Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương Phụ Lục

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương Phụ Lục

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

PHỤ LỤC:

CUỐI  ĐỜI BINH  NGHIỆP
* Dương Hiếu Nghĩa

Nói tới những ngày cuối cùng cuộc đời binh nghiệp của mình, tôi muốn ghi lại những giờ phút vui buồn trong đơn vị cuối cùng, Ban Liên Hợp Quân Sự, một đơn vị mà cho đến giờ này rất ít người biết đến, kể cả phần lớn anh chị em trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mặc dù nó là đứa con út của Quân Đội, một đứa con sanh sau đẻ muộn vừa thai nghén vừa ra đời chỉ trong vòng một tuần lễ, hay vỏn vẹn chỉ có 7 ngày! Hoặc còn ít hơn nữa! Và đứa con út này chỉ sống ngắc ngoải được 2 năm 3 tháng 3 ngày. Khai sanh ghi rõ 12 giờ đêm rạng sáng 28-3-1973 và không có khai tử, nhưng được biết là ngày 29-4-1975!

Trên lý thuyết, 4 cha 3 mẹ (*) của nó đã mong muốn phải sanh ra nó từ lâu, từ lúc có các buổi đi đêm giữa cặp tình nhân Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội, Lê Đức Thọ trao cho Kissinger bản văn Hiệp Định Paris (tiếng Việt, do cộng sản Bắc Việt soạn thảo) để Kissinger cho dịch ra Anh ngữ và chánh thức trình làng với cái tên thật hấp dẫn: “Hiệp Định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam“, dù đó là nguyên văn sản phẩm của cộng sản Bắc Việt.

[*] Bốn Cha Ba Mẹ: Nguyên thủy cuộc hòa đàm Ba Lê chỉ có “Ba Mẹ” là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt). Nhưng về sau có thêm cái gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam được cộng sản Bắc Việt khai sanh và đòi Hoa Kỳ phải nhận nó là một thực thể như Việt Nam Cộng Hòa, mặc dầu nó chỉ là sự thay tên đổi họ của nhóm Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nên gọi là “Bốn Cha”.

Tôi may mắn biết được một ít về tình hình ở Hội Nghị Paris một phần nhờ giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, thuộc phái đoàn thương thuyết Việt Nam, và một phần nhờ ông John Paul Van, cố vấn trưởng Vùng 4 Chiến Thuật. Giáo sư Huy thỉnh thoảng về Việt Nam đều cho chúng tôi biết sơ về diễn tiến của cuộc hòa đàm, và ông Paul Van cũng thường ghé qua Vĩnh Long khi ông từ Hoa Kỳ về lại Cần Thơ qua ngã Paris.

Tôi được thuyên chuyển từ Vĩnh Long về Sài Gòn vào tháng 7 năm 1972. Ngay sau đó, tôi được lệnh vào học ở trường Cao Đẳng Quốc Phòng, (khóa 5) dù vào trễ gần 2 tuần. Về sau tôi mới biết lý do tại sao. Vào tháng 10-1972, khóa 5 Cao Đẳng Quốc Phòng chúng tôi được lệnh “nghiên cứu” và “sửa chữa” các điều khoản bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa khi Hiệp Định Ba Lê sắp sửa được ký. Ông tổng trưởng Thông Tin Hoàng Đức Nhã đã đến thuyết trình và trao bản nháp Hiệp Định cho trường. Trung tướng Vĩnh Lộc đã chia lớp học chúng tôi ra thành nhiều toán để thảo luận, nghiên cứu và sửa chữa từng điều khoản bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Nói là “bản nháp” nhưng thật sự đây là bản văn “thực thụ” của Hiệp Định sắp được ký kết.

Xin thú thật là công tác thảo luận nghiên cứu được tiến hành hết lòng, hết sức nghiêm túc, và đã có nhiều đề nghị sửa chữa, nhưng tất cả đều là công dã tràng. Có quá nhiều điều khoản cần phải sửa chữa vì lời văn rất bất lợi cho phía Việt Nam Cộng Hòa, nhất là bản Hiệp Định không hề có một điều khoản nào nói về sự có mặt của quân đội chánh quy Bắc Việt, do đó, không có một điều khoản nào buộc họ phải rút quân ra khỏi Miền Nam Việt Nam. Trong lúc đó Hiệp Định buộc “lực lượng Hoa Kỳ và các nước ngoài khác đồng minh của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Hòa phải rút đi” (điều 3a), và buộc “Hoa Kỳ phải chấm đứt mọi hoạt động quân sự chống lãnh thổ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển...” v.v… (điều 2). Tất cả chỉ nhằm khóa tay Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa như “Hoa Kỳ không được tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của Miền Nam Việt Nam” (điều 4) và “së không được đưa vào Miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kỹ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh“, trong khi không có một điều ràng buộc nào đối với Bắc Việt (điều 7) dù ai cũng biết Bắc Việt đã và đang nhận viện trợ quân sự, vũ khí đạn dược và mọi dụng cụ chiến tranh cũng như cố vấn kỹ thuật từ Liên Xô, Trung Cộng hay từ khối cộng sản Đông Âu.

Khoảng cuối tháng 10-1972, ông Kissinger đã bay sang Sài Gòn để trình lên Tổng Thống Thiệu bản văn chánh thức của Hiệp Định và yêu cầu Việt Nam Cộng Hòa ký vào bản văn đó. Chẳng những Tổng Thống Thiệu không chấp nhận bản văn mà còn dùng lời lẽ không được nhã nhặn lắm để biểu lộ sự tức giận đối với cá nhân Kissinger khi ông này đã rời Dinh Độc Lập. Những lời lẽ này lại lọt hết vào tai Kissinger có lẽ nhờ hệ thống máy móc và kỹ thuật nghe lén của người Mỹ. Và Kissinger về luôn Hoa Kỳ mà không trở lại Dinh Độc Lập nữa, vì ông ta dư biết rằng có tới cũng không được ai tiếp kiến.

Trước ngày lễ Giáng Sinh, Tổng Thống Nixon cho oanh tạc Bắc Việt lần nữa để buộc Hà Nội phải rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam theo đề nghị của Tổng Thống Thiệu, và để đổi lại, theo đề nghị của Tổng Thống Nixon, Việt Nam Cộng Hòa phải cho giải ngũ một số khoảng 300.000 binh sĩ chánh quy. Đề nghị này là đề nghị duy nhất và đầu tiên của Hoa Kỳ chính thức nói đến sự hiện diện của quân đội chánh quy Bắc Việt ở miền Nam do Hoa Kỳ đưa ra và được bàn cãi “công khai” trên bàn hội nghị Paris. Nhưng tiếc rằng Hiệp Định đã thành hình từ lâu nên dù có bàn cãi qua loa lấy lệ cũng không có một dư âm nào. Dĩ nhiên đề nghị này không đạt thoả thuận nào từ cả hai phía Bắc Việt và Việt Nam Cộng Hòa. Phía Việt Nam Cộng Hòa chắc chắn không bao giờ thực hiện được việc giải ngũ 300.000 binh sĩ.

Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (một thành viên của phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại hội nghị Paris), đây vừa là một “đòn độc”, vừa là một đòn “xỏ lá” của Kissinger đối với cá nhân Tổng Thống Thiệu (sau khi không thuyết phục được Tổng Thống Thiệu trong chuyến đi vừa qua) để ép Việt Nam Cộng Hòa phải ký vào Hiệp Định, một bản Hiệp Định hoàn toàn do cộng sản Bắc Việt chủ động thảo ra và phía Mỹ chỉ dịch lại nguyên văn không thiếu một dấu phẩy sau nhiều buổi “đi đêm bẩn thỉu” gọi là  mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ.

Cuối cùng, cuối tháng Chạp 1972 Việt Nam Cộng Hòa đã phải xuôi tay chịu ký vào Hiệp Định, sau khi Tổng Thống Nixon đích thân viết thư riêng cam kết một số vấn đề với Tổng Thống Thiệu… (về sau như chúng ta đã thấy, không có một lời cam kết nào được Hoa Kỳ giữ đúng).

Trung tướng chỉ huy trưởng trường Cao Đẳng Quốc Phòng và Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp (học viên) được tháp tùng phái đoàn Bộ Ngoại Giao sang Paris với tư cách quan sát viên của buổi ký kết..

(Tôi xin được nhắc lại ở đây lời giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã than với chúng tôi nguyên văn như sau: “…ngay lúc đó (cuối năm 1969), Hoa Kỳ (hay đúng hơn là Kissinger) đã có quyết định bỏ rơi số phận của đồng minh Việt Nam Cộng Hòa rồi, và coi như chúng ta đã mất nước kể từ khi chúng tôi bị đưa vào ngồi ở bàn Hội Nghị 4 Bên ở Paris (1968)”.

Ngay sau khi Hiệp Định được ký kết, theo điều 16 thuộc Chương VI, một số lớn học viên Khoá 5 CĐQP chúng tôi trong đó có Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, Đại tá Nguyễn Tử Đóa, Đại tá Trần Tín, Đại tá Lê Văn Chuân, Đại tá Tô Văn Kiểm, cá nhân tôi và một số đại tá nữa… được cấp tốc chọn vào một đơn vị mới: “Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên” với nhiệm vụ “bảo đảm sự phối hợp hành động của các Bên trong việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp Định“: (nguyên văn)

— Về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam (điều 2) giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam (điều 3a), về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam của quân đội Hoa Kỳ và các nước ngoài khác (điều 5) và việc hủy bỏ các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ và các nước ngoài ở miền Nam Việt Nam (điều 6), về việc trao trả nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt v.v…

Tuy không nói ra nhưng hai chữ “mất nước” đã ám ảnh tôi từ năm 1970 khi được tâm sự với giáo sư Huy, và hai chữ đó cứ bàng bạc nhảy múa trong tâm tôi mãi suốt thời gian phục vụ ở Ban Liên Hợp Quân Sự.

NGÃ RẼ CHÁNH TRỊ TRÊN CON ĐƯỜNG BINH NGHIỆP

Trên đường phục vụ đất nước, tôi tự xem như mình đã bước qua một ngã rẽ hoàn toàn xa lạ, trong một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn: tranh đấu với cộng sản mặt đối mặt trên bàn hội nghị quân sự để bênh vực quyền lợi cho Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày đầu tiên chân ướt chân ráo đến văn phòng Ban Liên Hợp Quân Sự ở Tân Sơn Nhất, là một ngày cuối năm, giáp Tết. Văn phòng là một dãy nhà ngang trống của một đơn vị nào đó vừa mới dọn ra, không bàn ghế, rất luộm thuộm. Tuy nhiên ai cũng biết nhiệm vụ tương lai của mình rất quan trọng. Chúng tôi họp nhau lại để vạch ra một sơ đồ tổ chức tạm thời cho đơn vị mình và tạm phân công trong công việc, vì theo Hiệp Định (điều 16) thì “các Bên së cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên…“.

Hôm đó đã là ngày 28 tháng 1 rồi, tức là đã qua ngày ký Hiệp Định một ngày rồi. Điều này chứng tỏ phía Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn bị động nên không có chuẩn bị gì, nhất là về sự thành lập Ban Liên Hợp Quân Sự này. Trung tướng Ngô Dzu là trưởng đoàn, Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp là phó trưởng đoàn, còn lại tất cả đại tá học viên Cao Đẳng Quốc Phòng chúng tôi đều là nhân viên. Tuy vậy cũng có vài chuyện vui vui buổi đầu khiến chúng tôi quên đi phần nào những luộm thuộm của một đơn vị mới thành lập với một trụ sở không có chút tiện nghi, dù tối thiểu là bàn ghế.

Việc thứ nhất là việc tôi tiếp xúc lần đầu với một nhân vật “đầu sỏ” Bắc Việt ở phi trường khi ông ta vừa bước xuống phi cơ từ Hà Nội vào. Số là tôi được chỉ định ra sân bay đón phái đoàn quân sự Bắc Việt. Đây chỉ là một nhóm tiền phương, còn phái đoàn chánh thức của Ban Liên Hợp Quân Sự Bắc Việt së đến ngày hôm sau. Trước khi đi, anh bạn ở phái đoàn Hoa Kỳ cho tôi biết trong nhóm tiền phương này có một người mang tên Lưu Văn Lợi, tuy chỉ mang cấp bậc đại tá, nhưng không phải quân nhân mà là một cán bộ cấp cao trong Ban Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản, là chánh trị viên của cả 2 phái đoàn Bắc Việt và CPLTCHMN. Không biết anh nhận tin từ đâu mà còn cho tôi biết thêm là tên Lợi này đã từng mang cấp đại tá, đại diện của Bắc Việt tại hội nghị về tù binh nhóm ở Trung Giá năm 1954 theo Hiệp Định Genève. Do đó, khi gặp tên Lợi trong bộ quân phục mới toanh, rộng thùng thình không đúng kích thước, tôi bèn “chộ” thẳng một câu khi bắt tay anh ta lúc anh ta vừa bước xuống phi cơ:

— Ủa anh Lợi, 19 năm rồi mới gặp lại anh, sao anh vẫn còn là đại tá hoài vậy?

— Anh gặp tôi ở đâu? Anh phản ứng nhanh nhưng cộc lốc.

— Ở Trung Giá chớ còn ở đâu nữa.

— Ờ… Anh buông nhẹ một tiếng rồi thôi, thấy mình bị lộ.

Về sau, anh ta quả nhiên là một tay có thực quyền đối với hai phái đoàn cộng sản Bắc Việt và Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam.

Khi hai phái đoàn Bắc Việt và Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam coi như đã đến đông đủ ở trại Davis rồi thì đúng là ngày giao thừa. Chúng tôi đưa đề nghị lên cấp trên là nên lấy tình đồng bào đãi họ một bữa cơm tất niên ở câu lạc bội Huỳnh Hữu Bạc, ngay trong Tân Sơn Nhất. Dĩ nhiên, trong bữa cơm tất niên này có đầy đủ các món ăn truyền thống của người Việt Nam như thịt kho dưa giá, bánh chưng, bánh tét, dưa hành v.v… hoàn toàn có tính cách đãi 2 phái đoàn mà không có một ý thức hay hành động chánh trị nào. Cấp trên chấp thuận, và chúng tôi tổ chức bữa cơm. Nhưng phía Bắc Việt có vẻ nghi ngờ, nhất là tướng 2 sao Lê Quang Hòa trưởng đoàn Bắc Việt, không biết phía Việt Nam Cộng Hòa có ý đồ gì, nên có vẻ chỉ muốn cho cấp nhỏ đi dự mà thôi. Tôi liền đến gặp Lưu Văn Lợi, nói rõ rằng phía Việt Nam Cộng Hòa chỉ muốn đãi hai phái đoàn một bữa cơm truyền thống ngày giao thừa mà thôi, tuyệt đối không có ý nào khác. Hơn nữa, nhà thầu hôm nay cũng chưa kịp cung cấp thức ăn cho phái đoàn nên trại Davis chắc không nấu nướng gì được cho gần 200 người. Chính Lưu Văn Lợi đã quyết định đưa hết tướng tá và toàn bộ hai phái đoàn đến câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc dự bữa cơm giao thừa nói trên. Phần chúng tôi không có ai tham dự để phái đoàn Bắc Việt hoàn toàn tự do trong ăn uống chuyện trò với nhau một cách tự nhiên thoải mái. Sau đó, cũng chính Lưu Văn Lợi đã gặp chúng tôi để cám ơn. Điều này xác nhận tin tức tình báo của anh bạn tôi trong phái đoàn Hoa Kỳ là chính xác.

(Tôi xin mở thêm một dấu ngoặc để nói rõ là năm 2003, chính Lưu Văn Lợi đã ngồi chụp ảnh chung với tướng Nguyễn Khánh và một số cán bộ thuộc tòa đại sứ cộng sản. Hình chụp ở Houston, Texas, tất cả đều đội nón rơm vành lớn, báo chí đã có đăng. Không biết nhân vật Lợi này qua Mỹ và ngồi chụp ảnh chung với tướng Nguyễn Khánh với ý đồ gì?)

Việc thứ hai là chuyện của anh chàng Võ Đông Giang.

Buổi họp khai mạc đầu tiên tại phòng họp của Ban Liên Hợp 4 Bên Trung Ương đã có một chuyện không hay xảy ra cho anh chàng Võ Đông Giang thuộc phái đoàn Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Lúc chúng tôi đang họp, khoản 9 giờ 30 sáng, anh chàng này xồng xộc vào phòng, tự xưng tên và tự giới thiệu mình là đại biểu của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Phía Việt Nam Cộng Hòa đang chủ trì phiên họp nên chúng tôi mời anh ta xuất trình cho các Bên giấy ủy quyền của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Anh ta lúng túng đưa ra tờ giấy thông hành (passport) mà anh đã sử dụng để đi từ Paris sang Việt Nam. Cả hai phái đoàn Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đều không chấp nhận, và riêng phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đã “phang” ra một câu làm anh chàng bẽ mặt phải chịu phép bước ngay ra khỏi phòng họp không nói thêm một lời nào:

— Chúng tôi vẫn biết anh là người của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam từ Paris mới tới. Nhưng chúng tôi cần anh chứng minh rằng anh là người được Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam chánh thức ủy quyền đại diện cho Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam trong Ban Liên Hợp Quân sự 4 Bên. Trên nguyên tắc, giấy ủy quyền đó phải có chữ ký của người có thẩm quyền trong Chánh Phủ của anh và có đóng dấu của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Nhưng có thể anh về trại làm giấy ủy quyền có chữ ký của ai cũng được, thiệt hay giả không cần biết, và phải có con dấu, dù là con dấu làm bằng củ khoai lang, miễn đó là giấy ủy quyền của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam là được.

Phái đoàn Bắc Việt do tướng hai sao Lê Quang Hòa chắc cũng ê mặt vì câu nói này.

Về sau, tướng Trần Văn Trà từ Lộc Ninh đến làm trưởng phái đoàn của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam và không còn thấy Võ Đông Giang có mặt trên Bàn Hội Nghị nữa.

Trong tháng đầu chúng tôi làm việc thật là vất vả. Một mặt phải chuẩn bị bài vở hoặc dàn bài để phát biểu hằng ngày trong các buổi họp với đủ mọi loại đề tài, vừa tấn công vừa giữ vững lập trường cố hữu của Việt Nam Cộng Hòa cho bất cứ chương nào, điều khoản nào của Hiệp Định, lại vừa phải phối hợp chặt chẽ với phái đoàn Hoa Kỳ. Mặt khác phải thực hiện kịp thời và đầy đủ những văn kiện gởi cho Ủy Ban Quốc Tế để liên tục phản kháng hàng chục vi phạm ngừng bắn của cộng sản trong ngày. Đêm đến có khi phải ở luôn tại đơn vị để cùng nhau hội họp, tìm một mô hình tổ chức và một bản cấp số hợp lý cho đơn vị của mình (dù đây là nhiệm vụ của Phòng 1/Tổng Tham Mưu), sao cho phù hợp với hai nhiệm vụ đặc biệt đã ấn định trong điều 16 của Hiệp Định. Trong giai đoạn này, nhiệm vụ chính yếu của chúng tôi là “hội nghị” và “phản kháng”, do đó hai Khối chính yếu của Ban Liên Hợp Quân Sự của chúng tôi là Khối Nghị Hội và Khối Ngoại Vụ (phản kháng vi phạm và giao dịch với Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến). Rồi từ bản cấp số của Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, chúng tôi còn phải làm ra bản cấp số của các Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên cho các Vùng Chiến Thuật và cho cả các tổ ở địa phương theo đúng điều 17 của Hiệp Định.

Một phần nhờ sự thuyết trình của ông Hoàng Đức Nhã khi Tổng Thống Thiệu giao cho trường Cao Đẳng Quốc Phòng sửa chữa bản Hiệp Định hồi tháng 10 nên chúng tôi được biết rõ về mục đích và lý do thầm kín của cả Hoa Kỳ và Bắc Việt trong tiến trình đi đêm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Một phần nhờ tôi chia sẻ lại cho anh em tất cả những gì riêng cá nhân tôi đã được giáo sư Nguyễn Ngọc Huy tâm tình cho biết từ lúc hòa đàm Ba Lê mới bắt đầu hình thành (1968) cho tới ngày ký kết Hiệp Định, đặc biệt là âm mưu và thỏa thuận của Kissinger và Lê Đức Thọ trong suốt quá trình mật đàm của hai người mà không bao giờ biết đến sự có mặt của phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại bàn hội nghị. Do đó, gần như anh em trong phái đoàn đều nắm vững một số yếu tố đủ để ứng phó với hai phái đoàn cộng sản trên bàn hội nghị thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên Trung Ương mà không sợ rơi vào thế hạ phong bao giờ, đồng thời vẫn giữ được mối giao hảo tốt không lộ vẻ gì khác lạ với phái đoàn Hoa Kỳ, dù vẫn biết Việt Nam Cộng Hòa đã bị đồng minh phản bội và bỏ rơi.

Cũng nhờ đã cùng thảo luận, mổ sẻ và nghiên cứu trước ở Cao Đẳng Quốc Phòng từng chương, từng điều và từng câu của bản văn Hiệp Định, nên chúng tôi đã thấy rõ phần nào những mục tiêu cần tranh đấu cho đất nước trong giai đoạn này mặc dầu đã thấy một tương lai đen tối trước mặt. Một ngõ cụt với viễn ảnh mất nước cứ lởn vởn trước mắt chúng tôi vì toàn bộ Hiệp Định chỉ có lợi cho phía cộng sản và hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa.

Chuyện “ngừng bắn” không quan trọng bằng chứng minh cho quốc tế thấy rằng quân đội chánh quy Bắc Việt đang có mặt tại miền Nam Việt Nam. Nhưng cái khó là dù có chứng minh được điều này thì Việt Nam Cộng Hòa vẫn không sao đuổi họ ra khỏi lãnh thổ miền Nam được, vì trong bản Hiệp Định không có điều khoản nào, một câu, một chữ nào nói đến quân đội chánh quy Bắc Việt.  Dù vậy, lúc nào trên bàn hội nghị, chúng tôi vẫn ra rả tấn công điểm này bất chấp sự yên lặng tảng lờ không trả lời hay chối leo lẻo của phía Bắc Việt. Dĩ nhiên, những lý lẽ tấn công đều có kèm theo bằng chứng cụ thể (lời khai và hình ảnh của tù binh trẻ Bắc Việt, sinh quán, đơn vị, ngày xâm nhập miền Nam v.v…) và chúng tôi trao liên tục cho Ủy Ban Quốc Tế nguyên văn để họ nắm rõ sự thật là lực lượng Việt Cộng ở miền Nam chỉ gồm toàn quân chánh quy Bắc Việt.

Tất cả anh em học viên Cao Đẳng Quốc Phòng đã có một nhận định rõ ràng là phía Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu đủ mọi hậu quả tai hại của chánh sách và nhu cầu của Tổng Thống Nixon khi ông ta “muốn rút chân ra khỏi Việt Nam, đưa tù binh Mỹ về nước” qua cuộc hòa đàm Ba Lê và do đó chính ông ta đã khoán trắng cho Kissinger tự do đi thẳng với Bắc Việt (Lê Đức Thọ) trong mật đàm và đi đêm với cộng sản, mặc cho ông này bước qua đầu của cả hai phái đoàn Mỹ-Việt ở bàn hội nghị Ba Lê, đến độ bị Lê Đức Thọ xỏ mũi trao cho dự thảo bản văn Hiệp Định để Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ dịch ra nguyên văn không sót một chữ, một dấu phẩy.

Tôi chỉ xin nhắc lại “chuyện cái bàn”, để mọi người thấy rõ hơn. Riêng về “hình dáng cái bàn” không thôi, Hoa Kỳ cũng đã hoàn toàn nhượng bộ Bắc Việt mà không hiểu được ý đồ thực sự của cộng sản. Từ “cái bàn tròn” với 3 phái đoàn Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và Bắc Việt lại được Hoa Kỳ và Bắc Việt thỏa thuận biến thành “cái bàn vuông” để có thêm một chỗ ngồi chánh thức cho cái gọi là phái đoàn Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam mà trên thật tế chỉ là một bọn du kích Việt Cộng được Bắc Việt dựng lên từ phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre năm 1960, và đã bị Bắc Việt âm mưu tiêu diệt gần hết trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân để ung dung thay thế gần như toàn bộ bằng lực lượng chánh quy Bắc Việt. Trong hai năm dài bàn cãi về hình dáng của “cái bàn” ở Ba Lê, cuối cùng Hoa Kỳ bị Bắc Việt đánh cho một cú “nốc ao”, té gục để nhìn nhận Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam là một “thực thể” ở miền Nam Việt Nam trong khi theo Hiệp Định Genève 1954 chỉ có 2 thực thể trên toàn cõi Việt Nam là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) và Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt)! Phía Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn xuôi tay chào thua vì bị Đồng Minh dùng áp lực viện trợ để trâng tráo ép buộc phải lép vế ê mặt ngồi chung bàn với bọn Việt Cộng!

Công việc được tiến hành một cách trôi chảy trong suốt thời gian sáu mươi ngày được Hiệp Định ấn định cho Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, nhưng trên thực tế thời gian này kéo dài đến gần cuối tháng 3-1973, phái đoàn Bắc Việt mới rút khỏi trại Davis, chỉ để lại một bộ phận liên lạc khoảng 10 sï quan. Từ đó, Hoa Kỳ vẫn đơn phương tiếp tục các chuyến bay ra Hà Nội hàng tuần mà họ gọi là “chuyến bay liên lạc” không được Hiệp Định ấn định hay 4 Bên thỏa thuận trong thời gian hiệp thương trên bàn hội nghị tại Tân Sơn Nhất. Phía Việt Nam Cộng Hòa không biết rõ mục đích của chuyến bay. Các sï quan Bắc Việt ở trại Davis vẫn hoán chuyển thường xuyên nhờ các chuyến bay này và có Trời mới biết họ và các sï quan Mỹ mang đi mang về Hà Nội những gì. Trung tướng Trà cũng xin về Hà Nội và được thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn từ Lộc Ninh tới chánh thức thay thế.

Tôi còn nhớ trong thời gian này có hai sự kiện cần được nhắc lại để thấy rõ tâm trạng của tướng Trần Văn Trà. Ông vốn sanh trưởng ở Quảng Ngãi thuộc miền Nam Việt Nam nên tánh tình cũng bình dị và cởi mở như người miền Nam. Phụ tá của ông là đại tá Nguyễn Văn Sĩ, người gốc Cần Thơ, Tư lệnh công trường 7 tức sư đoàn 7 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Anh Sĩ này hồi học trường trung học Cần Thơ được anh em sinh viên gọi là Sĩ Kiếng và là chỗ quen biết với cá nhân tôi, lúc hai hội túc cầu của hai trường Pétrus Ký và Cần Thơ gặp nhau trong các trận giao hữu hằng năm. Cho nên khi trên bàn hội nghị mà bị bế tắc về con số tù binh phải được trao trả thì tướng Trà bảo “anh Sĩ hãy chịu khó bàn thảo với anh Nghĩa để giải quyết“. Thế là hai chúng tôi kéo nhau ra câu lạc bộ Hoa Kỳ ngay bên cạnh để tôi tha hồ “chiêu đãi anh bạn cũ” đủ mọi loại bánh ngọt của Mỹ mà tôi biết rằng anh rất thiếu. Ngoài ra, tôi còn rỉ tai to nhỏ trao đổi với anh bạn cũ nhiều chuyện về cộng sản Bắc Việt, mà chuyện tù binh là một, như sau:

— Đối với anh hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì con số tù binh mà anh muốn chúng tôi thả ra bao nhiêu cũng được hết. Nhưng anh cũng dư biết là tù binh họ muốn thả ra không phải người miền Nam của chúng ta mà phần đông là dân Bắc Kỳ (tôi dùng thẳng danh từ Bắc Kỳ với anh Sĩ). Và tôi cũng biết là các anh đều bị bọn Bắc Việt kềm kẹp trong mọi hoạt động, ở mặt trận cũng như trên bàn hội nghị. Nhưng anh em mình và có lẽ cả tướng Trà cũng vậy, đều hiểu và thông cảm với nhau hơn, cho nên hai anh em mình mới có dịp ngồi uống trà với nhau thoải mái ở đây. Vậy anh muốn con số bao nhiêu, tôi chấp thuận cho anh bấy nhiêu. Với anh, cái gì cũng được hết.

— Cám ơn anh, anh cho tôi chừng 70 thôi, mà nửa này nửa kia. Tôi nói vậy là anh hiểu rồi, phải không? Tôi cũng muốn người Nam chúng ta ra hết càng sớm càng tốt cho gia đình họ.

— Tôi hiểu rất rõ, anh bạn.

Và cứ thế, tuần nào tướng Trà cũng tạo điều kiện cho hai chúng tôi gặp nhau ít nhất 1 lần. Đây chỉ là con số tù binh được 4 Bên thỏa thuận mà thôi, còn vấn đề trao trả thì do anh Phan Nhật Nam phụ trách tranh đấu thẳng với cả hai phái đoàn cộng sản tại hiện trường, hoặc ở Lộc Ninh hoặc ở Bến Hải là địa điểm mà chúng tôi ép cộng sản phải thuận để Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến ghi nhận, vì là tù binh chánh quy Bắc Việt, dù bên nhận là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Vấn đề này cũng rất gay cấn và không kém phần quan trọng nên người phụ trách công tác tranh đấu chánh trị với cộng sản ngay tại hiện trường trao trả lúc đó là thiếu tá Phan Nhật Nam. Sau đó anh Nam đã viết một cuốn sách: “Tù Binh và Hòa Bình” rất có giá trị, được xuất bản và phổ biến rộng rãi trước 1975. (*)

[*] Quyển Tù Binh và Hòa Bình của nhà văn Phan Nhật Nam, thiếu tá thuộc Ban Tù Binh trong Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, được xuất bản tại Việt Nam trước 1975. Sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản vào cuối thập niên 80, anh được định cư ở Hoa Kỳ và quyển Tù Binh Và Hòa Bình được tái bản đến 2 lần, lần thứ hai vào năm 1988 do nhà xuất bản Đông Tiến, San Jose, California. Đồng thời, tác phẩm này cũng đã được dịch sang Anh ngữ với tựa đề Peace and Prisoners of War, được lưu giữ trong các thư viện khắp Hoa Kỳ.

Ngoài ra trước khi rời Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, tướng Trần Văn Trà cũng nhờ riêng tôi mua cho ông ta một máy thu băng cassette và tất cả những băng cassette của những ca sĩ nam nữ Miền Nam để ông mang về. Tôi giúp ông mua đầy đủ hết không thiếu một bản nhạc nào kể cả những bản nhạc tiền chiến mà sau này cộng sản Bắc Việt gọi là nhạc vàng Mỹ-Ngụy. (Tiền mua gần 500 ngàn tôi nhờ Hoa Kỳ đài thọ).

 (Tôi cũng xin nói thêm về anh Nguyễn Văn Sĩ sau ngày 30-4-1975. Anh Sĩ được thăng cấp thiếu tướng và cho giải ngũ sau ngày Ủy Ban Quân Quản giải tán tức là chỉ trước ngày cộng sản tuyên bố thống nhất cả hai miền Nam Bắc. Sau khi ra khỏi tù năm 1987, tôi có xuống Cần Thơ và gặp được lại anh Sĩ tại sân quần vợt của thành phố. Anh cho biết từ năm 1977 anh “bị phục viên” (giải ngũ) với cấp bậc thiếu tướng và về sống ở Cần Thơ như các anh em bị phục viên khác của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tất cả cán bộ chỉ huy sư đoàn của anh đều được cán bộ đảng viên từ miền Bắc vào thay thế. Tướng Trần Văn Trà, Đồng Văn Cống v.v… lần lượt “bị phục viên” khi họ giải tán Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam).

Nhắc lại trong thời gian hoạt động của Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, hầu hết các túi da beo tiếng là căn cứ của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam nhưng thực tế là do quân đội chánh quy Bắc Việt chiếm giữ và sử dụng như điểm xuất phát của các đại đơn vị của họ, và mỗi ngày họ cứ bung ra trái với quy định của Hiệp Định. Do đó không khi nào có tình trạng ngưng bắn ở khắp miền Nam, nhất là ở vùng xôi đậu miền Đông Nam Bộ, giao tiếp ngay với đường mòn Hồ Chí Minh là con đường xâm nhập chính mà Bắc Việt đang sử dụng. Trong lúc đó, không ảnh vẫn cho thấy từng đoàn xe dài của Bắc Việt có cả chiến xa và pháo binh cơ giới cứ tiếp tục rầm rộ tiến vào hướng Lộc Ninh một cách tự do giữa ban ngày. Hoa Kỳ nhất định không can thiệp. Chúng ta có yêu cầu, nhưng phái đoàn Hoa Kỳ cho biết là chánh phủ Hoa Kỳ đã có quyết định không tái can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam như điều 4 của Hiệp Định đã qui định, dù cả Hoa Kỳ và Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đều được báo rõ nhiều lần trong phản kháng với hình ảnh cụ thể là BắcViệt đã có hành động vi phạm trắng trợn điều 7, Chương I này của Hiệp Định.

Trên thực tế, Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến hoàn toàn bất lực không tiến hành được bất cứ một cuộc điều tra vi phạm ngừng bắn nào trong nhiệm vụ chính yếu là “điều tra về việc ngừng bắn giữa các Bên ở miền Nam Việt Nam” đúng theo điều 3(c), chỉ vì Lê đức Thọ đã khôn ngoan, khóa tay Ủy Ban bằng nguyên tắc “nhất trí” (đồng thuận) của điều 18f trong Hiệp Định mà Kissinger không bao giờ thấy được (mà có thấy chắc ông ta cũng làm ngơ). Hai thành viên cộng sản của Ủy Ban là Ba Lan và Hung Gia Lợi luôn luôn dựa vào nguyên tắc “nhất trí” của điều khoản này để cản trở hai phái đoàn Gia Nã Đại và Nam Dương trong công tác chính của Ủy Ban là điều tra, mà nếu Gia  Nã Đại hay Nam Dương đơn phương dám liều lĩnh “mon men” bay vào khu vực da beo của cộng sản để điều tra vi phạm ngừng bắn mà không có sự đồng thuận của một trong hai thành viên cộng sản thôi thì cũng đủ để Bắc Việt cho bắn hạ trực thăng ngay, bất kể sự có mặt của sï quan Bắc Việt hay của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam trên trực thăng có sơn rõ ràng màu và dấu hiệu của Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến. Điều này đã xảy ra  trong những ngày đầu tháng 4-1973 trên vùng trời Bình Chánh (Chợ Lớn) để răn đe hai thành viên Gia Nã Đại và Nam Dương. Nếu may mắn mà thành viên quốc tế nào còn sống thì së  bị cộng sản bắt nhốt và hành hạ như tù binh thường, với tội dám bay vào “vùng trời” của họ mà không xin phép. Ngoài ra, Ủy Ban chẳng những không khai triển vào đóng ở các điểm được Hiệp Định dự trù như Lao Bảo, Vị Thanh, Đức Cơ, Xa Mát, Ben Hét, Tri Tôn, mà còn phải nằm yên bất động khắp nơi suốt mấy tháng, khiến Gia Nã Đại quá ngao ngán và bất mãn đã rút chân khỏi Ủy Ban và về nước vô điều kiện, sau lần bị bắn thứ hai ở gần vùng Khe Sanh ngày 7-5-73 khi họ định vào tìm vị trí đóng quân cho Tổ Quốc Tế ở Lao Bảo. Sau đó vương quốc Iran được Hoa Kỳ mời thay chân Gia Nã Đại và trong suốt thời gian từ 1973 cho đến 30 tháng 4-1975, coi như Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến chỉ có mặt ở các đô thị Việt Nam để cho có mặt trong các buổi tiệc tùng, du hí thôi.

Đối với Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến, ngoài các tiệc tùng do Hoa Kỳ tổ chức khoản đãi Ủy Ban và Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên, Khối Ngoại Vụ chúng tôi chỉ liên lạc và trao đổi tin tức với 2 phái đoàn Nam Dương và vương quốc Iran. Nhưng thỉnh thoảng Trung tá Thiện của chúng tôi cũng thường liên lạc với ông Polgar trưởng toán CIA của tòa đại sứ Hoa Kỳ để biết tin tức chính xác về đường lối và hành động của Hà Nội, qua Đại tá Toth của Hung Gia Lợi mà ông Polgar hay tiếp xúc.

Riêng cá nhân tôi đã được phái đoàn Nam Dương hai lần giúp đỡ trong công tác tình báo chiến trường:

Cuối năm 1974, như thường lệ hằng tháng tôi sang thăm Đại tá Abbas, phó trưởng phái đoàn Nam Dương trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến ở Tân Sơn Nhất. Ông này vốn là sï quan Phòng Nhì thuộc Bộ Tổng Tham Mưu quân đội Nam Dương. Sau tuần rượu khai vị thân mật, ông đưa tôi vào Phòng Tình Hình của phái đoàn, kéo tấm màn vải lên và cho tôi xem Bản Đồ Chiến Trận của Bắc Việt gồm toàn bộ các đại đơn vị chánh quy Bắc Việt. Ông chỉ cho tôi thấy vị trí của từng đơn vị cấp sư đoàn Bắc Việt đang đóng quân hay đang di chuyển về vùng Cao Nguyên Trung Phần tức là Vùng 2 Chiến Thuật. Và sau đó ông ước tính họ së tiến hành những trận đánh lớn ở vùng này, có thể là vào mùa Xuân năm 1975. Tôi không cần biết do đâu ông có được những tin này và có chính xác hay không vì trước đó chúng tôi đã có được những không ảnh nhận được từ phái đoàn Hoa Kỳ cho thấy những sự di chuyển công khai và rầm rộ bằng cơ giới của các đoàn xe Bắc Việt đều tiến về hướng Lộc Ninh được 4 Bên mặc nhiên coi là thủ đô của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam. Tất cả đều phù hợp với nhận định và ước tính của Đại tá Abbas. Tôi xin phép ông bạn Abbas cho tôi sao chép lại bản đồ này trên giấy kiến. Xong xuôi tôi từ giã ra về.

Sau đó, tôi tức tốc gọi cho Đại tá Võ Văn Cầm ở Phủ Tổng Thống xin vào gặp ngay Tổng Thống Thiệu. Tôi vào Dinh Độc Lập đúng 3 giờ chiều ngày 12 tháng 12 năm 1974 với các không ảnh và bản đồ chiến trận vừa sao chép được ở phái đoàn Nam Dương. Tôi và Đại tá Cầm trải bản “overlay” lên bản đồ 1/100000 của Tổng Thống và tôi lập lại toàn bộ ước tính tình báo của Đại tá Abbas thuộc phái đoàn Nam Dương. Nhưng Tổng Thống Thiệu lại bảo tôi mang sang cho tướng Đặng Văn Quang, điều mà tôi hoàn toàn không thi hành, vì thấy Tổng Thống đặt nhẹ vấn đề. Điều nầy tôi có cho Đại tá Cầm biết.

Lần thứ hai vào khoảng giữa tháng Giêng 1975, một lần nữa tôi sang gặp Đại tá Abbas theo lời mời của ông qua điện thoại. Lần này cũng giống như lần trước, sau phần nghi lễ xã giao ngắn gọn ở phòng khách, ông có vẻ nóng ruột đưa ngay tôi vào phòng tình hình để cho xem bản đồ đóng quân của các sư đoàn chánh quy Bắc Việt quanh hai tỉnh Kontum và Ban Mê Thuột. Đặc biệt hôm nay Đại tá Abbas lại ước tính rất rõ ràng mục tiêu tấn công sắp tới của Bắc Việt së là uy hiếp Pleiku bằng hai cuộc tấn công mạnh vào tỉnh Kontum hay vào tỉnh Ban Mê Thuột, nhưng Ban Mê Thuột là chắc hơn để có thể chận đường tiếp viện nếu có từ Pleiku. Tuy không nói rõ thời gian, nhưng ông cho biết chắc chắn là rất gần thôi. Tôi lại sao chép tin tức một lần nữa và cũng xin gặp ngay Tổng Thống Thiệu để trình bày. Lần này, ông Thiệu bảo Đại tá Cầm đích thân trao cho Đại tướng Cao văn Viên. Không biết Tổng Thống có dặn thêm anh Cầm gì nữa không, nhưng, tôi tin chắc Tổng Thống đã đặc biệt chú ý đến tình hình Vùng 2 Chiến Thuật, với sự có mặt của ít nhất 3 sư đoàn bộ binh Bắc Việt trong đó có sư đoàn thiện chiến 308 cùng một sư đoàn thiết giáp và một sư đoàn pháo binh hạng nặng và trung đoàn pháo binh phòng không. Quả nhiên mục tiêu tấn công của Bắc Việt là Ban Mê Thuột vào đêm 10 tháng 3 năm 1975 vào khoảng 3 giờ sáng. Và coi như Ban Mê Thuột chánh thức bị cộng sản chiếm hoàn toàn ngày hôm đó.

…Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên tiếp tục sống ngoắc ngoải sau ngày 10-3-1975 tức là ngày Bắc Việt chiếm Ban Mê Thuột, rồi biến cố đẫm máu trên con đường liên tỉnh lộ 7B, cộng sản Bắc Việt thẳng tay giết dân lành không một tấc sắt trong tay trên đường chạy loạn, trên con đường độc đạo đã bỏ hoang từ nhiều năm sau khi Tổng Thống Thiệu nhắm mắt đánh phé với Hoa Kỳ bằng cách ra lệnh rút bỏ Vùng 2 Chiến Thuật qua một phiên họp ngắn ở Nha Trang với sự có mặt của Đại tướng Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm và Tư lệnh Vùng 2 Phạm Văn Phú. Tôi có mặt ở Nha Trang ngay ngày hôm đó, nhưng không phải để chứng kiến phiên họp cấp cao này, mà để được nghe Trung tướng Phạm Quốc Thuần ở Trung Tâm Huấn Luyện Đồng Đế thuật lại đầy đủ tình hình và diễn tiến của phiên họp lịch sử ngày hôm đó…

Sau khi thua cây phé quá nặng này (mất cả Vùng 2 Chiến Thuật và Quân Đoàn 2), coi như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lần lượt tan rã từ từ mà không có một trận đánh nào từ Huế, Đà Nẵng cho tới Nha Trang… Chỉ còn có Xuân Lộc với những pha chiến đấu anh dũng duy nhất của Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Lữ Đoàn 3 Thiết Giáp, được tăng cường một số đơn vị Biệt Động Quân và Nhảy Dù, với sự yểm trợ tích cực của Không Quân Chiến Thuật trong những ngày cuối tháng 4-1975. Nhưng rồi vì thiếu vũ khí đạn dược, dù có đầy đủ tinh thần chiến đấu, chúng ta vẫn phải cúi đầu với số mạng hẩm hiu của một quốc gia và một quân đội bị đồng minh Hoa Kỳ của mình bỏ rơi một cách bỉ ổi và tàn nhẫn chỉ vì quan điểm của cường quốc đối với quốc gia nhược tiểu: “Quyền Lợi mới là chánh yếu, là trường cửu, còn Đồng Minh chỉ là tạm thời… giai đoạn“.

Ban Liên Hợp Quân Sự chúng tôi bị pháo kích suốt đêm 29-4, từ 9 giờ 30 tối đến rạng sáng hôm sau với hai dãy nhà ngang của hai Khối Nghị Hội và Ngoại Vụ bị cháy dưới sự chứng kiến đầy bất lực của chúng tôi (cá nhân tôi và Đại tá Võ Văn Ba) và với khoảng 10 nhân viên bị thiệt mạng không cứu ra được. May mắn là chúng tôi kịp chạy ra nằm ngay dưới đường rãnh bên đường trước trụ sở Ban Liên Hợp Quân Sự nên đã thoát không bị thương và cũng không bị kẹt trong đám cháy. Do đó như tôi đã nói ở phần đầu là Ban Liên Hợp Quân Sự được chánh thức khai tử ngày 29 tháng 4 năm 1975.

Để kết thúc, xin nói rõ đứa con út của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, là đơn vị Ban Liên Hợp Quân Sự của chúng tôi đã được khai tử ngày 29 tháng 4 năm 1975, đồng thời cuộc đời binh nghiệp của cá nhân Dương Hiếu Nghĩa coi như cũng chấm dứt ngay ngày Quốc Hận 30-4-75 cùng chung với số phận của miền Nam Việt Nam và của tất cả anh chị em trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua sự xâm lăng tàn bạo và trắng trợn của cộng sản Bắc Việt được chuẩn bị rất chi ly từ lâu với bản Hiệp Định Ba Lê 27 tháng Giêng 1973, bằng đường lối bá đạo, bịp bợm và tàn ác trong đó có sự tự nguyện tiếp tay đắc lực của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã quyết định sai lầm là bội ước, phản bội đồng minh, dẫn đến sự bức tử của Việt Nam Cộng Hòa và sự tan rã của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

DƯƠNG HIẾU NGHĨA
(Tiểu bang Washington, 15 tháng 11 năm 2004)

Share this post