vừa xảy ra ở miền Trung. Thật ra dân chúng bất chấp mọi chuyện. Miền Trung ở quá xa và không phải là Đồng Bằng Cửu Long. Mỹ Tho là căn cứ địa của Sư đoàn 7 Bộ Binh với quân số được tuyển mộ và thành lập tại chỗ. Sư đoàn được trang bị thiết vận xa, thuộc lòng mọi ngõ ngách của từng xã ấp, từ các con đường mòn đến các cây cầu khỉ, các kinh rạch và nhánh sông chảy khắp phần đất mầu mỡ cùng các rừng dừa nước trong vùng.

Thiếu tướng Nam mừng rỡ nắm chặt tay tôi lắc thật mạnh và tiếp tôi trong văn phòng của vị tỉnh trưởng, Người quân nhân Nhảy Dù này năm nay 48 tuổi, nước da đen sạm, với gương mặt luôn luôn cảm hóa mọi người, đã qua các trường đào tạo “mũ đỏ” của người Pháp và được người Mỹ huấn luyện về chiến thuật trực thăng vận. Ông là quân nhân duy nhất thuộc một gia đình quí tộc danh tiếng ở Huế, gồm toàn các cụ đồ nho và quan lại của triều đình. Ở ông, nổi bật nhất là vóc dáng vạm vỡ, vai u thịt bắp, cầm vuông rõ nét của một con người thượng võ. Đến giờ này ông vẫn sống độc thân không hối tiếc (điều này bảo đảm cho tính thanh liêm trong sạch của ông ở một đất nước mà các bà thường mượn uy quyền và địa vị của chồng để làm ra tiền), và chỉ thấy vui vẻ thoải mái khi sống giữa hàng binh sĩ và các đơn vị tác chiến của ông. Người bạn thân nhất của ông là đại tá Ninh (một “mũ đỏ” khác được đào tạo ở trường Nhảy Dù Pau, Pháp) một sĩ quan mảnh khảnh với bộ râu mép ngạo mạn, người đã cùng ông với đạo quân tiếp viện của mình bẻ gãy vòng vây An Lộc, một trận Verdun của miền Nam Việt Nam.

Sao? Thiếu tướng Nam vừa cười lớn vừa nói với tôi. Anh muốn xuống đây kiếm tôi, chỉ vì các tay trên tổng tham mưu không chịu nói sự thật với anh chớ gì? [Nguyên văn: “tu” và “moi” – Chú thích của TQH].

– Anh Nam ơi, tôi chỉ xuống đây để được biết tin tức thôi.

– Được rồi, Chúng ta hãy nói chuyện về Vùng IV của tôi. Đường sá luôn luôn được mở sạch sẽ để lưu thông được an toàn, và Việt Cộng không phải là chủ ở đây. Các đơn vị Bảo An và Dân Vệ của tôi giữ chặt lãnh thổ, điều này cho phép tôi điều động hoàn toàn 3 sư đoàn chánh quy của tôi trong các cuộc đụng độ mạnh với các đại đơn vị cộng sản Bắc Việt đang muốn xâm nhập vào đây từ phía Campuchia. Hôm qua, chúng tôi có “sơi” một trung đoàn thuộc sư đoàn 4 bộ binh Bắc Việt ở Phú Sơn. Hôm nay họ bị dồn về phía trước các hãng đường ở Đức Hòa rồi. Chúng tôi đã tịch thu hơn một trăm vũ khí nặng, súng không giật, súng phóng hỏa tiễn, bích kích pháo và cả một số súng liên thanh phòng không.

– Sau thảm trạng ở miền Trung, thật sự quân lực VNCH còn bao nhiêu lực lượng khả dụng?

– Còn được 7 sư đoàn với quân số đầy đủ: 6 Sư đoàn Bộ Binh, 1 Sư đoàn Dù, cộng thêm 2 Lữ đoàn thiết giáp và nhiều Liên đoàn Biệt Động Quân. Hai Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến và 2 sư đoàn khác (Sư đoàn 2 và Sư đoàn 4) đang được bổ sung quân số và tái thành lập với những đơn vị vừa từ miền Trung rút về.

Sài Gòn được phòng thủ rất chặt chẽ với 2 nút chận thật mạnh. Nút chận thứ nhất là vòng đai phòng ngự phía Bắc của thủ đô do Sư đoàn 25 Bộ Binh của tướng Lý Tòng Bá, một kỵ binh lực lưỡng và đủ kinh nghiệm. Trung tâm điểm của tuyến phòng ngự này dựa trên thị xã Bến Cát, một vị trí chủ, được xây dựng quanh một ngọn đồi có bố trí các loại súng và có hầm trú ẩn bê tông cốt sắt.

Nút chặn thứ hai là tuyến phòng thủ mặt Đông, tiếp giáp nhau quanh thành phố Xuân Lộc, do Sư đoàn 18 Bộ Binh trấn giữ, một sư đoàn ưu tú mà tư lệnh là tướng Lê Minh Đảo, hùng hục và vui vẻ như một thiếu úy. Tôi nghĩ Bắc Việt khó đánh bật được 2 phòng tuyến này.

– Dù sao vẫn còn một nguy cơ, anh Nam. Việt Cộng không có thói quen đánh trực diện vào các cứ điểm mạnh. Họ dùng toàn bộ pháo binh nã vào cứ điểm mạnh cầm chân các đơn vị để họ lợi dụng vùng rừng bụi đánh bọc hai bên sườn của mình. Nên nhớ là Xuân Lộc và Bến Cát đều có các vườn cao su và rừng cây bao quanh.

–  Chắc vì thế mà chúng không dám đánh ở địa thế gần như trống trải tại Đồng Bằng Cửu Long. Có lẽ chúng sẽ cố gắng cô lập Sài Gòn hơn, cắt đứt thủ đô với vùng vựa lúa và giàu nhân lực, vì nguy cơ lớn nhất phải đến ngay từ Sài Gòn. Tôi muốn nói đến các chuyện lộn xộn và tham vọng chính trị ở Sài Gòn. Các nghị sĩ bắt đầu rục rịch, các tướng lãnh không có quân cũng đang có âm mưu gì đó, và Tổng Thống Thiệu càng ngày càng bị cô lập. Chính quyền có thể bất thần sụp đổ và rơi vào tay của những kẻ vô trách nhiệm, sẵn sàng hấp tấp mở cửa rước bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn.

– Anh giải thích thế nào về sự sụp đổ đã xảy ra ở miền Trung?

Tướng Nam chống tay lên thành ghế ông đang ngồi, và bực tức cằn nhằn:

– Có nhiều lý do. Nhưng đầu tiên và trước hết là do ông Thiệu.

– Ở tổng tham mưu, đại tá Khôi nói với tôi người chịu trách nhiệm là tướng Phú.

– Không phải. Anh đã biết tướng Phú còn hơn tôi nữa mà. Ông là một cấp chỉ huy có khả năng, bám trận địa như một con rận bám sát tóc vậy. Không, ông không phải loại người chuồn đi, bỏ lại cả một thành phố và toàn bộ chiến cụ nguyên vẹn như vậy. Trước khi đổ vấy trách nhiệm cho cấp chỉ huy và cho lỗi lầm thuộc giới chính trị, có vài điểm kỹ thuật cần được làm sáng tỏ: cuộc tổng tấn công của cộng sản vào vùng Cao Nguyên đã được chờ đợi từ nhiều tuần lễ rồi. Nhưng vì thiếu tin tức chính xác về những cuộc điều quân hay di chuyển của các đơn vị cộng sản Bắc Việt xuyên qua rừng rậm, tướng Phú nghĩ cũng đúng là nỗ lực chính của cộng sản phải nhắm vào Kontum hay Pleiku, nằm ngay ở phía Bắc, và ông ta đã tập trung phần lớn lực lượng vào hai thành phố này. Xui cho ông, Bắc Việt lại tấn công vào Ban Mê Thuột, nơi mà quân trú phòng chỉ có một trung đoàn và vài liên đoàn Biệt Động Quân mà phải đương đầu với cả 3 sư đoàn cộng sản! Sau đó cộng sản cắt hết các trục giao thông chính trên Cao Nguyên. Phản ứng đầu tiên của tướng Phú là phản công. Ông ta cho trực thăng vận 300 binh sĩ Dù và một liên đoàn Biệt Động Quân đổ xuống chiếm lại hai phi trường ở Ban Mê Thuột, rồi đã tiến vào được thành phố và tảo thanh thị trấn. Trong một vài giờ, Ban Mê Thuột đã biết được không khí thật sự vui mừng, một cái gì mường tượng như lúc thủ đô Paris được giải phóng. Dân chúng vẫy cờ hoan hô các binh sĩ của chính phủ. Các chủ vườn cao su đem rượu cô-nhắc ra uống mừng chiến thắng. Nhưng sau đó, đùng một cái, theo lệnh từ Sài Gòn chuyển lên, lực lượng miền Nam được lệnh phải rời khỏi thành phố. Hai sư đoàn Bắc Việt khép kín họ lại và đã tiêu diệt họ. Pleiku và Kontum còn 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 23 Bộ Binh. Pleiku cũng là một căn cứ không quân quan trọng với một sư đoàn Không Quân, không thiếu bất kỳ thứ gì từ lương thực đến đạn dược. Tướng Phú quyết định đánh và kháng cự. Ông ta đã xác định với các sĩ quan của ông như vậy. Tuy nhiên ngày 14 tháng 3, Tổng Thống gọi ông về Cam Ranh và cho lệnh ông phải lui quân. Bây giờ chúng tôi được biết cuộc bàn cãi rất sôi động đầy sóng gió. Tướng Phú từ chối không thi hành lệnh. Ông ta nói thẳng với Tổng Thống Thiệu: “Tôi đã đánh giặc 23 năm rồi, và tôi chưa bao giờ biết lui quân. Hãy tìm một người khác để chỉ huy cuộc “chạy trốn” này”. Nói xong ông vứt khẩu súng lục của ông lên bàn và ra khỏi phòng họp, đóng sầm cửa lại. Sau đó ông bay về Nha Trang, khai bệnh vào nằm bệnh viện. Chuyện đó có khó khăn gì với ông ta đâu, vì anh cũng biết là ông ta luôn bị khó chịu với hai lá phổi.

– Đại tá Khôi xác định với tôi là tướng Phú đã bay về Pleiku và đã cho lệnh triệt thoái vài giờ sau đó.

– Đó là kiểu nói chánh thức. Bộ Tổng Tham Mưu quả quyết là khi về đến Pleiku, tướng Phú đã nói với tư lệnh phó của ông “tôi cho ông hay một bí mật lớn, là chúng ta sẽ phải sớm di tản hết các vị trí của chúng ta”. Vị tư lệnh phó này lập tức báo tin cho các sĩ quan, và cuộc triệt thoái được thi hành ngay lúc đó. Tôi đã gặp tướng Phú ở Sài Gòn ngày hôm kia, ông ta xác nhận với tôi là ông ta không bao giờ ra lệnh triệt thoái. Dù sao thì giải pháp tốt đẹp duy nhất là nên giao cho tướng Phú một nhiệm vụ hy sinh bằng cách cho lệnh ông phải tử thủ tại chỗ để bảo vệ Pleiku, nhằm mục đích mua thời gian và để cho dân chúng và các liên đoàn Biệt Động Quân rút đi trong vòng trật tự, như thế thì mới tránh được cái dịch hốt hoảng đã đầu độc cả nước.

– Như vậy thì ai là người ra lệnh triệt thoái?

– Chính là ông Thiệu. Sau khi tướng Phú từ chối không thi hành lệnh, Tổng Thống Thiệu đã báo động cho đại tá Tất, tư lệnh phó của ông Phú, một sĩ quan Biệt Động Quân, và giao cho ông này chức vụ Tư Lệnh Vùng. Được Tổng Thống liên lạc thẳng, Tất đã sốt sắng thi hành lệnh, và cho bắt đầu ngay cuộc hành quân triệt thoái mà không tiến hành phá hủy một kho tàng nào. Anh ta đã để lại nguyên vẹn sáu tháng lương thực, một nửa các khẩu pháo và nặng nhất là để nguyên 40 chiếc phi cơ và trực thăng còn tốt. Tổng Thống Thiệu đã phạm một lỗi về xét đoán nhân sự không thể cãi được khi ông giao quyền chỉ huy cho đại tá Tất. Tôi biết anh này quá nhiều, anh ta là một sĩ quan can đảm, một sĩ quan chuyên về tác chiến lưu động, đột kích hay phá hoại. Nhưng anh ta không được đào tạo hay huấn luyện gì để có thể hướng dẫn cuộc hành quân loại triệt thoái rất tế nhị và quan trọng này. Tổng Thống Thiệu cũng phải gánh hoàn toàn trách nhiệm trong việc bỏ thành phố Huế và Vùng I Chiến Thuật. Tướng Trưởng có 3 sư đoàn ưu tú để lo phòng thủ Vùng này, Sư đoàn 1 Bộ Binh, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và Sư đoàn Dù. Nhưng ngày 20 tháng 3, Tổng Thống Thiệu vì sợ bị đảo chánh, nên đã rút Sư đoàn Dù đưa ngay về Sài Gòn làm cho tướng Trưởng đứng trước một lỗ hổng quá rộng trong hệ thống phòng thủ của ông. Vì chỉ với 2 sư đoàn mà ông phải tái phối trí cho một tuyến phòng thủ dài 150 cây số… Do đó mà ông phải quyết định thu gọn lực lượng về tuyến phòng thủ Đà Nẵng, lực lượng quân sư ưu tiên lui về trước. Trong lúc các đơn vị đang trên đường di chuyển, Tổng Thống Thiệu lại cho lệnh phải trở lui lại Huế, nhưng cộng sản Bắc Việt đã chận đường trở lại Huế ở khoảng Đèo Hải Vân. Trước hết Sư đoàn 1 đã đánh một trận khốc liệt để tái chiếm đèo Hải Vân và tái lập lưu thông trở lại. Nhưng vô phước là làn sóng dân chúng chạy loạn như nước vỡ bờ đã phá tan hàng ngũ Sư đoàn 1. Rất nhiều binh sĩ quá lo cho số phận gia đình mình nên đã bỏ hàng ngũ, còn một số khác thì đào ngũ hẳn. Vị tư lệnh Sư đoàn 1 ở Đà Nẵng cố gắng nắm lại sư đoàn của mình nhưng đã bị một anh phản loạn đánh gục.

Tướng Nam đứng dậy, vươn vai, đi vài bước trong phòng. Sau một hồi im lặng, ông ngồi xuống và tiếp tục:

– Tổng Thống Thiệu bị ám ảnh vì sự bỏ rơi hèn hạ của người Mỹ. Tôi tin chắc ông ta muốn bi thảm hóa tình hình bất thần như vậy, hy vọng Tổng Thống Ford sẽ vượt qua được một mức độ khó khăn nào đó để đi đến quyết định phải gởi oanh tạc cơ hạng nặng qua giúp Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng sự việc sau đó đã cho thấy là ông tính toán sai. Và chúng ta đã mất mát quá nhiều trong vấn đề đó. Biện pháp hữu hiệu nhất để thuyết phục Quốc Hội và Nhà Trắng, là chúng ta phải chiến đấu tại chỗ cho đến viên đạn cuối cùng. Chính cộng sản Bắc Việt cũng không tin là chúng sẽ chiến thắng dễ dàng như vậy. Bằng chứng hùng hồn nhất là cả 4 sư đoàn trừ bị chiến lược của miền Bắc chỉ mới vượt qua vĩ tuyến 17 trong tuần lễ vừa qua.

Tướng Nam nắm chặt cánh tay tôi, nói thêm:

– Chúng tôi đã theo Tổng Thống Thiệu mười năm nay. Nhưng bây giờ thì ông ta đã làm chúng tôi mất hết niềm tin rồi. Ông sống chui rúc trong Dinh Độc Lập và lấy quyết định một mình không chịu tham khảo với ai hết. Ông ta chỉ nghe có một mình tướng Quang, cố vấn quân sự của ông ta, một con heo mập lúc nào cũng nịnh hót và không nói trái lời ông ta bao giờ. Tôi không tin là ông ta sẽ còn khả năng vượt qua được các biến cố. Các tướng lãnh đã nổi giận và quân đội đã xấu hổ quá rồi.

– Bây giờ anh định làm gì? Lật đổ ông ta chăng?

– Dù gì cũng không phải tôi đâu. Tôi chỉ là một quân nhân. Nghề nghiệp của tôi là tác chiến và tôi tiếp tục tác chiến. Đối với tôi, chính trị là cái gì nhơ bẩn, tôi không muốn phải lội vào đó.

oOo

Trên đường về Sài Gòn, tôi dừng chân giây lát cách Tân An hai cây số. Một đoàn xe chở đầy binh sĩ Miền Nam đang trở về sau cuộc hành quân. Một ông đại tá to con mập mạp đang bị một nhóm nhà báo và nhiếp ảnh Việt Nam bao vây. Tôi bước đến gần. Trong một cái hố, có khoảng 20 bộ đội cộng sản vừa bị bắt ban sáng đang ngồi đó, đầu mặt gục xuống. Tay họ bị trói ra sau lưng, đi chân đất, ở cổ có đeo thẻ lý lịch. Tất cả đều đến đây từ Bắc Việt. Không một người nào quá 17 tuổi. Trên một cái cáng, bụng quấn quần áo đầy máu, là một sĩ quan Bắc Việt, mắt đã đờ rồi, chắc không sống được bao lâu nữa. Ông đại tá đang nói cho các nhà báo nghe vài tin chi tiết.

Lúc tôi về đến Sài Gòn là những ngọn đèn nê-ông đầu tiên đang bắt đầu cháy và thành phố lập lòe ánh sáng từ xa trông như một tủ kính của một cửa hàng nào đó…

(Hết Chương 5)

Share this post