Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 6

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 6

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 6
DINH ĐỘC LẬP BỊ DỘI BOM

Thứ Ba 8 tháng 4
– 7giờ 30 sáng

Tôi thả bộ từ đường Pasteur đến đại lộ De La Somme (Hàm Nghi) và bùng binh Chợ Bến Thành. Chợ Sài Gòn có ngọn tháp vuông trên nóc giống như chòi canh của cái đồn nào đó thời ông Galliéni, những bảng quảng cáo bao quanh hết khuôn viên phía ngoài nào là kem đánh răng, dầu thơm, rượu, thuốc lá v.v… Cạnh đó là nhà ga xe lửa có mấy chiếc xe buýt hiệu Ford và Pontiac sáng chói đang đậu xung quanh. Tất cả cho thấy vấn đề kinh doanh của Sài Gòn từ nhiều năm qua đều là sản phẩm Hoa Kỳ.

Tuy nhiên ở khắp nơi có lớp người bình dân Việt Nam đang sống thì chỗ dễ tới nhất và gắn bó với người dân nhất, phải là cái chợ.

Dưới mái vòm to của chợ Sài Gòn, trong những kiến trúc rộng thênh thang kiểu “ba tàu” ở Chớ Lớn, khắp các thành phố Đồng Bằng Cửu Long, cuối cùng, trong tất cả chợ vườn dọc các sông ngòi đầy xuồng ghe hay lục bình: đâu đâu cũng luôn luôn lúc nhúc một thứ hàng hóa, cùng một loại người và cùng một cặp mắt như nhau.

Vươn khỏi các tấm bảng quảng cáo thì mặt trời và ánh sáng phải nhường chỗ cho một vùng lờ mờ nửa sáng nửa tối, với một đám đông ồn ào và lăng xăng san sát bên nhau mà không hề chen lấn xô đẩy nhau. Trước khi nhận rõ mặt từng người, tôi đã bị rơi vào một luồng gió đủ các mùi vị lẫn lộn. Mùi trái cây ngọt như nước đường, mùi thơm như ngũ vị hương, nồng nặc như ớt, tiêu, gừng, nước mắm, mùi hôi của đồ lòng, của bếp núc, đủ hương vị của hàng tạp hóa, dầu thơm của thợ cắt tóc v.v…

Tất cả đều có mặt ở đây, từ mọi thứ mà con người gặt hái được, đánh bắt được, các hàng mỹ nghệ sản xuất được, trưng bày hay sắp xếp trên các giá gỗ và các kệ, rọi sáng rực bằng đèn nê-ông. Trước tiên là nhang thơm, những cây nho nhỏ dài dài như diêm quẹt thường thắp lên trong nhà, trong chùa miễu hay dọc đường đi: ở đây nhang xếp thành từng bó trong những bao vàng, đỏ lòe loẹt kiểu người Tàu. Cạnh đó là giấy tiền vàng bạc, loại tiền dành riêng cho người quá cố, dùng để cúng ông bà tổ tiên…

Sau các mặt hàng hiến dâng cho người đã khuất là các sản phẩm từ đất đai: những quày chuối dài, trái mít to, những tháp cao ngất trái cây và rau cải đủ loại ngổn ngang lạ mắt. Các trái sầu riêng giống như con nhím xanh, với cơm bên trong hơi nặng mùi nhưng béo ngọt mà người sành ăn rất thích, các trái khế hình quả trám có khía sáng ngời, các trái ổi ruột đỏ hồng, các trái xoài to chín như các thỏi vàng, và có những khu đầy chuối, thơm, dưa leo, các rổ giá đậu trắng trông như những cọng bún.

Xa chút nữa là cá khô, có thứ bó cột bằng dây dừa, có thứ vừa mỏng vừa dẹp được treo lên như những chiếc lá khô. Và hàng cá tươi mới về gồm cá thu khứa ra từng khứa, cá ngừ, cá tráp, cua bể, tôm càng xanh, những con cá chình lớn như con trăn mà người bán phải dùng chày đập đầu cho chết. Còn đây là hàng gạo, người bán mắt tròn xoe mặt sáng rỡ, đang quảng cáo gạo của mình, gạo ngon, được trưng bày cùng khắp, trong các bao lác mở rộng miệng. Người mua gạo bốc gạo lên xem, từng vốc một, đổ gạo từ tay này qua tay kia để đánh giá từng loại gạo, này là gạo Gò Công, kia là gạo Vĩnh Long nhỏ hạt hơn, còn gạo Châu Đốc thì màu đỏ…

Hai bà già tranh cãi gần như sẵn sàng đánh lộn. Ông thày bói với phong thái nhà nho lúi húi gấp xếp các thứ lỉnh kỉnh gồm mấy cây bút lông và những trang tử vi.

Sự khéo léo bẩm sinh của dân tộc Việt Nam nhỏ bé này, nhã nhặn và nhanh nhẩu, di chuyển thật nhẹ nhàng bằng tay những hàng hóa nặng nề mà như không hề chạm tới, vẫn luôn khiến tôi sững sờ.

Tôi rời chợ, đi ra đường, lúc đó khoảng 8 giờ. Các cửa hàng vẫn bày bán đủ thứ máy truyền hình, nồi nấu cơm Nhật, các túi bằng da cá sấu…, các hiệu nữ trang với những tấm kính viết chữ Tàu sáng chói, những vòng đeo tay hay dây chuyền bằng vàng y 24 ca-ra đỏ rực.

oOo

Đùng một cái, tất cả mọi người đều ngước lên trời. Tiếng rít chói tai từ một phản lực cơ át hết mọi tiếng ồn ào khác. Và mọi người đều nhớ là đã từ lâu mọi phi cơ đều bị cấm bay qua vùng trời thủ đô, nơi có Dinh Độc Lập. Tự nhiên mọi người đều cố nhìn lên để nhận dạng xem phi cơ phản lực loại nào đã bay qua thật thấp ở ngay trên vùng trời thủ đô. Một chị la lên: “Chắc nó bỏ bom Dinh Độc Lập”. Và hầu hết người có mặt trên con đường này đều la theo: “Nó sẽ dội bom Dinh Độc Lập”.

Ngay sau đó, hai tiếng nổ dữ dội đi liền theo tiếng rít của phản lực cơ. Thời gian chưa đầy một phút, chiếc phi cơ lại bay ngang qua mục tiêu của nó, đánh dấu bằng 2 tiếng nổ nhỏ và vài tràng đại liên ngắn. Lần này, tôi nhận rất rõ tiếng nổ lốp đốp đều đặn của súng đại bác tự động. Sau đó chiếc phi cơ đi xa lần đến một nơi vô định nào đó.

Cuộc tấn công xảy ra không quá 5 phút. Tôi rảo bước nhanh hơn. Phía trên dinh Tổng Thống rất gần đây, một cột khói đang bốc lên, còn bao quanh các cây cối trong vườn. Khoảng 10 phút sau, 4 xe cứu hỏa đến tại chỗ. Trước cổng chánh Dinh Độc Lập, khoảng 50 binh sĩ Dù đang ở tư thế phòng thủ, mỗi người ngồi sau một góc cây, sẵn sàng chiến đấu. Các xe Quân Cảnh bao quanh khu vực, cô lập Dinh Độc Lập với cả thành phố. Cảnh sát dã chiến với quân phục rằn ri, súng cầm tay, đang hướng dẫn mọi sự lưu thông tránh xa Dinh Độc Lập. Các ngã tư đường dẫn tới dinh đều có ngựa sắt kẽm gai chận hết.

Trung tâm thành phố có nguy cơ bị tắc nghẽn giao thông một cách nhanh chóng và điều này chỉ tăng thêm tình trạng hỗn loạn. Tôi đi dài xuống đường Tự Do. Nhiều tin đồn nhảm sai hẳn sự thật đã lan truyền rồi…

Một tài xế xe tắc xi bước ra khỏi xe của anh ta trước tiệm sách Albert Portail, vừa múa tay múa chân vừa la lên: “Tổng Thống chết rồi”. Mấy chị bán thuốc lá lo thu xếp quầy thuốc. Đứng giữa một đám đông hiếu kỳ, một luật sư ở nhóm đối lập thuộc phong trào “đòi quyền sống cho người dân” nhìn nhận một cách rất nghiêm túc:

 – Đó là chiếc phi cơ F5 do tướng Nguyễn Cao Kỳ lái. Ông ta đảo chính. Các dàn ra-đa Tân Sơn Nhứt theo dõi chiếc F5 này đã thấy nó bay về hướng Thái Lan.

Nhưng, tôi biết rất rõ tướng Cao Kỳ chưa từng lái phi cơ phản lực bao giờ!

Một số xe thông tin gắn loa phóng thanh chạy khắp nơi thông báo giờ giới nghiêm bắt đầu có hiệu lực từ 12 giờ trưa. Rất nhanh, thành phố trở nên trống hoe. Hàng quán buông rèm xuống che kín cửa tiệm. Đường xá vốn đầy rẫy xe cộ, và ồn ào tiếng xe gắn máy, chỉ còn lại cảnh im ắng. Sài Gòn bây giờ là một thành phố chết, một thế giới vắng tanh, ở đó chỉ có binh sĩ với súng ống đi tuần như các bóng ma giữa các nút chặn kẽm gai.

13 giờ trưa, tôi liên lạc được với tướng Cao Kỳ bằng điện thoại. Bằng giọng mỉa mai miệt thị, ông nói:

– Đúng là chuyện tào lao! Một trò trẻ con không có cơ may đi đến đâu hết. Phi công là một sĩ quan rất trẻ, vừa học xong phản lực cơ F5-E chỉ vài ngày. Trước đó anh ta được huấn luyện về nghiệp vụ săn giặc, và cách đây chưa đầy 3 tuần lễ, anh ta mới bắt đầu được tham gia tập luyện về oanh tạc. Theo tôi nghe biết thì đây là một thằng nhỏ bốc đồng và dễ khích động. Nhưng tôi chưa từng gặp mặt hắn bao giờ. Một lần nữa, tôi không dính dáng gì đến chuyện này. Tôi không muốn giết ông Thiệu, tôi chỉ muốn ông ta rời khỏi chức vụ cho rồi…

Một phút yên lặng rồi ông lại nói, nhưng gần như nói cho riêng ông nghe mà thôi:

Tiếc là thằng quỷ đó không làm nên trò trống gì!

Không lâu sau, Tổng Thống Thiệu lên tiếng trên đài phát thanh. Ông vẫn còn sống. Ông thuật lại chi tiết cuộc ném bom mà ông là mục tiêu chính. Ông xác nhận đây không phải một âm mưu mà chỉ là một hành động lẻ loi. Phi công bay ở cao độ 300 thước, đã thả 2 trái bom xuống dinh Độc Lập, và sau đó quay trở lại lần thứ hai bắn xuống hai hỏa tiễn, vài tràng đại bác 20 ly. Ông Thiệu nói tiếp: “Một số người nào đó muốn đe dọa tôi bằng võ lực để ép buộc tôi phải ra đi, nhưng tôi sẽ không nhượng bộ. Tôi sẽ tiếp tục làm việc như thường và tiếp tục dìu dắt đất nước.

Mọi người đều đồng ý – một lần khác thường – là Tổng Thống Thiệu đã có phản ứng thật nhanh và rất hay. Nhưng liệu ông có thể im lặng được không?

Khoảng 4 giờ chiều, đường phố nhộn nhịp trở lại, hàng quán lại kéo rèm lên. Sự lưu thông lại có quyền hỗn loạn như cũ. Tôi gọi điện thoại đến Đại tá Xuân, ở Sở An Ninh, một người bạn trên 20 năm mà tôi đã biết ở Bắc Việt, lúc ông làm Phòng Nhì. Ông hẹn tôi tại khách sạn Caravelle vào lúc 5 giờ chiều.

Với ông này chắc mình sẽ biết rõ việc gì xảy ra“.

Trong khi chờ đợi, tôi đi bộ vòng từ đường Pellerin lên Dinh Độc Lập. Trước rạp chiếu bóng Casino, người ta đang xếp hàng mua vé vào xem xuất 17 giờ. Rạp đang quảng cáo ba bộ phim kung fu. Trẻ em bán báo trải ra trên sạp những tờ báo buổi chiều vừa in xong… Ở đường Lê Lợi, những người bán hòm rương và va-ly đang trúng mánh. Xa hơn một chút, tôi đi dọc theo Thư Viện Quốc Gia rất đẹp, xây cất trên nền Khám Lớn thuở xưa, nơi đã giam giữ hằng ngàn tù cách mạng và một phần là lãnh tụ Chính Trị Bộ hiện thời ở Hà Nội. Trong hoa viên, nhiều toán sinh viên đang cãi vã ồn ào hay kêu gọi đùa giỡn.

Đại lộ Norodom uy nghiêm rộng lớn nay được gọi là đại lộ Thống Nhất, thẳng tắp từ Vườn Bách Thảo đến Dinh Độc Lập, gần như vắng hoe. Các cuộn kẽm gai được căng ra làm nút chặn ở các ngã tư đã được xếp lại và mang đi, nhưng Quân Cảnh còn tiếp tục tuần canh.

Không thể đến gần Dinh Độc Lập được. Cổng chánh của Dinh vẫn nguyên vẹn, và không có một dấu vết nào của hành động dội bom hay bắn phá ban sáng.

Dinh Độc Lập, nơi Tổng Thống Thiệu ở và làm việc, có một lịch sử dài và thơ mộng. Được xây cất năm 1868, tòa nhà này khi xưa có tên gọi là Dinh Đô Đốc hay Dinh Norodom. Lúc đó, đây là một công thự huy hoàng diễm lệ, (xây cất theo kiểu một chiếc bánh sinh nhật) xung quanh có rào chấn song bằng đồng mạ vàng, những bãi cỏ xanh với đường đi bên trong trải cát đỏ, và một nhà bát giác với nóc cao  nhọn. Ngay cổng chánh có lính gác đội nón kiểu lính thú trên đỉnh có chóp nhọn bằng đồng sáng chói và đeo găng tay trắng lưu truyền lối văn hóa thuộc địa. Tại đây các vị toàn quyền đã có những buổi tiếp tân rất ngạo nghễ, hoa viên được thắp sáng, có các dàn nhạc vĩ cầm với những bộ đồng phục lòe lẹt, những bộ lễ phục trắng, các bà các cô thì mặc áo hở ngực hở vai trang điểm diễm lệ như đi dạ hội ở Ba Lê vậy.

Sống tại Dinh Norodom cũng có nghĩa là chủ nhân của đất nước này. Tướng Ely, vị Cao Ủy Pháp sau cùng ở Đông Dương đã trao lại cho chính phủ Việt Nam biểu tượng cuối cùng này của chính quyền thuộc địa ngày 7 tháng 9 năm 1954.

Sau khi chánh thể Cộng Hòa được công bố, Dinh Norodom được đổi tên thành Dinh Độc Lập. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, hai sĩ quan phi công Việt Nam thề hạ sát Tổng Thống Diệm đã lái hai chiếc phi cơ dội bom sập dinh thự cổ kính này. Như một phép lạ, Tổng Thống Diệm không hề hấn gì. Nhưng tòa nhà thuộc địa cổ này gần như hư hại hoàn toàn nên chính phủ đã quyết định xây lại một dinh thự mới. Nhiệm vụ xây cất được giao cho một kiến trúc sư Việt Nam trẻ, từng nhận “giải thưởng Roma”, là ông Ngô Viết Thụ. Để gây quỹ xây cất mới này, chính phủ mở một “chiến dịch quyên góp”. Mỗi công chức, mỗi binh sĩ miền Nam Việt Nam đều góp một ngày lương vào quỹ. Các doanh nhân ký nhiều chi phiếu khá lớn, sinh viên học sinh tùy theo túi tiền mà đóng góp, và những người nghèo cũng tùy theo khả năng bỏ tiền vào thùng của các toán đi quyên lưu động thuộc Bộ Công Chánh.

Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ từ chối không nhận tiền thù lao cho bản vẽ, và các kỹ sư, chuyên viên quân đội bắt tay vào việc với tiến trình 24 trên 24 giờ kéo dài hơn 10 tháng. Cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, và cái chết của Tổng Thống Diệm cùng người em của ông khiến ngưng trệ công trường suốt 6 tháng. Sau đó công trường mở lại, nhưng phải mất 3 năm nữa mới xây dựng xong dinh thự mới, được tướng Nguyễn Cao Kỳ long trọng khai trương ngày 30 tháng 10 năm 1966. Công trình tốn đến 1 triệu 500 ngàn Mỹ kim (7 triệu quan Pháp). Dinh Độc Lập được xây bằng xi măng cốt sắt, cẩn toàn đá hoa cẩm thạch, cửa kính màu xanh da trời, có 3 mặt phẳng nằm ngang và song song, (kiến trúc theo lối chữ Việt Nam tượng trưng cho nền dân chủ). Tất cả đặt ngay trung tâm của một công viên được vẽ rất cẩn thận và rất tráng lệ.

Giờ đây dinh thự duyên dáng này được binh sĩ Dù vây quanh canh gác, đạn và lựu đạn mang đầy người, ẩn mình phía sau rào chấn song sắt nặng nề, khiến dinh thự như một pháo đài. Tòa nhà bát giác trước kia dùng làm nơi chơi nhạc, nay thành một lô-cốt chống chiến xa. Nhiều pháo đội phòng không được ngụy trang dưới các tàng cây trong hoa viên, và 3 chiếc trực thăng trang bị liên thanh đậu trên bãi cỏ. Cổng chánh được khóa chặt. Quan khách phải trình diện ở “cổng công vụ”, cổng này dẫn đến các nhà đậu xe, nằm gần Tòa Án. Mỗi xe đều phải qua sự khám xét của binh sĩ. Họ đưa xuống gầm xe một tấm kiếng để xét kỹ coi có bánh thuốc nổ nào gắn vào sườn xe hay không. Sau đó quan khách đi qua một rào chắn được quay bằng tay để chạy đến chỗ đậu xe. Dưới chân cầu thang lớn có một sĩ quan tùy viên tiếp đón và dẫn khách đến phòng tiếp tân có ghế dựa màu đỏ và tủ cẩn xà cừ cùng một cặp ngà voi lộng lẫy. Phía cuối phòng có một cánh cửa, thông với phòng làm việc của Tổng Thống Thiệu, một gian phòng rất rộng, ngay giữa phòng có một lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa lớn căng từ trên trần xuống tận sàn nhà. Hai đầu bàn làm việc có những bàn chân quỳ, đặt các máy truyền tin và các hệ thống thông âm nội bộ, dùng như các trạm tiếp vận truyền tin giúp cho Tổng Thống có thể liên lạc thẳng với các tổng bộ trưởng, các tư lệnh Vùng, cảnh sát trưởng hay các tỉnh trưởng bất cứ lúc nào cũng được. Trước cửa và trong hành lang dọc theo phòng làm việc luôn luôn có hai cận vệ lực lưỡng, mặc quần áo xám, giỏi võ và thiện xạ, tuyển lựa từ lực lượng Người Nhái hay Biệt Động Quân. Hai người này nằm trong nhóm 8 vệ sĩ của Tổng Thống được huấn luyện đặc biệt. Các anh lực sĩ này có gương mặt rất bình thường, nhưng đôi tay cứng rắn, và dưới lớp áo ngoài luôn có khẩu súng lục ở dây nịt. Họ liên lạc với nhau bằng máy truyền tin cầm tay và bảo vệ Tổng Thống cả ngày lẫn đêm.

Tổng Thống Thiệu nhỏ người nhưng có một cung cách gần như lạnh lùng, cô đơn và bướng bỉnh, tự giam mình trong Dinh giống một thuyền trưởng tàu lặn người Đức lúc nào cũng ở bên tay lái và từ khước không chịu nổi lên mặt nước để đầu hàng. Mặc dầu bị các tướng lãnh của mình đe dọa, bị chính phi cơ của mình dội bom, khó ai có thể nói ông đang nghĩ gì? Một con người miền Trung bí ẩn và cứng đầu đã đọc một bài diễn văn thao thao như nước chảy ở đài truyền thanh và truyền hình, nhưng không bao giờ tiết lộ tâm sự của mình trong chỗ riêng tư.

oOo

Tại phòng trà Givral, một người Việt Nam gầy ốm, mắt ti hí, có bộ râu rậm trên cằm, đang giảng giải với đám thanh niên bu quanh về “các điều bậy bạ của ông Thiệu”. Ông kể đủ chuyện, từ chuyện thâm cung bí sử đến bán quyền bán tước, từ trò giải phẫu thẩm mỹ của bà Thiệu đến buôn lậu hột xoàn. Ông ta cười khẩy, vừa nhổ mấy sợi râu trên cằm vừa nói:

Thiệu đã trở thành một người điên như Hit-Le trong hầm trú ẩn vào những ngày cuối cùng ở Bá Linh. Ông ta điều động các sư đoàn ma của ông ta và tin tưởng là có thể thắng trận vì người Mỹ sẽ gởi phi cơ và vũ khí bí mật đến giúp. Sự điên rồ của ông ta là hậu quả mối ám ảnh về sinh lý. Ông ta đã hoang phí thì giờ với các cô gái 14, 15 tuổi mà thuộc hạ dẫn nộp cho ông ta.

Tôi quan sát con người hùng biện này. Ông là người thuộc giới báo chí, gốc miền Bắc, từng thất bại trong hoạt động cách mạng rồi thành cộng tác viên có giá trị với Nhật trong “cuộc săn đuổi cộng sản” lẫn người Pháp kháng chiến. Sau đó ông phục vụ rồi phản bội liên tục các chính quyền và các tư lệnh cảnh sát thuộc chính phủ Việt Nam. Ông có biệt danh Cao Giao. đã làm việc lâu năm với tạp chí Newsweek và là người chuyên lục lạo tỉ mỉ nhất các “bãi phân thối” mà tôi biết được ở Sài Gòn.

Khách sạn Caravelle nằm bên Quốc Hội, trước kia có tên khách sạn Nhà Hát Tây, vì tòa nhà có vòm tròn hiện là trụ sở Quốc Hội vốn là Nhà Hát Tây của thành phố Sài Gòn dưới thời Pháp thuộc. Thuở đó khách sạn này là của Cha Lecca, một cựu thượng sĩ thuộc quân đội Pháp, bụng phệ, chột mắt, đã đổi sang nghề bán nước giải khát. Các nhà hàng hải và các tay ma-cô người Corse chuyên buôn lậu vàng và mỹ kim thường đóng đô ở đây, uống rượu a-nis của miền Nam nước Pháp do họ tự mang tới trong những hộp bánh bít-quy có hàn chì cẩn thận, hết chầu này đến chầu khác. Thâu ngân viên là cô gái lai Tầu, Cri-Cri, khoảng 20 tuổi, rất đẹp và lả lơi khiến mọi người đều phải dán mắt nhìn cô. Một ngày, Cha Leccia trở về đảo quê hương và bán khách sạn lại cho Tòa Giám Mục Sài Gòn. Vị quản lý giáo xứ biến cải khách sạn của những kẻ vô lại này thành một “lâu đài”. Ông cơi thêm 8 tầng lầu, sân thượng ở tầng chót là một nhà hàng lộ thiên. Trang trí bằng cẩm thạch Đài Loan, gỗ dát từ Phi Luật Tân, cây xanh, sơn mài Thành Lễ, nhân viên được tuyển lựa cẩn thận và quản lý là người Pháp, khách sạn Caravelle nhanh chóng trở thành một cơ sở đẹp nhất thành phố. Suốt chiều dài cuộc chiến, khách sạn không có phòng trống bao giờ: sĩ quan, dân biểu, nhà báo, nhà kinh doanh, thường chia nhau các phòng đầy đủ tiện nghi. Sau người Mỹ đến lượt các kỹ nghệ gia Nhật và các nhà thầu Đại Hàn.

Bây giờ, sau cơn tán loạn Cao Nguyên, thảm kịch Đà Nẵng và cuộc chiến đang đến gần thủ đô Sài Gòn, các nhà báo lại tràn ngập khách sạn. Phòng khách đầy thợ săn hình trong những chiếc safari, trang bị từ máy quay phim đến máy ảnh đủ loại với ống kính dài như ống phóng lựu.

Đại tá Xuân to bè đợi tôi ở quầy rượu. Ông ta cười, nụ cười kéo dài những nét nhăn từ mắt đến mang tai.

Chúng tôi đã sống với nhau trong hai năm sau cùng của cuộc chiến Pháp-Việt ở miền Bắc và những ngày cuối cùng ở Hải Phòng. Lúc nào tôi cũng thấy ông cười, kể cả lúc đang bị đạn bích kích pháo nện xuống, khi chúng tôi đang nằm trong các hố cá nhân đầy bùn sình ở Rạch Tre. Tôi không bao giờ thấy ông hốt hoảng và to tiếng bao giờ. Ông nói năng nhỏ nhẹ, chậm rãi, luôn cố tìm chữ chính xác và chú ý giữ đúng cú pháp. Tại văn phòng của ông ở cổ thành Hà Nội, ông đã viết cẩn thận bằng bút lông một câu rất có ý nghĩa xây dựng: “Nếu anh biết, hãy nói với người hiểu biết. Nếu anh không biết, hãy im lặng và cố lắng nghe. Nếu lắng nghe thì anh sẽ biết.

Ông nói với giọng bình tĩnh nhưng hơi ngập ngừng:

– Chào Pierre, cuối cùng anh tìm đúng đường rồi.

– Việc gì xảy ra hồi sáng vậy, anh Xuân? Ngoài phố người ta kể là Mỹ dàn dựng cú này để thanh toán ông Thiệu. Họ còn nói phi công đã đáp xuống sân bay Udorn của Mỹ và được chấp thuận cho tỵ nạn tại Thái Lan.

– Người ta không biết gì hết. Phi công đã dội bom xuống Dinh Độc Lập tên là Nguyễn Thành Trung. Đó là một anh trung úy mới 26 tuổi, người miền Bắc, đã có vợ và 2 con. Anh ta hành động theo sáng kiến riêng của mình, vì quá giận và chán ngán khi thấy các tướng lãnh và Tổng Thống đã bỏ hết tỉnh này đến tỉnh khác mà không có một trận chiến nào. Anh ta cũng buồn và thất vọng vì vợ con anh ta không thể rời khỏi Đà Nẵng được và còn bị kẹt trong vùng kiểm soát của cộng sản. Sáng nay, vào khoảng trước 8 giờ có hai phản lực phóng pháo cơ cất cánh từ phi trường Biên Hòa, cách Sài Gòn 30 cây số. Họ có nhiệm vụ đánh bom vào một mục tiêu địch ở phía trên tiểu khu Phan Rang, theo bờ biển. Một lúc sau đó trung úy Trung báo cáo là phi cơ anh bị trục trặc kỹ thuật không thể tiếp tục bay được. Hai mươi phút sau anh ta nhắm vào Dinh Độc Lập đâm thẳng xuống. Tất cả đều diễn tiến rất nhanh. Pháo đội phòng không ở Dinh Độc Lập không có thì giờ phản ứng kịp. Một trong hai trái bom của anh ta đã làm mẻ một góc cầu thang sau của Dinh và làm vỡ hết các cửa kiếng của tầng trệt. Trái bom thứ hai rơi xuống hoa viên nhưng không gây thiệt hại nào. Sau đó anh ta còn bắn hai hỏa tiễn làm thủng nóc nhà để xe và bắn đại bác 29 ly xuống bãi cỏ, gây tử thương cho 2 người và 5 bị thương nặng. Có trên 40 người bị mảnh kiếng làm trầy da. Dù gì đi nữa, nếu anh ta có đánh trúng ngay Dinh thì cũng không thể nào giết Tổng Thống được. Nóc dinh mới cất này dày mấy thước bê-tông, và phải qua cả 4 tầng lầu từ nóc dinh mới xuống tới phòng của Tổng Thống được.

– Còn chuyện đáp xuống sân bay ở Thái Lan?

– Bịa đặt hoàn toàn! Trưa nay hồi 15 giờ, đài Hà Nội đã đưa ra một thông cáo xác nhận trung úy Trung đã đến vùng giải phóng Đà Nẵng với phóng pháo cơ của anh ta. Bộ trưởng quốc phòng của cái gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam đã gắn huy chương yêu nước hạng 2 và thăng cấp đại úy của quân đội Giải Phóng Miền Nam Việt Nam cho anh ta. Điều này chứng minh rõ ràng là mấy anh Mẽo không dính dáng gì đến sự việc. Tùy viên quân sự Hoa Kỳ rất tức giận vì đây là chiếc phản lực phóng pháo cơ F5-E đầu tiên rơi nguyên vẹn vào tay cộng sản. Đây là một phóng pháo cơ chiến thuật vừa ngăn chặn vừa yểm trợ, tốc độ bay nhanh (Mach 1,6), dễ điều khiển, trang bị vũ khí rất mạnh và toàn bộ bằng điện tử (máy dò tìm mục tiêu loại nhỏ, tác xạ bằng máy điện toán, máy chụp ảnh bằng hồng ngoại tuyến). Loại phi cơ này chỉ mới được mang ra sử dụng cách đây không quá 18 tháng…

(Hết Chương 6)

Share this post