Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 7

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 7

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 7
LINH MỤC THANH: ĐỘI QUÂN THANH LỌC

Thứ Tư, 9 tháng Tư

Thiệu phải ra đi. Nếu ông từ chối không chịu ra đi thì ông sẽ bị quân đội đảo chánh, hay sẽ bị một sĩ quan giết chết để trả thù cho tất cả những người đã chết vì ông ta. Một phi công trẻ đã thử giết ông ta rồi, nhưng anh ta thất bại. Nhưng còn có những người khác nữa. Thiệu là một tướng lãnh không có khả năng và là một chính trị gia tham nhũng. Ông không lãnh đạo một chính phủ mà cầm đầu một “băng đảng”. Tất cả mọi người đều ghét và khinh bỉ ông ta.

Người nói những lời buộc tội ngắn này không phải quan tòa, cũng không phải dân biểu hay một ông đại tá, mà là một linh mục: Cha Trần Hữu Thanh, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, chủ tịch Phong Trào Tranh Đấu Chống Tham Nhũng Để Cứu Nước Và Vãn Hồi Hòa Bình.

50 tuổi, dáng người gọn ghẽ, tóc đã bạc hoa râm, mặt vuông, có đôi mắt sáng ngời lanh lợi sau cặp kính tròn gọng sắt, cha Thanh mặc tấm áo dòng đen cũ, tiếp tôi trong một văn phòng nhỏ bên cạnh nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng. Ông nói tiếp mạnh mẽ:

Thiệu là một người bất nhân. Ông ta đã làm hư quân đội, hành chánh và tòa án. Các tướng lãnh phải bỏ tiền ra mua chức vụ chỉ huy của họ, các tỉnh trưởng, cảnh sát trưởng, các quan tòa cũng phải mua chức tước của họ rất đắt. Dĩ nhiên sau đó họ phải tìm cách thu hồi và như vậy là họ phải ăn hối lộ. Bà Thiệu là một người Công giáo tốt, về lễ bái cũng như về từ thiện. Nhưng bà không thể cưỡng lại lòng ham muốn “quà cáp”, những vòng cẩm thạch, những hột xoàn mà người ta dâng cho bà để mưu cầu có sự che chở của bà. Bà mua đất, mua nhà cửa và gian lận thuế. Và chồng bà cứ để cho bà muốn làm gì thì làm. Chính vì muốn tranh đấu chống lại các sự thối tha đó của chế độ này mà tôi phải đứng ra chống ông Thiệu. Tôi được sự ủng hộ của hàng trăm người Công giáo và nhiều nghị sĩ, dân biểu. Đức Cha Bình của Tòa Giám Mục Sài Gòn đã ủng hộ hành động của tôi. Các sĩ quan, các bác sĩ, luật sư đã viết thư cho tôi hay đã đến đây gặp tôi để ủng hộ và khuyến khích tôi tranh đấu…

– Hà Nội và Mặt Trận khẳng định là Cha hành động theo xúi giục của người Mỹ. Những người thân ông Thiệu cũng có cùng luận điệu đó và nói thêm rằng các linh mục ủng hộ Cha như Đức Cha Nghi và Cha Thanh Lãng đều là những người có khuynh hướng tiến bộ.

Cha Thanh nhảy nhổm:

Tôi không dính dáng một tý nào với người Mỹ, họ không bao giờ có hành động nào để thử ép ông Thiệu phải ra đi, hay ngay như phải loại bỏ 3 tên đại bất lương bao vây quanh ông ta. Tôi nói cho ông nghe chính xác hơn. Lưu manh nhất Việt Nam là tướng Quang, cố vấn của Tổng Thống về mọi vấn đề liên quan đến an ninh. Ông này đã thiết lập các hệ thống buôn bán ma túy, buôn lậu, và nhờ đó mới có được một gia tài kếch xù. Ông Thiệu lúc nào cũng từ chối không chịu sa thải ông Quang này, hoặc làm như ông thường làm vài lần khi muốn dẹp một chướng ngại bằng cách gởi người đó sang ngoại quốc làm đại sứ. Hoàn toàn giản dị, bởi ông Quang biết rõ những bộ xương được cất ở tủ nào, và khi nào với không tới thì ông ta bắt đầu nói vớ nói vẩn. Hai thành viên khác của băng đảng mà ông cũng không bãi miễn được. Trước hết là tướng Nguyễn Văn Toàn, cựu Tư Lệnh Quân Đoàn II mà ai cũng biết là buôn lậu. Ông làm giàu bằng những cúp cây rừng, những sòng bạc và còn bị cáo buộc tội hãm hiếp nữa. Vụ này mặc dù có một chiến dịch báo chí dữ dội vẫn không đi đến đâu hết. Ông Thiệu chỉ cho ông ta rời chức vụ vài tháng, rồi lại đưa về lãnh trách nhiệm Vùng III Chiến Thuật. Chính ông ta đang lo việc phòng thủ Sài Gòn. Sau cùng là tướng Trang Sĩ Tấn, chỉ huy trưởng cảnh sát Đô Thành. Đây là một người ham tiền và tàn ác. Ông ta kiểm soát đĩ điếm và các sòng bạc lậu… Ngoài ra ông ta còn lập một đường dây xuất ngoại đưa con cái những người Tầu và những người giàu có sang Thái Lan để trốn quân dịch. Một đại diện của ông ta ở Ba Lê lo tiếp nhận những người phạm tội này sang tỵ nạn ở thủ đô nước Pháp và cung cấp đầy đủ giấy tờ hợp pháp kể cả một giấy phép cư trú, như vậy là ông ta ăn được 2 lần tiền, bởi vì khách hàng của ông ta phải trả tiền lúc đi và lúc đến. Người đại diện này là chủ một nhà hàng Việt Nam ở khu La Tinh, cũng có một hệ thống “gái gọi” dành cho các tổng bộ trưởng khi đi công vụ ghé lại Ba Lê. Việc này xa tầm nhìn của những kẻ tò mò để tránh làm hại đến thanh danh của họ, đồng thời không có ai động đến họ được. Mặc cho tất cả những điều ô nhục đó, tướng Trang Sĩ Tấn vẫn tiếp tục được sự che chở của Tổng Thống và bà Thiệu, đến độ họ đã đề nghị gả con gái cho Tấn nữa.

Tôi nhìn Cha Thanh. Chẳng những Cha tỏ ta thành thật mà còn tin chắc rằng ông được trao cho một “sứ mạng”. Ông Thiệu đã trở thành một biểu tượng của người xấu mà ông phải hạ bệ bằng mọi giá để cứu đất nước và để buộc ông ta phải chịu đền tội. Khi sứ mạng cứu nước đã xong, thì ông nghĩ thế nào về giải pháp tương lai đây?

Tôi đặt thẳng câu hỏi với ông:

– Giả dụ ông Thiệu chịu ra đi hay bị đuổi đi, thì ai sẽ thay thế ông ta?

– Bất cứ ai cũng được! Tất cả những gì chúng tôi mong muốn, đó là một người liêm khiết và ngay thẳng, có quyết tâm phục vụ đất nước.

– Tại sao không phải là Cha?

Cha Thanh sững sờ, nhìn tôi chòng chọc sau khi tôi phát biểu một điều coi như bất lịch sự ghê gớm, và ông phá lên cười nắc nẻ:

– Dĩ nhiên là không phải tôi rồi. Tôi không phải là chính trị gia. Tôi dấn thân tranh đấu vì tôi yêu đất nước tôi, và để hợp với thiên chức của tôi, tôi chỉ tố cáo những việc làm không phải và những tật xấu của một chế độ mất giá trị. Nhưng tôi không có ý định cũng như tham vọng giữ vai trò của một nguyên thủ quốc gia.

– Vậy thì ai đây?

– Chúa sẽ giúp chúng ta tìm người cần phải có.

– Nếu cộng sản không thừa nhận người đó thì sao?

– Cộng sản có thể chiếm đất nước này bằng vũ khí, họ đang chứng tỏ điều đó. Nhưng họ không thể áp đặt một chế độ không hợp với 20 triệu dân miền Nam Việt Nam.

– Nhưng nếu họ cứ thử làm thì sao?

– Họ không thử đâu. Họ thừa thông minh và thực tiễn để phải hiểu rằng chỉ có một cách duy nhất giúp tái lập hòa bình thật sự là phải thành lập một chính phủ Đoàn Kết Quốc Gia, ở đó có đủ mọi xu hướng và phải có sự ủng hộ của toàn dân. Dù sao thì họ cũng đã từng và không bao giờ ngưng hứa như thế mà.

Cha Thanh im lặng một lúc, rồi hình như bất chợt nhận rõ được một chuyện khó có thể xảy ra nên ông nói thêm thật cương quyết:

Ông biết không, ít nhất tôi cũng là một người chống cộng sản như tôi đã chống ông Thiệu. Nếu những người của Hà Nội quyết định cộng sản hóa miền Nam, dựa trên quân đội của họ và các chính trị viên của họ, thì họ sẽ thất bại. Dân chúng sẽ chống lại và sẽ có một cuộc nội chiến không có hồi kết thúc.

oOo

Cùng ngày thứ Tư này, lúc 15 giờ, tôi đến thăm một người bạn là ông Trần Trung Dung. Lúc nào ông cũng ăn mặc sang trọng, áo sơ mi lụa, quần thẳng nếp, mang giầy Ý Đại Lợi, đầu chải láng – người lúc nào cũng trầm tĩnh chững chạc ăn nói từ tốn và rất lễ độ với mọi người. Ông là con một người sưu tầm đồ cổ ở Huế, là bạn học cũ của tướng Võ Nguyên Giáp vào thập niên 30 ở trường trung học Albert Sarraut và sau đó ở đại học Luật Hà Nội. Ông từng là một tỉnh trưởng trẻ ở tỉnh Phú Thọ, đảng viên đảng Đại Việt, một đảng đối lập với cộng sản Việt Minh trong cuộc chiến dành độc lập, sống lưu vong bên Tầu, trở lại đời sống chính trị sau khi cưới cháu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và trở thành Tổng Trưởng Quốc Phòng. Hiện ông là Phó Chủ Tịch Thượng Viện. Thuộc một gia đình tiếng tăm lâu đời, hấp thụ cả hai nền văn hóa Đông – Tây, từng trải nhiều biến cố lịch sử, có tương quan lớn cả ở Việt Nam lẫn ngoại quốc, những chuyến công du xuất ngoại do các chức vụ đã và đang tiếp tục đảm nhiệm… tất cả cho thấy ông là một người đối thoại lý tưởng. Không như nhiều chính trị gia của đất nước ông, sự hiểu biết của ông về sự việc và những con người, gia tài mà ông đang có giúp ông sống độc lập đối với bổng lộc của chính quyền… tất cả đều bảo đảm tính khách quan và không thiên vị trong phán đoán của ông.

Tôi thuật cho ông nghe hết về buổi viếng thăm của tôi với Cha Thanh và những đề xuất cứng rắn mà Cha đã nói với tôi. Ông cười và bình luận:

– Cha Thanh là một Don Quichotte. Ông quá thật thà khi nghĩ rằng hễ nhảy ra nắm được cây chổi trong tay là có thể quét sạch hết. Những cây chổi hả, khi cuỡi lên được nó rồi thì chúng sẽ đưa các phù thủy tập sự đi rất xa. Chúng ta đang sống ở Việt Nam, nơi mà chế độ thành lập trên sở hữu tư nhân, có nghĩa là có một khái niệm về lợi tức và hình thành một phương tiện cho sự tăng tiến xã hội. Mọi người đều ra sức chứng minh rằng chúng ta hư hỏng vì tham nhũng và đĩ điếm tràn ngập. Đối lập thì xác nhận rằng không có tự do phát biểu và các thể chế trật đường hết rồi. Tôi đã xuất ngoại nhiều. Tham nhũng thì đâu cũng có, ở Âu Châu, Nhật Bản và cả ở Hoa Kỳ. Nó còn dữ hơn ở Việt Nam nữa, vì các nước đó giàu hơn Việt Nam gấp bội, và giản dị là nó được che đậy khéo hơn. Ở Pháp, Mỹ hay Nhật, báo chí thường chỉ trích các vụ tai tiếng, các vụ buôn vàng lậu hay ngoại tệ liên quan đến các ông cảnh sát, các viên chức cao cấp, các nhà đầu tư bất động sản hay cả tổng bộ trưởng. Bên Hoa Kỳ, các anh găng-tơ thường chen vào chính trị và các cuộc bầu cử. Đã xảy ra rồi, một thị trưởng của thành phố New York chạy ra ngoại quốc mang theo cả ngân quỹ của thành phố. Số ma túy bắt được lên đến mấy tỷ mỹ kim. Đĩ điếm ít nhất cũng nhiều như bên Việt Nam, những người giả trang đòi quyền cưới hỏi nhau, thậm chí còn có nhiều linh mục đồng ý thừa nhận hôn nhân của họ nữa. Bên Pháp, trong một số rạp chiếu bóng trên đại lộ số 5 hay Champs-Élysées, mượn cớ giải phóng tình dục, người ta cho chiếu những phim khiêu dâm mà trước kia chỉ được kín đáo chiếu trong nhà cho một số ít thân chủ tìm hứng cảm thôi. Tôi thường tự hỏi, dựa trên nguyên tắc nào mà quý vị chỉ trích chúng tôi một cách có hệ thống như vậy?

Ông Trần Trung Dung đặt hai bàn tay thật sát lên bàn viết của ông và nói tiếp, với giọng đều đều:

Việt Nam không có gì xấu hơn hay tốt hơn các nước đang tin là họ có quyền đánh giá chúng tôi. Với ông Thiệu cũng vậy. Tôi biết ông ấy rất rõ, vì đã nhiều lần tiếp cận và nói chuyện nhiều với ông ấy. Chúng tôi đã có va chạm, và ngày 3 tháng 4 vừa qua, tôi đã bỏ phiếu thuận cho một nghị quyết của Thượng Viện đòi hỏi ông ấy ra đi. Ông ấy là một người thông minh, có khả năng và dám hành động. Lòng can đảm và ý chí quyết tâm kháng cự mà ông ấy chứng minh trong thời kỳ cộng sản tấn công dữ dội năm 1972, chúng ta không thể quên. Chỉ trong một năm gần đây thôi, không lâu lắm, ông Thiệu đã thay đổi. Trước kia, khi tôi nêu các câu hỏi về những vấn đề của đất nước, thì ông ấy trả lời dài dài cho tôi, đầy đủ từng chi tiết một. Ông ấy rất chú tâm đến những việc ông ấy làm, cái nhìn sáng suốt của ông ấy chứng tỏ một niềm tin và lòng thành thật. Nhưng đùng một cái, cái nhìn của ông ấy lu mờ hẳn, ông ấy nghe tôi nói mà không buồn nói gì với tôi hết, tránh không trả lời các câu hỏi của tôi, và cuối cùng là không muốn gặp tôi nữa. Tôi cảm nhận được sự thay đổi từ đầu năm 1974. Tôi hiểu là ông Thiệu đã mất lòng tin. Hiển nhiên ông ấy biết rõ Hoa Kỳ đã buông bỏ chúng tôi rồi. Ông ấy đã biết rõ chỉ còn đánh một hiệp cuối cùng với cộng sản, mà trong hiệp chót này ông bầu của ông ấy đã để cho ông ấy tự lo liệu một mình, trong lúc cộng sản đánh trên đầu ông ấy bằng một đôi găng có giấu bàn ủi sắt bên trong…. Như vậy là ông ấy đã bắt đầu chuẩn bị sự hồi hưu, sửa soạn cho mình một chiếc nệm êm ấm rồi đó!

Trần Trung Dung ngả người tới trước và nói với tôi:

Anh Pierre này, tôi còn vài nhận xét nữa. Bắc Việt luôn luôn khoe họ là một chế độ dân chủ trong sạch và cứng rắn, nơi đó sự lương thiện được nâng cao thành đức tánh. Tôi đã đọc báo của họ kỹ lắm và ghi nhặt được rằng các giám đốc hợp tác xã hay bị bắt vì tội biển thủ gia súc; các hãng xưởng bình dân của họ thường gian lận sổ sách, bán buôn bất hợp pháp vật liệu mới toanh được biến cải thành vật liệu “dư thừa phế thải” gồm cả đầu máy xe lửa và hàng chục tấn dây điện; sinh viên thường buôn bán chợ đen vải sồ và thẻ tiếp tế lương thực; hàng trăm tấn gạo bị lươn lẹo; có nhiều tổ chức buôn lậu xe đạp, máy may, đá lửa; lính mới thường hay đào ngũ; phụ nữ thường buông thả trong các hoạt động tội lỗi của nghề mãi dâm… Nhưng đã có mấy ai ở ngoại quốc đọc được tiếng Việt, hay bỏ thì giờ phân tích tỉ mỉ báo chí nhạt nhẽo của Hà Nội bao giờ?

Anh biết Sài Gòn hiện có bao nhiêu tờ báo không? 29 tờ: 19 tờ Việt ngữ, 7 tờ Hoa ngữ, 2 tờ Anh ngữ và 1 tờ Pháp ngữ. Họ thường viết bài chỉ trích chính phủ. Một số bị tịch thu, bị kiểm duyệt, nhưng họ vẫn tiếp tục ra báo. Còn ở Hà Nội chỉ có 3 tờ báo: tờ nhật báo Nhân Dân, tờ Hà Nội Mới và tờ Quân Đội Nhân Dân. Cả 3 tờ báo này đều được viết, in ra cho Đảng phân phát và chính phủ không bao giờ sợ bị chỉ trích. Điều này ở Ba Lê ai cũng biết hết. Ông Jacques Decornoy đã xác nhận rõ trong báo Le Monde. Ông giải thích với một lương tâm nghề nghiệp đáng khen rằng: “Chắc chắn mọi dư luận có xu hướng trái ngược đều không thể được bày tỏ ở Hà Nội. Và ở Miền Bắc không có người nào dám nêu lên quan niệm về tự do của phương Tây!”

Mục tiêu mà Cha Thanh tự nhắm vào là Tổng Thống Thiệu. Cha có nói với anh là Đức Cha Bình đã đồng ý và khuyến khích Cha tiếp tục tranh đấu, phải không? Cả hai vị đều có thể nghiêng về trường hợp Cha Quản Lý Giáo Xứ mà sau lưng ông này là một số bù nhìn tay sai đang kiểm soát nửa tá ngân hàng tư, buôn hối đoái và cho vay cắt cổ – với mức 28% – giết chết đồng bạc trong thời gian không quá 4 năm. Ông ta cũng đầu cơ đất đai và tài trợ các dịch vụ địa ốc. Tòa Tổng Giám Mục còn là sở hữu chủ của nhiều khách sạn đặc biệt là khách sạn Caravelle, nơi mà các phòng thường tiếp đón số gái nhẹ dạ còn đông hơn số người đi hành hương ở Fatima.

Cuối cùng, nếu anh cho phép thì tôi sẽ kết luận như thế này: trường hợp ông Thiệu quyết định ra đi, thì cái sơ đồ trong những tuần lễ hay những ngày sắp tới, đối với tôi hình như đã vẽ sẵn trước rồi! Giả thuyết thứ nhất: cộng sản sẽ khai triển lợi thế và cố chiếm Sài Gòn. Họ có thể làm được chuyện đó, dù các chính trị gia và các nhà ngoại giao không tin như vậy, vì cứ nghĩ cộng sản trước nhất đang đi tìm một chiến thắng chính trị. Và, cũng theo cách nghĩ này, sự loại trừ Tổng Thống Thiệu, một kẻ thù không thể giải hòa, đã giúp đạt chiến thắng vẻ vang rồi. Từ đó mới xuất hiện giả thuyết thứ hai, có khả năng đúng hơn và yên tâm hơn: giai đoạn thứ nhất là thành lập tại Sài Gòn một nhóm gồm đại diện của lực lượng thứ ba. Sau đó sẽ thành lập Hội Đồng Hòa Giải Dân Tộc mà Hà Nội và Chính Phủ Lâm Thời Miền Nam đã kêu gọi thành lập mãi từ 2 năm nay. Những người thuộc lực lượng thứ ba đều có thể tin cậy được. Nhiều người khao khát trước hết là đem lại hòa bình. Một số thì nhìn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là một phong trào tranh đấu của người quốc gia hơn là cộng sản. Một nhóm thứ ba khác thì chán nản vì sự tham nhũng của chế độ, nên bị Chính Phủ Lâm Thời Miền Nam lôi cuốn. Tất cả đều tin là có khả năng giải quyết bình đẳng với cộng sản, nếu không thể thao túng họ được. Những người này đều là những thằng điên và vô ý thức. Họ phải đầu hàng cộng sản hay là đi tù mà thôi. Còn Cha Thanh thì ông sẽ may mắn nếu còn có quyền giữ được chuỗi tràng hạt của ông để tụng kinh trong khám tối…

(Hết Chương 7)

Share this post