Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 9

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 9

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 9
TRẬN XUÂN LỘC ĐẪM MÁU

Thứ Sáu, 11 tháng Tư

Sắt thép đụng nhau rồi! Đụng rất nặng ở Xuân Lộc. Chuyện bắt đầu đêm thứ Tư đến ngày thứ Năm 10-4 bằng một cuộc pháo kích dọn đường dữ dội: 2000 đạn pháo và hỏa tiễn đã rót xuống thành phố. Hừng sáng, 2000 đặc công cộng sản có chiến xa T.54 yểm trợ mở cuộc xung phong vào Xuân Lộc. 8 giờ, coi như họ đã chiếm ba phần tư thị trấn với 2 trung đoàn đang đánh bọc 2 bên sườn.

Suốt ngày hôm qua, chiến trận đã diễn ra khốc liệt. Nhưng tôi chỉ được biết vào 7 giờ sáng, sau giờ chấm dứt thiết quân luật. Vừa biết hai bên đã đụng nhau ác liệt, tôi đi ngay lên Biên Hòa, đến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Quân Đoàn lo cả phòng thủ Sài Gòn. Tôi đã gặp trung tướng Toàn, một người lớn con vạm vỡ từng học trường Thiết Giáp Kỵ Binh Saumur, Pháp. Ông nóng nảy nhưng thích ra trận, nhất là tấn công. Năm 1972, chính ông đã bẻ gãy các trận tấn công của cộng sản Bắc Việt vào Cao Nguyên. Ông vừa từ mặt trận trở về bằng trực thăng. Các sĩ quan tham mưu vây quanh ông để nhận lệnh.

Ông nói với họ vài câu, xong ra hiệu cho tôi và nói:

— Rất vui được gặp lại anh ở đây, anh Pierre. Nhưng chắc tôi không có thì giờ lo cho anh đâu. Nếu anh muốn đi xem thì anh hãy lên ngã ba Biên Hòa rồi từ đó nhảy lên một chiếc cam-nhông nào đó để lên thẳng Trảng Bom. Nhưng hãy cẩn thận. Nặng lắm rồi đó.

Tôi biết rất rõ vùng Xuân Lộc. Từ 1947 đến 1948 tôi đã hành quân trong tiểu khu này ròng rã cả năm với toán đặc công của tôi. Thời đó, Xuân Lộc chỉ là thị trấn nhỏ với vài dãy phố chừng 50 căn nhà gạch liền vách hai bên chợ và trên trăm nhà lá. Ga xe lửa là trạm dừng chân của đoàn “tàu thiết giáp”, một đơn vị “an ninh thiết lộ” lê-dương xâm mình, được trang bị đại bác Bofor và liên thanh nồi, nối liền Sài Gòn với miền Nam Trung Phần. Dinh quận trưởng hành chánh người Pháp được tô điểm một dàn hoa leo, nằm đối diện với trại “lính kỷ luật”, một đơn vị tập trung các binh sĩ nhiều lần bị kỷ luật chỉ có cơ may trở về đội ngũ của mình bằng một huy chương tưởng thưởng trong tác chiến. Xa xa phía trước là một bộ phận Hiến Binh lưu động, và đơn vị thân binh người Thượng, tất cả đều trú đóng trong một thành có tường đá bao quanh. Lúc đó tiểu khu này cũng không yên lắm. Đã có nhiều trận phục kích, tấn công đoàn tàu hỏa hay đoàn xe trên quốc lộ vì hai bên đường đều có rừng hay đồn điền cao su của hãng SIPH (đã trồng 20.000 mẫu và đang khai thác 12.000 mẫu), và cao nguyên Bình Lộc với những vùng cỏ voi lá bén như dao cạo, tre to và rừng cây già.

Thị trấn này đã lớn lần ra. Hằng ngàn dân tỵ nạn rách bươm, người Thiên Chúa giáo từ miền Bắc đến đây định cư năm 1954. Chủ đồn điền ở đây cho các cha xứ 120 mẫu đất không lấy tiền để cất một ngôi thánh đường, một ngôi trường đạo và một nhà ở cho vị linh mục do Sài Gòn bổ nhiệm. Quận cũ được cải biến thành quận lỵ của tỉnh với một bệnh viện tối tân, một dinh thự cho vị tỉnh trưởng, một nhà bưu điện, một trung tâm học vụ và một sân vận động. Dân tỵ nạn miền Bắc vào đã xây nhiều ngôi nhà xinh xắn bằng gạch, nhiều nhà có dàn cho hoa leo và đã mở ra hàng trăm tiệm buôn, xưởng mỹ nghệ. Một sư đoàn lính Mỹ đã đóng quân ở đây ba năm, xây cất một phi trường và nhiều doanh trại với đầy đủ tiện nghi. Xã đã biến thành thị trấn, và một thành phố trù phú đang sinh hoạt với 60.000 dân, nơi đây hằng ngày đều có hàng loạt xe be chở cây lóng và các xe rau cải về Sài Gòn.

oOo

Bây giờ thì chiến tranh làm vỡ tan tất cả dưới một cơn bão thép. Tôi đã đến đây không biết bao nhiêu lần, đã thuộc hết hình ảnh của Xuân Lộc và tiếng ồn ào ở đây, tiếng gầm của các khẩu pháo đang tác xạ làm rung chuyển mặt đất, tiếng rít khô khan, sắc bén của những viên đạn bắn đi với những chùm lửa, chùm sắt thép làm nát thân người và ném vung các mảnh xương thịt trên mặt đất…

Bây giờ là 9 giờ sáng, trời quá nóng, mặc dù có đồn điền cao su giữ được độ mát nhờ bóng râm. Cảnh sát Dã chiến dựng một hàng rào chữ chi trước khu vực Trảng Bom để kiểm soát mọi sự lưu thông, tiếng súng bắn chỉ thiên thay cho tiếng tu hít. Tôi xuống xe, kiểm soát xong tiếp tục tản bộ đi về phía trước khoảng 100 thước.

Thị trấn yên tĩnh và cần cù siêng năng này thu hẹp quanh những cơ sở lớn sơn màu vàng lợp ngói đỏ, thuộc công ty đồn điền SIPH, (nhà máy, văn phòng, trung tâm truyền thanh, nhà của giám đốc v.v…). Hai bên đường, thợ rèn và thợ mộc, cởi trần trùng trục đang tiếp tục làm việc trong mấy căn chái dựa. Tôi cố tìm lại một đồn của người Pháp hồi trước, nằm bên phải ngôi chợ. Năm 1948, đồn này có một đại đội dưới quyền trung úy Suako, một lực sĩ người đảo Antilles với bộ mặt cứng rắn đến hung dữ đã làm chủ mảnh đất này trong vòng 30 cây số xung quanh, một tay thiện chiến đến mức phía Việt Nam phải sợ và đặt cho cái tên “beo đen”… trước khi anh ta bị giết sau nhiều năm phục kích. Dĩ nhiên đồn không còn nữa. Trung úy Suako đã chết và 25 năm nay, cuộc chiến đã đổi hình dạng nhưng vẫn luôn có mặt. Dữ dội hơn, gây chết chóc nhiều hơn! Một pháo đội 105 ly đặt sau hàng cây đã bắn đi một tràng. Một chiếc xe Jeep vừa hụ còi vừa phóng qua. Một sĩ quan đứng bên cạnh tài xế khoát tay. Đoàn xe tiếp tục lăn bánh, tôi lại lên xe và tiếp tục đi.

Quốc lộ qua nhiều làng mạc, có rào đóng kín và bên trong có nhà thờ. Hầu hết dân làng đều là dân di cư tỵ nạn từ miền Bắc. Các cụ già thản nhiên ngồi im lặng nhìn binh sĩ đi ngang trước nhà. Trẻ em cứ nô đùa, các bà đang đập lúa. Cả một dãy nhà gỗ là của người Nùng, những người đen xạm gốc miền Thượng Du Bắc Việt, giáp giới Trung Quốc, thích nhai thuốc lá và cũng thích ăn thịt cầy. Có truyền thống làm giặc hay cướp biển, họ không sợ Trời, không sợ quỷ thần, không sợ cả Việt Cộng lẫn sen đầm!

Phòng tuyến thứ nhất nằm trước Trảng Bom chừng 10 cây số. Từ đó trở đi, không khí đột nhiên đổi hẳn. Hai bên đường được khai quang sâu chừng 100 thước để ngừa phục kích, nhiều chiến xa hạng nặng và thiết vận xa đang tuần tiễu theo các bờ chuối dọc bìa rừng. Quanh một công sự đổ nát, hơn chục khẩu pháo 105 ly đang tác xạ, tung bụi mù mịt. Giữa một khoảng trống đánh dấu bằng khói màu, các trực thăng khổng lồ Chinook đang thả nhiều toán binh sĩ Biệt Động Quân, mũ nâu, đầy mình đạn dược và lựu đạn. Một đoàn chiến xa M.41 với cờ đuôi nheo trên ăng ten đang từ Trảng Bom di chuyển về hướng mặt trận.

Rồi đến lượt các binh sĩ Nhảy Dù với quân phục xanh lá cây, mũ đỏ, súng tự động M.16 cầm tay. Chúng tôi gặp hai xe cam nhông chở thương binh, chỉ được băng bó sơ khởi, như những bóng ma, máu me bê bết, nằm la liệt chồng chất lên nhau.

Đi thêm 5 cây số nữa, chúng tôi phải ngừng lại. Súng như nổ sát bên. Tiếng đại liên ròn tan cùng với tiếng đạn pháo như sấm động. Chiến xa dẫn đầu, sau đó là các xe Jeep và xe 4/4 chở Biệt Động Quân. Tôi nhảy xuống xe, quyết định đi tới với toán binh sĩ này. Biệt Động Quân là đơn vị tăng viện, hành quân từng tiểu đoàn 600 người gồm phần đông binh sĩ lớn tuổi, già kinh nghiệm chiến trận, không biết hốt hoảng. Tôi lên một xe 4/4, ngồi cạnh đại úy Niệm. Trong khi di chuyển ông kể cho tôi nghe vài câu chuyện. Đại đội của ông từ Chơn Thành về, ở đó ông và đại đội đã chiến đấu 16 ngày liền và chỉ về nghỉ xả hơi được 48 tiếng đồng hồ lại phải tới đây.

Lực lượng cộng sản tung vào mặt trận Xuân Lộc rất quan trọng: 3 sư đoàn Bắc Việt tăng cường 1 trung đoàn chiến xa T. 54 và chừng 30 đại pháo Nga 130 ly và 152 ly.

Đối diện với lực lượng tấn công của cộng sản, phía chính phủ chỉ có Sư đoàn 18 Bộ Binh của tướng Lê Minh Đảo, 1 Lữ đoàn Dù, 5 liên đội Biệt Động Quân và Lữ đoàn 3 Thiết Giáp của tướng Trần Quang Khôi.

— Chúng tôi được lệnh phải đến Xuân Lộc bằng mọi giá. Đại úy Niệm kết luận với tôi như thế. Và chắc không dễ dàng đâu. Trước mặt chúng ta là sư đoàn 6 Bắc Việt. Chính sư đoàn này, cách đây 3 ngày, đã tấn công ngã ba Suzannah, các xã quanh đó, nhà máy và trung tâm đồn điền. Hai tiểu đoàn Dù phản công hồi đêm và chiếm lại ngã ba này. Cộng sản Bắc Việt có chiến xa yểm trợ và tổn thất nghe đâu nặng lắm. Lực lượng Dù vẫn bám đất. Chúng tôi chắc phải xuống xe và phải đi bộ chừng 10 cây số, vòng qua ngã ba Suzannah mới tới Xuân Lộc được.

Đoàn xe chúng tôi đến gần Suzannah. Và chúng tôi lọt vô luôn giữa trận địa. Những tràng đạn pháo binh, súng cối, hỏa tiễn chém nát mấy ngọn cây và mảnh đạn ghim xuống đường. Biệt Động Quân bỏ xe đi về hướng thị trấn. Họ chia ra 3 toán, tiến lên từng đoạn ngắn, súng cầm tay. Bên trái và bên phải chúng tôi các hàng cây cao su đều đặn, thẳng tắp tạo những hành lang tranh tối tranh sáng.

Suzannah là đồn điền xưa nhất trong vùng, có khoảng 3.500 mẫu và 300.000 cây cao su. Đồn điền chia ra từng lô 100 mẫu có đánh số… Dửng dưng với chiến sự và sự ồn ào của súng đạn, lén lén và yên lặng, phu đồn điền vẫn tiếp tục công việc cạo mủ, dao đục dắt lưng, thùng đựng mủ xách tay, họ không buồn nhìn khi chúng tôi đi ngang.

Chúng tôi tiến lên trong khung trời mờ ảo, dưới vòm lá xanh um rợp bóng nửa tối nửa sáng biến màu đất đỏ dưới chân ra xám tro. Chúng tôi đi sâu thêm dưới những tàng cây. Không khí ẩm ướt làm tôi khó chịu. Tôi tự hỏi lúc nào thì đám Việt Cộng nằm ẩn trong rừng cao su mênh mông này khai hỏa? Nhưng chưa có gì xảy ra. Chúng tôi tiếp tục tiến hơn nửa giờ nữa. Thình lình, tiếng đại bác như sát bên tai, tiếng đại liên thi nhau nhả đạn. Biệt Động Quân bắt đầu lao tới, trăm thước, rồi hai trăm thước, một lối mòn, một khoảng đất trống và… con đường.

Chiến xa, xe tải, một đoàn binh sĩ đang ở tư thế tác chiến. Họ thuộc Sư đoàn 18 Bộ Binh của miền Nam Việt Nam. Biệt Động Quân giải thích cho họ biết chúng tôi từ đâu tới. Đoàn quân đi ngược lại con đường đó, vì con đường đã trống trơn. Họ tìm cách bọc sau lưng cộng sản Bắc Việt để liên lạc với đơn vị Dù.

Thành phố ngập khói và đầy tiếng nổ. Tháp chuông nhà thờ bị nhiều quả đạn bắn bay một góc, nhà ga đang cháy. Các cột điện sập ngã đầy đường, dây điện bị đứt. Gần bên hông trường Nhà Dòng, hai khẩu pháo 105 ly đang bắn về hướng quốc lộ đi Phan Thiết. Cách chợ chừng 200 thước, súng liên thanh nổ từng tràng ngắn, xen lẫn tiếng nổ chát chúa của lựu đạn cầm tay. Thật khó có một ý niệm về tình hình. Hai chiến xa M.48 có ống kính hồng ngoại tuyến bên hông pháo tháp đang tiến về phía chợ. Binh sĩ Biệt Động Quân bố trí các ổ súng máy sau những đống gạch vụn của gần chục ngôi nhà đã sụp đổ bên phải bưu điện. Họ cũng có một số phóng lựu M.79, loại vũ khí tấn công nòng ngắn rất hữu hiệu trong thế cận chiến. Tôi ngồi sau một vách tường đã sụp, và sẽ ở đây suốt buổi trưa và tối nay. Lúc 6 giờ chiều, một loạt hỏa tiễn rơi vào chợ. Năm, mười hay mười hai quả, nổ inh tai… và sau đó có tiếng la hét. Nhiều phụ nữ, trẻ em rách rưới mình đầy máu vừa la vừa băng qua đường, chạy ùa về phía nhà Dòng.

oOo

Phía Đông Bắc, chắc chắn là quanh sân bay, tiếng đại liên bắn liên hồi. Và thình lình, pháo binh Bắc Việt nã vào thành phố. Chúng tôi bị kẹp cứng giữa vòng lửa đạn. Không thể đếm được bao nhiêu quả. Tôi chưa từng bị pháo kích nặng như vậy bao giờ. Đạn pháo cày rất có hệ thống từng căn nhà một, căn này sập rồi căn khác. Thành phố bị một cái bừa thép cày lên sới lại liên tục 2 giờ đồng hồ. Không một bóng người nhúc nhích. Đêm bắt đầu xuống, trời nóng bức. Tôi không có gì ăn, không có gì uống, lại không có nón sắt! Thật không ổn tý nào!

Lúc 10 giờ, hai trái bom sáng nổ trên không trung và vô số ngôi sao sáng rơi xuống màn đêm như một cơn mưa ánh sáng… Tiếp theo là đạn pháo lại trút tiếp tục xuống thành phố. Lần này là pháo 130 ly. Tôi nghe rõ đạn đi trên đầu ầm ầm như tiếng xe lửa đang mở hết tốc độ, và ngay sau đó là những tiếng bùng nổ tiếng này tiếp tiếng kia liên tục. Đất đá, rồi lửa, rồi miểng đạn bắn đi tung tóe khắp nơi. Và nỗi lo sợ đau thắt ruột.

Khoảng nửa đêm, pháo kích ngưng. Người tôi đẫm mồ hôi. Một sự yên lặng hoàn toàn trong vài giây… và thình lình tiếng dế mèn tst…tstt… nhỏ nhẹ khó thể nắm bắt nổi lên bất chấp sự tàn khốc của chiến trận. Lũ dế hát để sống, một cách láo xược, ngạo nghễ. Con người cứ việc giết lẫn nhau. Loài dế đâu sợ mất mát gì!

oOo

Khoảng 3 giờ sáng, màn đêm lại bất thần sáng rực. Bích kích pháo, liên thanh, súng tự động thi nhau nổ. Bộ đội mở các đợt xung phong trong tiếng hô “Tiến lên“.

Lúc này Biệt Động Quân mới sử dụng vũ khí của họ. Liên thanh quật nhào các toán xung kích, hàng ngàn tia lửa như điện chớp xé toang màn đêm. Đại bác 105 ly ở khẩu độ số 0 trực xạ bẻ gãy các đợt sóng tấn công, nghiến  nát họ, bóp nghẹt tiếng hô và nhấn chìm hết xuống mặt đất. Quanh ngôi chợ, chiến xa cộng sản dùng đại bác bắn sập từng ngôi nhà. Chiến xa M.48 của Miền Nam chạm súng với họ trong một cự ly thật ngắn. Cảnh tượng thật khủng khiếp. Thân hình nặng nề màu xám với các đại bác nòng dài lóe sáng mỗi lần tác xạ gợi lên hình ảnh trận chiến quái dị giữa những con voi khổng lồ. Một cuộc đụng độ kinh hoàng. Trận mưa hỏa châu từ trời đổ xuống. Toàn bộ chu vi vùng phòng ngự được soi sáng bằng những vòng lửa ma quái lớn. Hai phi cơ võ trang C.119 trang bị liên thanh điện tử (6000 viên phút) nhập cuộc tác xạ nhanh đến mức không phân biệt nổi từng tiếng đạn và có thể tưởng đó là tiếng của một miếng tôn thiếc bị xé toẹt ra…

Tảng sáng, các phóng pháo cơ A.37 đến dội bom và bắn hỏa tiễn vào phía sau ngôi chợ và cả về hướng phi trường. Binh sĩ Biệt Động Quân rời hầm trú ẩn, vừa tiến lên từng đoạn ngắn vừa ném lựu đạn. Tôi thấy 3 người ngã xuống, và người thứ tư bị một loạt đạn vào đầu. 10 giờ sáng, tôi vẫn ở đằng sau bức tường, nhìn thấy hàng trăm binh sĩ miền Nam đầu đội mũ sắt đang tiến tới.

Một trung úy lúc đi ngang bức tường của tôi đã ra lệnh: “Có cả trăm thằng bú c… (*) đang trốn trong bệnh viện. Mình phải đuổi bọn chúng ra.

(*) Tác giả chú thích: Tiếng thô tục trong Việt ngữ… không thể dịch.

Đạn pháo vẫn nổ và vẫn có một số binh sĩ bị hất tung. Một chiến xa T.54 bị trúng đạn pháo 105 trực xạ giữa xích, đang cháy bốc khói nghi ngút.

Chiến xa M.48 yểm trợ cho Bộ Binh trước bệnh viện. Nhiều giờ trôi qua với tiếng gào thét, tiếng nổ ầm ì xen kẽ những phút yên lặng ngắn ngủi. Viện binh đã đến. Binh sĩ miền Nam quét sạch từng căn nhà đổ nát bằng lựu đạn.

oOo

Đến 3 giờ chiều, tiếng súng im hẳn trong toàn khu vực. Tôi rời chỗ núp. Thành phố vẫn dưới sự kiểm soát của miền Nam. Bắt đầu cuộc kiểm xác chết của quân Bắc Việt. Họ mặc quân phục xanh ô-liu, đi giày “tơ-nít” hiệu Bata bằng cao su. Tôi đếm được rải rác chừng 30 xác bị chôn nửa thân mình dưới những đống gạch vụn. Một toán Biệt Động Quân đang đẩy trước mặt họ 3 tù binh, đội nón cối bằng mớp bọc vải xanh, trên nón có gắn ngôi sao bằng đồng. Họ còn rất trẻ, cao lắm là 16 hay 17 tuổi. Một trong ba người bị thương ở vai. Xa hơn chút, một T.54 bị hạ nằm dưới một góc hiên đổ sụp. Cách đó vài thước, trước một hiệu thuốc tây vỡ kính, một chiến xa miền Nam pháo tháp mở rộng, đầu chiến xa bị một trái bộc phá B40, đứt hết xích, giống như con quái vật nằm bất động. Tất cả tiệm buôn quanh chợ đều bị đạn pháo quật sập. Kim Long, quán ăn lâu đời nhất của thành phố (nơi mà 30 năm trước binh sĩ trung đoàn 22 Bộ Binh Pháp — 22ème RIC — thường đến ăn hủ tiếu) đã thành đống gạch vụn cháy đen.

Bệnh viện chỉ còn lại cái khung nám khói. Rải rác trong sân là giường chiếu, dụng cụ y khoa, bồn giặt, ly tách lẫn lộn cùng một số tử thi bộ đội mất tay mất chân, mảnh vụn vung vãi cùng khắp.

Phía rừng cạnh chợ, một xe ủi đào một đường hào dài rộng cỡ một thước. Biệt Động Quân đang thu dọn tử thi bộ đội Bắc Việt. Một tuyên úy nghiêm trang đi giữa những tử thi, lẩm nhẩm đọc kinh cầu nguyện lần cuối cho họ. Sau đó họ được đưa xuống hố và xe ủi đất ủi lấp lại.

Tôi quay trở lại. Gần nhà thờ, dưới hai cây to mà cành lá đã gãy nát, có khoảng 30 binh sĩ bị thương nặng nằm trên băng-ca. Những chai huyết thanh treo trên báng súng cắm thẳng đứng xuống đất bằng lưỡi lê, và từ đó các ống cao su truyền máu thẳng đến kim tiêm vào cho thương binh. Các y tá đang săn sóc họ và vừa đuổi ruồi cho họ vừa trò chuyện nho nhỏ với họ.

Trước cửa Nhà Dòng, tôi gặp tướng Đảo, nom gầy ốm, có vẻ mệt nhọc. Ông nói:

— Chúng tôi đã đẩy lui được họ. Đây là thành quả tốt giúp nâng cao tinh thần binh sĩ và cho cả hậu phương. Họ bỏ lại 400 xác trên trận địa và chúng tôi hạ 9 chiến xa T.54, bắt được 20 tù binh trong đó có 1 sĩ quan. Nặng nhất là trận đánh gần phi trường và phía sau nhà ga.Bây giờ trận tuyến đã mở rộng ở hướng Bắc và hướng Tây, tại cao nguyên Bình Lộc và quanh Gia Kiệm. Các phi công cho biết lực lượng cộng sản đang tập trung lớn ở Giá Rai. Anh em Dù đã giải tỏa ngã ba Suzannah rồi. Tất cả người Pháp ở đồn điền S.I.P.H. đều an toàn. Các đồn điền cũng không bị thiệt hại gì sau các cuộc đụng độ ở đó.

oOo

Gia Kiệm, với 40.000 dân, là thị trấn rất phồn thịnh mọc lên hai bên đường đi Đà Lạt, cách Xuân Lộc khoảng 15 cây số. Ở đây nhà cửa tiệm buôn sung túc nằm san sát bên nhau, có rào dậu, có lũy tre. Dân chúng toàn là Công giáo di cư từ miền Bắc, một lòng với nhau. Không một người lạ mặt nào lẻn vào đây được. Nếu cộng sản tấn công vào đây thì nhất định sẽ bị thiệt hại lớn.

Vùng Giá Rai, nơi các đơn vị Bắc Việt tập trung nhiều nhất, nhờ dựa lưng vào rừng bụi của núi Chứa Chan, ngọn núi đất cao khoảng 900 thước, trên đó có gần 3000 giống thảo mộc nhiệt đới mà Viện Khoa Học Sài Gòn đã ra công gìn giữ. Ngọn núi này là đài quan sát lý tưởng, và dựa vào khu rừng trên núi, cộng sản có thể sẽ tung ra một cuộc tấn công mới vào Xuân Lộc từ phía Đông.

Lúc 5 giờ chiều, một xe vận tải nhẹ đi liên lạc với Trảng Bom. Tôi nhảy lên xe đó. Ngã ba Suzannah được đơn vị Dù trấn giữ, nằm kín trong hố cá nhân, và một số chiến xa thuộc lữ đoàn 3 Thiết Giáp. Có nhiều xe đi phía trước chúng tôi. Đi khoảng 3 cây số, cách chúng tôi hơn 100 thước, một xe chở dân chúng bị trúng một quả pháo. Tiếp theo tiếng nổ chói tai là bụi, lửa bắn lên tung tóe. Cả chiếc xe và những người trên xe đều không còn gì! Chỉ còn trên đường một chấm đen lớn và vung vãi thịt xương tóc tai người chết với mấy mảnh kim khí của hộp số… Vậy là chỉ trong một giây đồng hồ, trên 20 người dân vô tội đã bị xóa hẳn tên trong danh sách người Việt.

Ở Việt Nam chuyện đó xảy ra không biết bao nhiêu lần hằng ngày. Làm sao mà một dân tộc trải quá nhiều đau khổ, chết chóc, đã bị xua đuổi khỏi thành phố quê hương, đất đai làng mạc, mồ mả bị tàn phá, vẫn bị đeo bám bởi sự chém giết dai dẳng từ năm này qua năm khác như vậy?

Ai sẽ chấm dứt được cảnh này, chấm dứt vĩnh viễn, cơn ác mộng đẫm máu và đáng ghê tởm này?

(Hết Chương 9)

Share this post