Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 2

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 2

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 2
HÀ NỘI ĐÁNH PHÁ UY TÍN CỦA SÀI GÒN

Là một người Việt Nam, tôi đã biết qua cách xử sự của ông Henry Kissinger trước họ rồi, nên tôi nói chuyện đó cho cả người Do Thái và người Ai Cập biết là: Hãy coi chừng phương pháp của ông ta, nguy hiểm lắm, nó không giải quyết được bài toán nào hết mà nó chỉ né tránh vấn đề thôi.

Thời gian đang là tháng Hai năm 1975.

Sự cảnh cáo này đáng được lưu ý, vì đó là lời nói của ông Thiệu — một người không thiếu kinh nghiệm chút nào: năm 1972, ông đụng nhẹ với một Kissinger đang nóng lòng muốn chấm dứt cuộc chiến Đông Dương. Nhận xét của ông Thiệu có vẻ hơi nghiêm khắc và phần nào vì mối hận của một nguyên thủ quốc gia đang bị gài vào quá nhiều khó khăn to lớn. Nhưng sau hai năm thi hành, “Ngừng Bắn” rõ ràng chỉ là ảo tưởng!

Trên lý thuyết, cuộc chiến phải chấm dứt sau khi ký kết Hiệp Định Paris tháng Giêng 1973, nhưng không bao giờ chấm dứt. Cuộc chiến vẫn tiếp tục để thường xuyên giết hại hàng trăm người mỗi ngày, và trong hai năm liền như vậy phải có hơn 150.000 nạn nhân. Và chiến cuộc không nghiêng phần thắng lợi chút nào về phía các đồng minh của Hoa Kỳ. Ở Campuchia, Khmer Đỏ chận sông Cửu Long, cắt đứt đường lưu thông chận các đoàn ghe tàu tiếp tế cho thủ đô Phnom Penh đang bị bao vây và bị bắn hỏa tiễn hằng ngày. Thủ đô này còn sống được là nhờ cầu Không Vận của Không Lực Hoa Kỳ.

Ở miền Nam Việt Nam, lần đầu tiên cán cân quân sự nghiêng về phía cộng sản. Một nhà ngoại giao Nam Hàn làm việc tại Sài Gòn đã nói một cách tức giận: “Nền hòa bình trong danh dự của ông Nixon hả? Nó chỉ là một sự gian lận quái đản của thế kỷ mà thôi!

Đến nay thực sự đã rõ, hình như sau bốn năm và mười tháng thương thuyết hết sức vất vả và chán chường, Hiệp Định Paris chỉ là một cuộc mua bán hớ, hớ quá lớn mà thôi. Nhưng ai mới thật sự có trách nhiệm về sự phá sản của Hiệp Định này? Hoa Thịnh Đốn hay Hà Nội?

oOo

Để đánh giá trách nhiệm của Hoa Kỳ và Bắc Việt, cần trở lùi về dĩ vãng, và trước hết cần tìm hiểu tại sao và bằng cách nào mà hai đối thủ đó đi đến chỗ phải ký vào Hiệp Định Paris.

Cuối tháng Ba 1972, Hà Nội tung ra một cuộc tấn công dữ dội vào miền Nam Việt Nam bằng các sư đoàn thiện chiến có sự yểm trợ của một lực lượng pháo binh khủng khiếp và 700 chiến xa với gần 3000 bộ đội xe tăng vừa qua 5 tháng huấn luyện thực tập ở trường Thiết Giáp Odessa bên Liên Xô. Sau vài thất bại liên tiếp ở địa phương lúc bắt đầu cuộc chạm trán, và mặc dầu có những tiên đoán bi quan nhất, quân lực miền Nam vẫn không sụp đổ. Họ giữ vững phần lãnh thổ của họ một cách đáng khen. Khả năng tác chiến của họ được củng cố rất vững mạnh. Trong vòng 3 tháng (từ tháng 5 đến tháng 7-1972) 84.000 tân binh đã hoàn tất thời gian thụ huấn và kịp thời bổ sung đầy đủ cho các đơn vị bị tổn thất. Sài Gòn thu nhận nhiều tân binh tình nguyện cho các đơn vị tinh nhuệ — Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù và Biệt Động Quân — đến đỗi chính phủ quyết định ngưng trưng binh. Hoa Kỳ cung cấp một hỏa lực yểm trợ rất hùng hậu. Được gởi đến từ Hoa Kỳ để dự trận có các đơn vị chuyên viên Mỹ trang bị hỏa tiễn chống tăng TOWS và các trực thăng võ trang Cobra sát thủ rất đáng sợ cho chiến xa địch. Không Lực Hoa Kỳ sử dụng các loại “bom tinh khôn” hướng dẫn bằng laser hoặc bằng một hệ thống máy truyền hình gắn thẳng vào đầu bom đã đem lại một sự can thiệp hết sức chính xác và hữu hiệu hơn bao giờ hết.

Ngày 8 tháng 5, Tổng Thống Nixon cho thả mìn phong tỏa tất cả các hải cảng Bắc Việt. Từ 18 đến 29 tháng 12, Không Quân chiến lược Hoa Kỳ dội bom Hà Nội và Hải Phòng. Đến ngày thứ 9 của chiến dịch không tập ngắn ngủi nhưng rất dữ dội này, toàn bộ hệ thống phòng không Bắc Việt bị sụp đổ. Tất cả vị trí ra-đa đều bị triệt tiêu, liên lạc vô tuyến điện thoại hoàn toàn rối loạn. Trên thực tế, mọi cố gắng bổ sung hay thay thế 1.200 hỏa tiễn SAM đã được bắn đi trong vòng 8 ngày trước đều coi như không thể thực hiện vì số hỏa tiễn dự trữ đã cạn mà các hải cảng thì bị khóa chặt. Đến đỗi trong hai ngày chót của cuộc không tập, không một B.52 nào bị bắn hạ.

Giả sử cuộc không tập không tự chấm dứt ngày 29 tháng 12  thì gần như các pháo đài bay Hoa Kỳ đã san bằng miền Bắc và có thể Bắc Việt bị hành tội thế nào cũng được. Một chi tiết rất có ý nghĩa: Suốt thời gian Hoa Kỳ leo thang trừng phạt Hà Nội, không nghe thấy một lời chỉ trích hay một tiếng phản đối nào từ phía Mạc Tư Khoa!

Trên trận địa, cuộc tấn công của Bắc Việt đã bị bẻ gãy. Trong 40 tỉnh thị của miền Nam không một nơi nào bị cộng sản Bắc Việt chiếm giữ, trừ tỉnh Quảng Trị mà các đơn vị Nhảy Dù của miền Nam đã tái chiếm sau 6 tuần lễ tác chiến đẫm máu.

Vào lúc TT Nixon cho ngưng cuộc không tập Bắc Việt, không ai còn có thể nghi ngờ về thế thượng phong của Hoa Kỳ trên bàn hội nghị. Thực ra, do sự phản đối của dư luận ở Hoa Kỳ càng ngày càng tăng, và Quốc Hội áp lực buộc phải ngưng ngay hành động của Không Quân chiến lược đã khiến ông Nixon không khai thác được lợi thế trên bàn hội nghị. Do đó, ông không thể giành nổi từ phía Bắc Việt sự nhượng bộ độc nhất có thể giúp thực sự chấm dứt cuộc chiến: Bắc Việt phải rút hết các sư đoàn đã xâm nhập đang trú đóng ở miền Nam.

Trên thực tế, đa số dân chúng Mỹ bị ảnh hưởng bởi các chiến dịch có hệ thống của báo chí, bị xúc động vì các cuộc biểu tình liên tục của các phong trào phản chiến đòi hòa bình và quá mệt mỏi vì chiến cuộc kéo dài, nên ít lưu tâm tới việc tái lập một nền hòa bình “công bằng và vững chắc. Điều mong muốn trên hết của họ là Hoa Kỳ nhanh chóng rút chân khỏi “vũng lầy Việt Nam”, đem các phi công tù binh ở Bắc Việt và tất cả binh sĩ Hoa Kỳ “còn lại ở miền Nam” trở về nhà với họ.

Hà Nội thấy rõ chuyện đó.

Không cần đi sâu vào vấn đề, chỉ với một lời “hứa suông” chấm dứt chiến tranh và đoan chắc trao trả hết tù binh, những con người sắt của Chính Trị Bộ Bắc Việt đã nhận được từ Kissinger những nhượng bộ tối đa.

oOo

Việc ký kết Hiệp Định Paris bảo đảm cho Bắc Việt một loạt lợi thế quan trọng. Thật vậy, Hà Nội đã đạt được:

— sự nghỉ ngơi tức thời cho phép tu bổ những tổn hại lớn lao mà Không Lực Hoa Kỳ đã gây ra cho toàn bộ hệ thống giao thông và phân phối trong nội địa.

— mở lại tất cả các hải cảng bị gài mìn từ 8 tháng trước và tránh khỏi cuộc phong tỏa của Hạm Đội 7 đã khiến mọi tàu bè thuộc khối cộng sản quốc tế không vào được hải phận Bắc Việt. (*)

— lực lượng Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam phải rời khỏi nơi đây trong vòng sáu mươi ngày và phải mang theo mọi chiến cụ.

(*) Hà Nội nhập cảng mỗi năm 1 triệu tấn ngũ cốc từ khối cộng sản quốc tế, không kể thực phẩm khô cho cả quân đội nhân dân.

Ngoài ra, Hà Nội còn tự thấy được thêm một phần thưởng, nhờ ở sự nhìn nhận những “lõm da beo” nổi tiếng, những lãnh địa thực sự thuộc miền Nam nhưng không đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam, bao nhiêu lõm là bấy nhiêu căn cứ xuất phát cho hành động quân sự của các đơn vị Bắc Việt trong tương lai.

Trong khi đó, chính phủ Sài Gòn không được phép đòi hỏi một điều gì cả. Chính phủ này, mỗi khi có cơ hội, chỉ còn bằng lòng với việc lên tiếng phản kháng về sự duy trì bất hợp pháp “một lực lượng xâm lăng cộng sản gồm 170.000 người ở Miền Nam Việt Nam“.

Hoa Kỳ, thỏa mãn vì cuối cùng đã nắm trong tay bản hiệp định về hòa bình “của mình” [nguyên văn: “son accord de paix“], rất lấy làm thích thú về sự khéo léo của ông Kissinger. Một bản Hiệp Định dù là xấu vẫn còn hơn không có bản Hiệp Định nào? (*)

(*) Thật sự là một bản dịch không thiếu một dấu phẩy, từ bản văn tiếng Việt mà tác giả là cộng sản Bắc Việt.

Cảm giác khoan khoái mang đến do sự ký kết hiệp định ngừng bắn và sự trở về như trong chiến thắng của các phi công tù binh, được hoan hô, được choàng vòng hoa và tặng quà… lên cao đến độ khiến nếu có ai đó liều lĩnh nói lên sự dè dặt tối thiểu nào, đều sẽ thấy bị coi như một “thằng khùng” vì chống cộng.

Tuy nhiên chỉ cần nhắc lại là “Hiệp Định năm 1962 về vấn đề trung lập hóa nước Lào“, đối với Bắc Việt không có lý do nào khác và không có kết quả thực dụng nào khác ngoài việc bảo đảm cho họ được sử dụng đường mòn Hồ Chí Minh mà nếu không có con đường này thì không bao giờ họ đưa được quân đội xâm nhập miền Nam để mở nổi các cuộc tấn công chống miền Nam Việt Nam.

Tại Sài Gòn, bài toán về quân số của việc ngừng bắn đã được đặt ra. Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn được thành lập cho nhiệm vụ này có một quân số là 1.160 người thuộc 4 quốc gia: Hung Gia Lợi, Ba Lan, Gia Nã Đại và Nam Dương. Với quân số ít ỏi như thế trên một lãnh thổ bao la đầy những khó khăn về hình thế, Ủy Ban đã bị hạn chế tối đa về khả năng điều tra trong nhiệm vụ quan sát.

Hồi năm 1954, trong các cuộc thương thuyết dẫn đến sự ký kết Hiệp Định Genève, phái đoàn cộng sản Việt Nam đã đòi cho các đơn vị “du kích quân” được đóng lại miền Nam tại những nơi mà họ gọi là “khu giải phóng”. Một cuộc nghiên cứu lúc đó do các chuyên viên quân sự Pháp đã ước tính quân số của Ủy Hội Quốc Tế cần thiết để kiểm soát các khu này phải lên đến 70.000 (!), dù quân số quốc tế  kiểm soát đình chiến này còn nhỏ hơn nhiều so với năm 1973. Đứng trước một khó khăn quá phức tạp như thế, ông Mendès France đã khôn khéo chọn giải pháp chia đôi Việt Nam. Và quân đội Pháp đã đưa hết ra miền Bắc các cán bộ và những đơn vị cộng sản từng hoạt động trong 9 năm ở miền Nam.

Năm 1973, chẳng những các thành viên quốc tế đã quá ít mà Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn còn theo nguyên tắc “nhất trí” của cộng sản nữa. Trên thực tế, điều này khiến Ủy Ban không làm được việc gì cả. Sáng kiến của hai phái đoàn Gia Nã Đại và Nam Dương có thể bị phái đoàn Ba Lan và Hung Gia Lợi ngăn cản bất cứ lúc nào. Không một cuộc điều tra nào được tiến hành riêng lẻ do thành viên của một phái đoàn duy nhất nào đó đơn phương tiến hành. Một số thành viên phái đoàn Gia Nã Đại liều lĩnh đi vào khu vực cộng sản sau một biến cố đã bị bắt nhốt ngay lập tức và bị đối xử như tù binh trong nhiều ngày.

oOo

Từ đầu tháng 3, trắng trợn công khai vi phạm Hiệp Định Ngừng Bắn, cộng sản đã cho xâm nhập chiến cụ nặng và nhiều chục ngàn người vào các vùng thuộc quyền kiểm soát của họ ở miền Nam Việt Nam.

Ngày 15 tháng 3, trong một buổi họp báo, TT Nixon tuyên bố: “Chúng tôi đã nói cho Bắc Việt biết rằng chúng tôi rất quan tâm về những cuộc xâm nhập quan trọng như vậy, cũng như về các hành động vi phạm lệnh ngừng bắn mà Bắc Việt đã ký kết. Bắc Việt không nên xem thường loại quan tâm này của chúng tôi“.

Một tháng sau, Nixon chuẩn bị tái oanh tạc miền Bắc nhưng chính ông đã cho ngưng ngay lệnh đó vào ngày mà John Dean ra làm chứng trước tiểu ban điều tra của Quốc Hội về vụ Watergate.

Tại Việt Nam, cộng sản với quyết tâm ngăn cản mọi công tác kiểm soát tại những vùng mà họ đang xâm nhập và chiếm giữ bất hợp pháp, đã không ngần ngại bất chấp nguy hiểm tổ chức bắn hạ các trực thăng của Ủy Ban Quốc Tế bay đúng tầm của hỏa tiễn với lý do các trực thăng đó “vi phạm vùng trời” của họ (đáng kể nhất là những ngày 1, 7, 9 tháng 4-1973 và ngày 7 tháng 5-1973). Sau đó họ còn nã bích kích pháo và bắn rốc kết vào các thị trấn nào trong những vùng yếu điểm của họ đã có hay dự trù cho các toán Kiểm Soát Ngừng Bắn trú đóng, như Lao Bảo, Vị Thanh, Đức Cơ, Xa Mát, Ben Hét, Tri Tôn. Các toán Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn đã phải rút đi (hai toán Hung Gia Lợi và Ba Lan bỏ đi trước nhất). Trực thăng của Ủy Ban Quốc Tế vẫn đậu tại bãi đáp. Toán Gia Nã Đại ngao ngán quá cũng phải rút theo vô điều kiện. Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn kể như vô hiệu.

Lúc bấy giờ Bắc Việt mới áp dụng chánh sách chuyển dân vào các khu vắng người vừa rơi vào sự kiểm soát của họ. Bắc Việt đã theo đúng chiến thuật “đồn điền” hay di dân chiếm đất do những người Bắc áp dụng từ thế kỷ XV để xâm chiếm và chế ngự nước Chàm. Chiến thuật này gồm việc cho xâm nhập vào đất địch từng nhóm dân quân nhỏ để chiếm đất và làm quen với vùng đó. Nếu người chủ đất đòi tài sản của họ thì người chìếm đất vừa đánh vừa kêu cứu với bộ đội Bắc Việt. Nếu mọi việc êm xuôi hay các khó khăn được giải quyết xong thì một toán khác lại được đưa tới xa hơn chút nữa. Tất cả các toán xâm chiếm đất đai này được nối kết với nhau thành một cấu trúc tỏa rộng ra bắt rễ từ biên giới. Các toán chiếm đất tiến dần tới như các chân bám của vòi con bạch tuộc khổng lồ. Hà Nội núp sau bình phong chính trị của cái gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam (GRP) đã áp dụng đúng phương pháp cũ của tổ tiên nhằm xâm chiếm và với mục đích chuyển các vùng đất vừa đoạt được của miền Nam, của Campuchia và của Vương quốc Lào thành đất Bắc Kỳ, cũng như các “lõm da beo” mà họ đã giành  được từ sau ngày ngừng bắn.

Hà Nội cứ tiếp tục bành trướng các sào huyệt không ai nhìn nhận đó, để lúc nào cũng hợp thức hóa được sự can thiệp của các đơn vị bộ đội Bắc Việt, vì đó là nơi cung cấp tin tức và yểm trợ tiếp vận rất cần thiết cho sự tiến quân trong tương lai…

Trên phương diện chính trị, đối với các quan sát viên không được thông báo trước, những cộng đồng mới được tạo dựng này sẽ giúp cho Bắc Việt trình diễn về số dân chúng đối lập “thực sự” của chế độ Sài Gòn. Nếu có bầu cử thì những cộng đồng này sẽ bảo đảm một số phiếu đối lập. Được tập trung dính liền với nhau và chặt chẽ bảo vệ dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh, những “đồn điền” này thật sự là một vùng bàn đạp được cắm sâu vào giữa miền nam Đông Dương để từ đó các cấu trúc được mở rộng thêm ra.

Lần lần, nhờ các cuộc chuyển dân và đóng các chốt quân sự, các đại đơn vị cộng sản  mới trú đóng được khắp các xóm làng. Đường sá và ruộng đồng được mở rộng thêm ra. Nền hành chánh được thiết lập sau đó. Các cán binh của Hà Nội ngụy trang thành dân chúng, được thúc đẩy lập gia đình tại chỗ với các thiếu nữ miền Nam. Trong hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, cũng như ở Campuchia, có vẻ cộng sản thành công trong kế hoạch này. Tại những vùng ít dân cư, bộ đội được tái hôn với những thiếu nữ từ Bắc được chuyển vào Nam theo kế hoạch này (khoảng 10.000). Đôi lúc tự nguyện nhưng thường thì bị ép buộc (đặc biệt là các nữ y tá, bác sĩ hay giáo viên), những cô gái gốc miền Nam thích lập gia đình với cán binh người miền Nam hơn. Trên thực tế, những cô gái miền Bắc thường lập gia đình với các chàng trai miền Bắc vì những chàng trai này thuộc số đông, và đã có với họ những mối tương quan về ngôn ngữ, phong tục tập quán, và ăn uống. Vài phần tử gọi là “cách mạng” người Nam còn được ở trong những vùng mới chiếm giữ đều đã quá tuổi 40. Một số người già từng được sử dụng trong bí mật, thường là độc thân, được giao trách nhiệm phụ và họ không sống chung đụng với người miền Bắc. Sự chiếm hữu đất đai miền Nam cũng được tiến hành bằng cách chuyển nguyên các làng từ miền Bắc vào. Những người Việt Nam định cư ở Lào và Campuchia từ nhiều thế hệ trước bị dời vào miền Nam hoặc bị tập trung vào ở với những thương binh mà cộng sản Bắc Việt không thể di tản được và những tù binh chiến tranh già yếu được chính phủ Sài Gòn phóng thích, để lập thành những vùng đông dân cư mới, có thể được nâng lên thành “quận lỵ”. Kế hoạch di dân bắt buộc này, sự thành công của hành động xâm chiếm ồ ạt và lặng lẽ, đã liên hệ trực tiếp đến sự vô hiệu hóa các cơ cấu kiểm soát ngừng bắn. Điều này giải thích rõ ràng cách thức mà Bắc Việt đã nhanh chóng và tàn bạo sử dụng để làm cho những thành viên quá tò mò của Ủy Ban Quốc Tế phải đứng xa vùng ảnh hưởng của họ.

Trước chánh sách táo bạo và gây hấn của Bắc Việt,  phản ứng của Hoa Kỳ để bảo đảm thi hành Hiệp Định Paris xét ra cũng không có gì lạ hết. Khi Tổng Thống Nixon thử xin ngân khoản mới cho Campuchia, vào lúc Khmer Đỏ được 2 sư đoàn Bắc Việt tăng cường đang gây nhiều thiệt hại nặng nề cho phía chính phủ thì Quốc Hội trả lời bằng cách buộc Không Lực Hoa Kỳ phải chấm dứt oanh tạc các vị trí cộng sản bắt đầu từ ngày 15-8-1973.

Tháng 11-1973, cũng Quốc Hội này bỏ phiếu chấp thuận Nghị Quyết về Quyền Lực Chiến Tranh, cấm Tổng Thống Hoa Kỳ từ nay nếu chưa có sự chấp thuận của Quốc Hội thì không được phép sử dụng quân lực Hoa Kỳ để phòng thủ “bất cứ phần đất nào của Đông Dương.

Mùa hè 1974, Tổng Thống Nixon từ chức vì vụ tai tiếng Watergate. Lúc đó các Dân Biểu và Nghị Sĩ Quốc Hội mới xem xét kỹ các đơn xin viện trợ do Kissinger trình lên. Họ thấy quá cao nên cắt bớt viện trợ quân sự cho Việt Nam chỉ còn lại phân nửa.

oOo

Lúc này tình hình quân sự ở miền Nam hết sức trầm trọng. Tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa rất lo ngại. Tướng Nguyễn Khắc Bình, giám đốc Trung Ương Tình Báo đã trình cho ông một bản phúc trình dài về tình hình dàn quân của các đơn vị cộng sản Bắc Việt ở miền Nam. Tướng Bình đã viết:

Đe dọa về quân sự của địch hết sức trầm trọng. Trong khi  Hoa Kỳ giảm đến một nửa ngân khoản viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam, Liên Xô đã tăng cường gấp đôi viện trợ chiến cụ của họ và viện trợ tài chánh cho miền Bắc (1 tỷ 700 triệu mỹ kim cho năm 1974).

Bắc Việt đã tiếp tục cho xâm nhập cán binh và chiến cụ từ miền Bắc liên tục sau ngày ngừng bắn. Chúng tôi ước tính lên đến 80.000 cán binh, 600 chiến xa, 500 khẩu pháo và 200 khẩu phòng không, tất cả đều vượt vĩ tuyến 17 không qua các cửa khẩu do Hiệp Định Ngừng Bắn đã ấn định. Ngoài ra, trong số 30.000 tù binh vừa dân sự vừa quân sự được chúng ta trao trả theo đúng các điều khoản của Hiệp Định, thì hai phần ba (2/3) được bổ sung vào các đại đơn vị Bắc Việt  đồn trú trong Miền Nam. Số lượng chiến cụ và sự phân phối cấp phát được tăng thêm gấp bội: các đơn vị đều có phóng pháo xa 122 ly và hỏa tiễn SA.7, 300 khẩu đại pháo 130 và 100 khẩu pháo 152 để tăng cường cho các đơn vị pháo binh tầm xa, và những đơn vị chiến xa T.54 . Quân số cộng sản bây giờ đã vượt quá mức quân số của họ trước cuộc tấn công năm 1972; 310.000 người trong đó có 170.000 cán binh và 60.000 cán bộ chính trị gốc miền Bắc. Bản đồ trận liệt của cộng sản được tái tổ chức như sau: 17 sư đoàn bộ binh với quân số đầy đủ đang đóng trong Nam (7 sư đoàn ở Vùng I từ vĩ tuyến 17 đến Đà Nẵng, 5 sư đoàn ở Vùng II, cao nguyên Trung Phần, 3 sư đoàn ở Vùng III, giữa vùng Mỏ Vẹt tới Sài Gòn, và 2 sư đoàn ở Vùng IV trong đồng bằng Cửu Long và rừng U Minh. Trừ bị thì có 40.000 cán binh Bắc Việt đóng ở Campuchia và 50.000 đóng ở Lào)

Việc ngưng dội bom đã giúp cho Bắc Việt mở rộng và cải thiện tất cả đường giao thông cũ của họ từ phía Nam vĩ tuyến 17, đặc biệt là các tuyến đường dẫn về phía Đông đường mòn Hồ Chí Minh. Các tuyến đường và lộ trình xâm nhập đều được củng cố để có thể sử dụng được suốt 4 mùa. Công tác củng cố chẳng những đạt được bề dài mà cả khả năng lưu lượng của tuyến đường với 1500 xe cam nhông mỗi tuần, đã vượt mức cao nhất cho tới nay. Các đường liên lạc ngang cũng chưa bao giờ được bỏ qua.

Ống dẫn dầu đặt dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh được tăng lên gấp đôi và kéo dài xuyên qua lãnh thổ phía Đông của Campuchia đến tận vùng Mỏ Vẹt, chỉ còn cách Sài Gòn có 80 cây số.

Cuối cùng 12 phi trường đã được thiết lập ở phía Nam vĩ tuyến 17, từ sau khi có lệnh ngừng bắn: 6 trong số đó có khả năng nhận những phi cơ thường, và phi trường Khe Sanh được hỏa tiễn SAM.2 và SAM.3 bảo vệ mạnh mẽ nhất, có thể nhận các phi cơ loại nặng và các Mig 21. Các trực thăng vận tải lớn do Liên Xô chế tạo đã được thấy lên xuống nhiều lần ở các phi trường này. Có nhiều chỉ dấu chính xác cho thấy một cuộc tấn công quân sự quy mô có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tất cả những chuẩn bị đều xem như đã hoàn tất. Những kho dự trữ và các trạm tiếp vận lương thực đã đặt xong, các bệnh viện hậu phương đã bố trí sẵn sàng. Chiến trường cho mỗi sư đoàn cộng sản được tổ chức rất cẩn thận. Các vị trí cho cá nhân, cho từng loại vũ khí, các hầm trú ẩn, các trạm cứu cấp đã được đào và nghi trang rất cẩn thận, các mốc tác xạ đã đặt xong, cự ly xa gần và  máy nhắm cũng được tính toán xong. Về vấn đề này, chúng tôi xin nói thêm là các đường tiến quân dẫn đến tất cả các thành phố miền Trung và miền Đông của chúng ta có lợi thế cho các đơn vị tấn công Bắc Việt là nằm trong vùng rừng rậm, và dựa vào vô số đường mòn do máy ủi đất của những người làm rừng của chúng ta dọn mở ra từ trước. Tất cả các con đường này thường được dùng cho xe vận tải nặng chuyên chở gỗ súc, là những con đường tiến quân rất thuận lợi cho các chiến xa địch. Hệ thống đường mòn chằng chịt đến một lúc nào đó sẽ giúp cho các chiến xa cộng sản thọc sâu nhiều mũi dùi bất ngờ vào tận hầu hết các vòng đai ngoại ô của mọi thành phố.

Sự kiện Hoa Kỳ cắt viện trợ quân sự cho chúng ta đã đưa chúng ta vào một tình thế thua sút rõ rệt. Chúng ta cần phải tiết kiệm đạn dược. Các quân xa và phi cơ của chúng ta chỉ nhận được 50% cấp số xăng dầu so với lúc trước. Thiếu cả cơ phận thay thế, gần 30% Không Lực chúng ta bị buộc phải nằm ụ tại chỗ.

Bị buộc phải giữ từng tấc đất mà không được dẫm chân vào chiến tuyến ngừng bắn, binh sĩ của ta phân tán quá mỏng, trong khi Bắc Việt là kẻ xâm lăng, lại được tự do tập trung lực lượng bất cứ chỗ nào mà họ muốn mà không lo sợ gì về một cuộc tấn công trên lãnh thổ của họ.    

Bắc Việt đe dọa miền Nam trên phương diện quân sự kèm theo áp lực về kinh tế lẫn chính trị. Từ sau khi ký xong Hiệp Định Ngừng Bắn, nhà cầm quyền Bắc Việt làm đủ mọi cách để bẻ gãy nền kinh tế và tinh thần của dân chúng miền Nam. Trước hết là họ vận động nhằm làm nản lòng giới đầu tư ngoại quốc. Để làm việc này, họ mở ra “chiến dịch thảo luận” căn cứ trên 4 đề tài chính:

— một nguyên tắc về pháp lý: Miền Bắc cuối cùng đã thắng miền Nam. Sự khẳng định này được lập đi lập lại hoài không mệt mỏi trong hai mươi năm liền, cuối cùng thì đạt được ảnh hưởng.

— một bằng chứng sai bét về pháp lý kèm theo một đe dọa: “Hiệp Định Paris về Ngừng Bắn đã công nhận Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam (GRP) như là chính phủ hợp pháp duy nhất chính thức của dân tộc Việt Nam, mọi hiệp ước ký kết với chính phủ Sài Gòn đều không có giá trị, và có thể còn bị xem là một xúc phạm với nhân dân Việt Nam.

— duy trì thật sự mối đe dọa quân sự và không khí mất an ninh: An ninh và ổn định chính trị luôn luôn là yếu tố tốt nhất để thúc đẩy sự đầu tư. Làm rối loạn trật tự công cộng và an ninh nội địa, cho thấy lúc nào cũng có mối đe dọa về một cuộc xâm lăng quân sự… tất cả đều ảnh hưởng đến doanh nhân, hơn nữa Âu Châu sống trong thanh bình đã gần 30 năm rồi.

— Sự đầu độc của báo chí Phương Tây: Có lợi cho luận điệu của Hà Nội lúc nào cũng tiên đoán hay thích thú mô tả “sự sụp đổ hiển nhiên không thể tránh” của nền kinh tế miền Nam Việt Nam.

Lập luận cứ thế được mở rộng ra: kinh tế không có giá trị, chính trị bấp bênh, pháp lý bất bình thường và theo cái nhìn lịch sử và viễn kiến chắc chắc thất bại.

Sự tuyên truyền thâm hiểm này hướng về thế giới bên ngoài lại được mở rộng gấp đôi ngay trong nước bằng một loạt hành động trực tiếp nhằm gây xáo trộn và làm sụp đổ sự phát triển kinh tế của miền Nam Việt Nam.

Quấy rối và tấn công đồn bót. Pháo binh bắn phá. Phục kích xe cộ trên các trục giao thông. Từ một năm sau, trung bình hằng tháng, các vụ ám sát tăng từ 22 lên 48, các vụ bắt cóc từ 50 lên 120, các cuộc tấn công từ 200 tăng đến 320. Cộng sản cũng tìm cách làm giảm giá trị đồng tiền của miền Nam, mức tiết kiệm của người dân bị rút xuống vì  sưu cao thuế nặng của Việt Cộng và tiền chuộc nữa. Thuế tài sản và thuế lợi tức, thuế chuyên chở, tù binh muốn được thả cũng phải đóng tiền: 100.000 cho một binh nhì.

Hà Nội nuôi các thành phần xâm nhập bằng cách cho lưu hành tiền giả cùng với chánh sách mua bán phá giá. Cộng sản mua gom gạo ở các chợ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với giá rất cao rồi đưa về tích trữ trong vùng của họ, gây ra một sự thiếu hụt và lạm phát. Khi các hợp tác xã dưới quyền kiểm soát của họ  bán gạo ra thì họ bán với một giá rất thấp so với giá bình thường. Số gạo của hợp tác xã đôi khi là gạo cướp giựt của dân chúng từ Campuchia.

Từ đó chính phủ miền Nam bước vào một thời kỳ nguy kịch. Với ngân sách quân sự và kinh tế của thời bình, chính phủ phải đương đầu với chi phí của thời chiến. Và vẫn còn nửa triệu dân tản cư vì chiến nạn đang chờ được giúp đỡ từ năm 1972.

Hành động giảm viện trợ bất thần từ phía Hoa Kỳ đã kềm hãm tức khắc mọi khuếch trương. Vật giá leo thang với nhịp độ tăng nhanh không thể nói được. Từ tháng Giêng 1973, đồng bạc bị phá giá 8 lần.

(Còn tiếp – Chương 2)

Share this post