Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 1

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 1

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

THƯ GỬI BẠN

Hoàng Hải Thủy là một trong số rất ít nhà văn không rời xa giấy bút từ buổi đầu vào nghề, dù gặp thời thế nào và cảnh sống ra sao. Nếu đúng như anh nói, “viết là hạnh phúc và lẽ sống”, thì anh đã giữ được trọn vẹn hạnh phúc và lẽ sống của mình, bất chấp mọi bão táp, tai ương.
Nhưng hạnh phúc và lẽ sống mà Hoàng Hải Thủy cố giữ và giữ được không hẳn là điều ai cũng mong có.
Trước hết, cái giá phải trả để hạnh phúc luôn nằm trong tầm tay và bản thân không rời xa lẽ sống đã chọn sẽ vô cùng ác nghiệt do thời thế tàn khốc.
Ác nghiệt hơn nữa, sống trong hạnh phúc cũng là tự nguyện đặt mình vào giữa vòng oan khiên cùng cực. Nạn nhân bị hành hạ, thậm chí bị căng xác chặt đầu chỉ phải trải một lần cảm giác đau đớn kinh hoàng. Một lần thôi, rồi dứt hẳn. Riêng nhà văn sống với hạnh phúc của mình không thể hưởng may mắn đó. Nhà văn không chỉ bị hành hình một lần mà liên tục bị hành hình cùng mọi nạn nhân và nối tiếp bị hành hình trước bàn viết khi sống lại với từng nỗi đời thảm khốc đã diễn ra.
Không nhà văn nào có thể thiếu trí tưởng tượng, nhưng cũng như Dostoievski đã nói, không nhà văn nào rời xa nổi những chi tiết vụn vặt trong thực tế xã hội, vì đây chính là chất liệu hình thành cuộc sống của nhà văn. Nhà văn phải sống cùng mọi sự kiện thực tế, hứng khởi với màu sắc tươi hồng, khắc khoải với ý nghĩa ẩn chứa và đau đớn tận cùng với những khổ não tối tăm cho tới khi các sự kiện đó in hằn vết khắc trong tâm não đủ thúc đẩy ngọn bút dâng lên những đợt trào cảm xúc suy tư. Hạnh phúc của việc cầm bút không mang tính đơn thuần thụ hưởng mà chính là cùng tham dự và chia xẻ mọi thăng trầm với tha nhân. Cho nên hơn một trăm năm trước, một nhà văn Hòa Lan, Eduard Decker, đã chọn cho mình bút hiệu Multatuli – kẻ chịu nhiều đau khổ.
Thu hẹp không gian tới mức tối thiểu là thế giới văn học nghệ thuật Việt Nam từ đầu thế kỷ 20, niềm hạnh phúc mà Hoàng Hải Thủy cố giữ và giữ được luôn hực lửa vạc dầu địa ngục. Bên cạnh cảnh sống ngục tù của những nhà văn như Hoàng Hải Thủy và bạn bè anh là cảnh sống ê chề u uất chỉ giữ nổi hơi thở nếu chấp nhận mối ô nhục từ bỏ quyền làm người – cảnh sống mà Hoàng Hải Thủy từng trải hoặc nghe biết qua lời than “làm người khó lắm” của nhà văn Ngô Tất Tố, qua nỗ lực đào thoát bi đát hãi hùng của một cây bút trẻ ở miền Bắc phải nuốt những lưỡi dao cạo vào họng cho ruột gan bị cắt nát…
Nhưng thế giới văn học nghệ thuật Việt Nam không thể hình thành thiếu thực tại xã hội Việt Nam. Cái nền tảng này còn hực lửa vạc dầu địa ngục gấp trăm ngàn lần mức độ vạc dầu địa ngục dành cho giới cầm bút. Người đọc có thể hình dung ra cái vạc dầu ấy qua một chuyện nhỏ trong xã hội Trung Hoa do văn hào Ba Kim kể lại đại lược: “Một nhà làm nghệ thuật ở Bắc Kinh bị những người làm cách mạng văn hóa lôi ra, kết tội câu kết với nước ngoài, phản cách mạng. Ông không thừa nhận nên bị đánh đập, đấm đá rồi roi vọt, gậy gộc đến mức sứt đầu xưng trán và gẫy một chân. Ông không đi nổi nhưng đội chuyên chính vẫn kéo ông ra bêu ngoài phố, quần áo rách bươm, khắp mình bết máu và bùn sình, miệng không ngừng rên rỉ. Hết thảy những người quen đều quay mặt đi khi ông bị kéo ngang qua. Thốt nhiên, một con chó từ giữa đám đông nhảy vọt ra, sủa lên mừng rỡ, chồm đến ngửi khắp mình ông, đưa lưỡi liếm và quờ chân ve vuốt. Nó bị đá văng đi nhưng vẫn quay lại quấn lấy ông. Cuối cùng, đội chuyên chính dùng gậy đánh gẫy hai chân sau con chó. Nó rú lên đau đớn, kinh hãi và phải chịu ngồi lại một xó, nhưng vẫn thảm thiết nhìn theo nhà làm nghệ thuật đang tiếp tục bị lôi đi“.
Trong 5 tập Tùy Tưởng Lục viết khi vào tuổi tám mươi, Ba Kim ghi lại hàng loạt những chuyện như thế và cảm nghĩ của ông: “Tôi làm sao quên nổi những ngày người không ra người, thú không ra thú ấy. Tôi bị phạt làm bò, làm ngựa, tự mình cũng cam tâm ngủ trong chuồng bò. Những kẻ nhân danh Văn Cách chẳng khác sài lang hổ báo, còn hung hăng tàn ác hơn cả sài lang, hổ báo nữa. Ngay bọn trẻ nam nữ mười chín, hai mươi cũng lấy việc dày vò người khác làm vui… Còn bản thân tôi sao lại biến thành ngựa, thành bò? Tại sao người lại biến thành thú như thế?
Cái xã hội mà người biến thành thú đến độ chính những người thân thiết với nhau cũng không giữ nổi cái tình bằng một con chó cũng là xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của một tập đoàn nhân danh cách mạng từ suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Cái xã hội đó bủa vây Hoàng Hải Thủy với cả ba tư cách người dân, người cầm bút và con người.
Viết Ở Rừng Phong là những đợt trào cảm xúc suy tư dâng lên theo những sự kiện thực tế xã hội đó với những vết chém dọc ngang trong tim người cầm bút. Trong cảnh huống này, những dòng chữ mà Hoàng Hải Thủy ghi trên giấy, dù chỉ gợi nhắc một kỷ niệm riêng, chính là lời rên xiết của thân phận nạn nhân, là tiếng thét phẫn nộ của lương tâm trước các cảnh đời tàn ác tới mức phi lý và là tiếng gào lăng mạ mọi mưu toan đê nhục cúi đầu tuân phục những thế lực đang nỗ lực biến con người thành loài thú.
Nói một cách khác, Viết Ở Rừng Phong không đơn thuần là một tác phẩm văn học mà còn là chứng tích của một thời kỳ lịch sử Việt Nam trong đó những người dân lương thiện, những con người đúng nghĩa con người đã bị quật quã dập vùi thê thảm bởi một tập đoàn mà Ba Kim diễn tả là “tàn ác hơn cả sài lang, hổ báo“. Buông trôi cho những chứng tích loại này bị vùi lấp theo năm tháng là lỗi lầm khó tha thứ của người đang có mặt hiện nay đối với các thế hệ mai sau.
Tất nhiên với tương quan bản thân, Hoàng Hải Thủy gần như chỉ gắn bó với thế giới những người làm nghệ thuật Việt Nam. Nhưng cuộc sống luôn bao gồm nhiều lãnh vực sinh hoạt và lãnh vực nào cũng là một phần thực tế của cuộc sống, lãnh vực nào cũng có sự hiện diện của con người. Từ toàn bộ sự sống để nhận thức các lãnh vực hay từ từng lãnh vực để nhận thức toàn bộ sự sống đều là những con đường phải qua khi cần nhận diện sự sống con người trong một thời kỳ nào đó.
Gửi tác phẩm Viết Ở Rừng Phong tới bạn đọc, chúng tôi ước mong có thể góp được một phần nhỏ vào việc lưu giữ những chứng tích về thời kỳ lịch sử mà chúng ta đã trải qua và rất cần được lưu giữ.

Uyên Thao (Tủ Sách Tiếng Quê Hương)

Ai về Hoàng Hải tim vang sóng
Khi Thủy triều dâng có nhớ Người?

Tạp Chí Khởi Hành, số 49, tháng 11-2000, có bài của Phan Nhật Nam: “Bằng hữu, thật sống đủ ngay đây”. Phan Nhật Nam làm thơ chân dung 46 nhà văn, nhà thơ Việt Nam Cộng Hòa.
Lời tòa soạn cho người đọc biết những chữ viết hoa phần lớn là nhan đề các tác phẩm. Căn cứ các nhan đề, người đọc có thể đoán ra người được nhà văn Phan Nhật Nam nói đến là ai. Như:
Ông nuôi Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật
Tháng Giêng chưa mưa Cỏ không mọc
Mang Chúc Thư leo Ngọn Đỉnh Trời
Đành ra ngõ sau, mở chai cô-nhắc
“.
Đó là chân dung nhà văn Mai Thảo, với những tác phẩm Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật, Tháng Giêng Cỏ Non, Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời.
Và:
Mong Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử
Hòa Bình chưa kịp Nghĩ,
Đi tù,
Ba Lính Nhẩy Dù còn Lâm Nạn
Huống gì mỗi thân Kỳ Hoa Tử
“.
Đó là thơ về Nguyễn Mạnh Côn.
Một trong những tác phẩm của anh Côn, viết năm 1956-1957, là Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử, ghi lại cảm nghĩ về tình hình đất nước từ những năm 1945 đến 1954. Sau hiệp định Paris 1973, anh viết Hòa Bình Nghĩ Gì? Làm Gì? Tác phẩm này được tái bản tại Hoa Kỳ. Anh còn là tác giả những truyện Ba Người Lính Nhẩy Dù Lâm Nạn, Kỳ Hoa Tử, Tình Cao Thượng, Mối Tình Mầu Hoa Đào.
Nhà văn nữ Nhã Ca qua thơ Phan Nhật Nam:
Ngày Thơ, Tình Thơ cô cất tiếng hát
Chớp Mắt Một Thời chị Nghe Đại Bác
Phượng Đỏ làm chi, đỏ cả Sàigòn
Thắt Giải Khăn Sô, bà cười hay khóc?

Thơ Phan Nhật Nam về nhà văn nữ Trùng Dương:
Cô bay lên theo Ngàn Cánh Hạc
Vượt Sóng Trùng Dương tìm chỗ Sống
Mưa đi… mưa đi… mưa mãi không vừa
Đất xứ lạ vẫn Chưa giọt Thấm
“.
Tác phẩm của Trùng Dương là Mưa Không Ướt Đất, Ngàn Cánh Hạc.
Và một nhà văn khác:
Quyết vì Tình Yêu cô liều chết
Cầm lòng nhẩy hết Bản Tango.
Như Nghề Làm Vua đâu phải dễ,
Con Mắt không Tím, cũng lên Kinh
“.
Quyết vì Tình Yêu cô liều chết… thì ta biết đây là chân dung nhà văn nữ, có vẻ như là nhà văn nữ Lệ Hằng, tác giả Bản Tango Cuối Cùng.
Nhưng còn những chữ viết hoa Nghề Làm Vua, Con Mắt, Tím, Kinh… thì dường như không phải tên các tác phẩm của nữ văn sĩ Lệ Hằng. Tạp chí Khởi Hành cũng không quyết đoán nhân vật này là ai.
Hoadzinhtân ĐiXi, thường được gọi là Miền Đông Bắc Hoa Kỳ, có 3 nhân vật trong số 46 nhà văn, nhà thơ.
Trước nhất là Uyên Thao:
Ông ÚT Uyên bác, thông Thao lược
Cưỡi ngọn Sóng Thần dâng lớp lớp
Vận nghiệp tù…
Hở ông, sao không rõ?

Uyên Thao chủ trương nhật báo Sóng Thần ở Sài Gòn cho đến ngày tan hàng, tù 12 niên, sang Hoa Kỳ giữa tháng 9-1999.
Nhân vật ĐiXi thứ hai:
Nơi Sông Mã ông xưng Ngô Vương
Đã Toại lòng chưa?
Hóa ra lãnh búa!
Chúng đập đầu ông
Chúng bắn bụng ông
Thoát chết
Diễn Đàn ông nói tợn
“.
Đọc những lời thơ chắc ai cũng biết đó là ông nhà báo Ngô Vương Toại nổi tiếng ở ĐiXi, ông từng chủ trương báo Diễn Đàn Tự Do. Những năm cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970 xa xưa, thời còn là sinh viên ở Sài Gòn, ông đấu tranh vạch mặt bọn sinh viên thân Cộng nên bị chúng bắn vào bụng trong một cuộc mét-tinh.
Và đây là nhân vật Đi Xi thứ ba:
Lờ vờ danh xưng Ký Giả Hạng Bét
Thư từ Miền Đông ngày ngày viết miết
Hết tập thứ nhất, đến tập thứ tư
Bão cứ thổi vùi… Trúc, tre không bứt
“.
Đúng như Phan Nhật Nam nhận xét, ông Ký Giả này chỉ lờ vờ tự nhận là Ký Giả Hạng Bét, đúng ra ông là Ký Giả Hạng Nhất. Ở Hoa Kỳ bi giờ không có ai viết phiếm luận hay và nhiều bằng ông. Hay, nhiều mà có giá trị cả về phẩm và lượng. Thi văn cũng như món ăn – ta vẫn gọi thi văn là món ăn tinh thần – món gì nhiều thường là không ngon. Ông cha ta nói: ” Của rẻ là của ôi, của đầy nồi là của chẳng ngon”. Như những năm 1970, ông ký giả Trọng Tấu ở Sài Gòn xoay ra bán cơm tấm, quảng cáo Cơm Tấm của ông có hai đặc tính: “Rẻ mà No. Nhiều mà Ngon!” Thường thì món ăn nào ta chi ít tiền là ta ăn không no, món nào ta chi ít tiền mà nhà hàng cho ta một ề là món không ngon. Cơm Tấm Trọng Tấu rẻ mà lại nhiều, ăn vừa ngon, vừa no. Những bài phiếm của ông Ký Giả Hạng Bét cũng vậy: Nhiều mà Hay. Thi sĩ Nguyên Sa từng viết: “Văn… lấp lánh kim cương!” Đúng vậy thay!
Đọc Bản Phong Thơ của Phan Nhật Nam, anh Công Tử Hà Đông hồi hộp nghĩ: “Hổng biết mình có hân hạnh được tác giả chi cho vài câu không?” Anh đọc và anh đọc, toàn là thơ về những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thôi, không thấy anh đâu cả. Chắc không có mình rồi. Tờ báo giới thiệu bài viết về 46 nhà văn, nhà thơ nhưng trong bài chỉ thấy có 44 Nhà, 2 Nhà văng đi đâu mất, anh tự an ủi: “Chắc mình ở trong số 2 nhà bị văng ấy!” Đọc mãi đến gần cuối bảng mới thấy:
Cậu Hai khai sinh lão Đốc Nô
Già Móng, Gã Thâm gọi bằng bố
Anh em cùng vợ Công Tử Hà Đông
Chuyên hút Lucky hai hàng số
Đôi bận căng thân nơi Thành Hồ
Còn trái Tạc Đạn cứ cho nổ…
……………………..
Ừ thôi
Vũ Nữ về Bến Cỏ
Sài Gòn vắng bặt dáng Kiều Giang
…”
Có thế chứ! Ít ra mình cũng được xếp vào hàng văn nghệ sĩ VNCH – dù là núp sau lưng các đàn anh, đàn chị, cũng hãnh diện, cũng đỡ tủi thân. Vẫn biết mình không có tài, dù có làm 500 bài thơ tình, viết 1000 truyện dài, 2000 truyện ngắn, in 250 tác phẩm, tổ chức 624 buổi ra mắt sách có ăn nhậu, mình cũng chỉ làm cho đời tốn giấy mực thôi, vẫn không được nhận là văn sĩ, thi sĩ. Nhưng chẳng gì mình cũng viết truyện, mần thơ từ những năm 1952, 1956, những năm ấy nhiều ông văn nghệ sĩ nổi tiếng bi giờ đang cắp sách đi học, nhiều ông hãy còn trinh, nhiều ông chỉ mới biết may tay có lời, mình hì hục viết từ thời nhiều bà nữ văn sĩ, nữ thi sĩ hôm nay còn mặc quần hổng đít. Dù chẳng hay, tức là Rẻ mà Không Ai Ưa, Nhiều mà Dở Ẹt, nhưng vì lý do nhân đạo cũng cho Mầm Già Văn Nghệ vài câu an ủi cho đỡ tủi thân chứ.
Yên trí có mình rồi, tôi nghĩ đến chuyện trong Bảng Phong Thơ 46 Nhà Văn, Nhà Thơ của Phan Nhật Nam còn thiếu vài người nên có Thơ.
Phải nói ngay Phan Nhật Nam làm thơ về mấy chục văn nghệ sĩ như thế là hay, là có tình lắm rồi. Không ai có thể nhớ hết, quen thân hết tất cả và làm được thơ về tất cả văn nghệ sĩ VNCH. Nhưng còn thiếu thì ta cũng phải nói là còn thiếu thôi, như có Nguyễn Hải Chí (Chóe), Nguyễn Thụy Long, hai người hiện sống ở Sài Gòn mà không có Chú Tư Cầu Lê Xuyên, Tú Kếu Trần Đức Uyển, Phan Nghị, Dương Nghiễm Mậu là những người viết VNCH cũng đang sống ở Sài Gòn. Có Nhã Ca, Trùng Dương mà thiếu Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng v.v… Và thiếu Thuyền Trưởng Hai Tầu Văn Quang, tác giả Chân Trời Tím, Tiếng Khóc Học Trò v.v…
Nếu tôi làm thơ về văn sĩ Văn Quang theo cung cách làm thơ của Phan Nhật Nam, thơ sẽ như vầy:
Không Hàng Hải, mang danh Thuyền Trưởng,
Hai Tầu không chịu, đòi Năm Tầu.
Tên tuổi đi vào Văn Học Xưởng,
Chẳng sống cùng ai đến bạc đầu.
Tù mười mấy niên, chưa đã, không Hát Ô.
Ở lại Thành Hồ vẫn ngúc ngoắc.
Thuyền Trưởng bỏ tầu theo nữ hải tặc?
Tội đáng lôi ra… Tùng… Bi… Li… Cắc.
Phắc!

Tôi vinh danh Văn Quang là Thuyền Trưởng Hai Tầu, ông không chịu. Ông nói gọi Thuyền Trưởng Hai Tầu là hạ giá ông, ông là Thuyền Trưởng Năm Tầu lận. Nghe nói mới đây ông còn tự phong Thuyền Trưởng Bẩy Tầu. Tất nhiên là không làm gì có chuyện bi thảm chỉ vì cái tội bỏ tầu theo nữ hải tặc mà ông Thuyền Trưởng Đa Tầu bị tùng bi li – ông nói ông không bỏ tầu bao giờ, ông bị các bà chủ tầu đuổi sở, cho nghỉ việc, ngôn từ Mỹ là “lê óp”. Nhưng nếu ông có bị tùng bi li thật, các bạn của ông trong số có tôi, vì thố tử hồ bi, cũng đến tiễn đưa ông lần cuối. Ông Quang Dù Vũ Thế Quang sẽ hô “Phắc!” để chúng tôi nghiêm chào Thuyền Trưởng.
Và còn thiếu nhà thơ Thái Thủy. Tôi được hân hạnh quen biết Thái Thủy năm 1955, khi tôi từ Sài Gòn bay ra Hải Phòng để về thăm Hà Nội Đỏ. Đầu năm 1955, Việt Minh mới chỉ về Hà Nội, Hải Phòng vẫn thuộc phe ta. Thái Thủy có mẹ già ở lại miền Bắc. Vào Nam, anh làm bài thơ được phổ nhạc – không nhớ người phổ nhạc là Đan Thọ hay Đan Phú – bản nhạc nổi tiếng những năm 1956, 1957, bài thơ có mấy câu:
Mẹ ơi! Thôi đừng khóc nữa
Cho lòng già nặng sầu thương
Con đi say tình viễn xứ
Đâu có quên tình cố hương
…”
Thế rồi ở Sài Gòn những năm 1960-61, thi sĩ làm bài thơ tình đăng trên tạp chí Hiện Đại của ông Nguyên Sa. Bài thơ hay thiệt là hay nhưng trí óc ngu độn, không nhớ hết được cả bài, tôi chỉ nhớ hai câu tôi cho là hay nhất:
Hạnh phúc như con lươn
Trườn khỏi tay người bắt vụng về
…”
1955-1975…
Thời gian vỗ cánh bay như quạ“. (Tchya)
Những ngày như lá, tháng như mây“. (Thanh Nam).
Hai mươi năm sau, ông thi sĩ Thái Thủy chống Cộng làm sao trong Đài Phát Thanh Quốc Gia VNCH mà nón cối, giép râu, răng cải mả, tóc bím… lền khên kéo vào Sàigòn. Nhà thơ Lươn Om của tôi bị bắt đi tù mút chỉ cà tha. Các bạn ông đổi thơ của ông cho hợp thời, hợp cảnh, tức hiện đại hóa thơ ông.
Năm 1954, ông nhắn mẹ đừng khóc, năm 1975 bà mẹ nhắn ông;
Con ơi… Thôi đừng khóc nữa
Cho lòng già nặng sầu thương
…”
Thái Thủy đi tù hơn mười năm. Khi ông từ Trại Gia Trung – Gia Lai trở về, tôi đang nằm ấp lần thứ hai nên không nhớ ông về năm 1986, hay 1987. Năm 1990 ông lại bị công an Thành Hồ mang xe bông đến rước vào ăn cơm dài hạn, ngồi rù gãi háng ở Số 4 Phan Đăng Lưu. Theo tôi biết, ông bị bắt vì cùng hai ông Mai Trung Tĩnh, Vương Đức Lệ liên can đến bác sĩ Nguyễn Đan Quế, nhưng khi ViXi Thành Hồ đưa ba ông ra tòa xử năm 1993 lại ghép ba ông vào vụ ông Đoàn Viết Hoạt. Vì vụ này ông lại ở tù 4 niên, năm 1995 ông ra tù, năm 1998 ông Hát Ô sang Hoa Kỳ. Nếu tôi bắt chước Phan Nhật Nam làm thơ về thi sĩ Thái Thủy, thơ sẽ như sau:
Chàng ơi… Thôi đừng khóc nữa
Cho lòng Em nặng sầu thương.
Chàng đi tìm đường cứu nước
Chàng làm mất trọn quê hương.
Ầu ơ… ví dầu…
Dù chàng trăm khéo, ngàn khôn
Tay chàng đeo Còng Số Tám
Thì lươn, thì chạch nó chuồn mất tiêu.
Xin chàng chớ lấy làm điều
“.
Và đây là thơ về Chú Tư Cầu Lê Xuyên:
Giữa Thành Hồ dâu biển tang thương
Vỉa hè Bà Hạt thuốc lá lẻ.
Nguyệt Đồng Xoài cùng Vợ Thầy Hương
Bỏ Rặng Trâm Bầu, sang Mỹ, lấy Mỹ.
Cu ky trong Vùng Bão Lửa
Chú Tư Cầu đi đâu, về đâu?

Từ 1960 với tác phẩm đầu tay Chú Tư Cầu nổi tiếng ngay, Lê Xuyên viết thật đều, thật nhiều, tiểu thuyết được in thành sách cũng thật nhiều, trong thơ có tên những tiểu thuyết của Lê Xuyên được tái bản ở Hoa Kỳ: Nguyệt Đồng Xoài, Vợ Thầy Hương, Rặng Trâm Bầu, Vùng Bão Lửa.
Chú Tư Cầu Lê Xuyên thân mến của chúng tôi đã từ trần trong năm 2003.
Và đây là thơ Thanh Nam:
Buồn như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa.
Trăm hận, ngàn đau trong đáy mộ
Có bao giờ hết nhớ quê xưa?
………………………
Trăm hận, ngàn đau nào sánh được
Tấm lòng lưu lạc nhớ quê hương…
Gửi thân lữ thứ trăm miền
Nỗi buồn nào cũng mang tên Sài Gòn
…”
Thơ Chân Dung hay phải ngắn, bốn câu là hay nhất, thơ không nhắc tên mà người đọc vẫn nhận ra là ai.
Dưới đây là mấy bài thơ tôi làm không với ý định là Thơ Chân Dung nhưng chắc các bạn cũng biết người trong thơ là ai:

* Giã Từ Hà Nội Đêm còn nhớ?
Bẫy Ngầm ai biết chuyện bây giờ.
Buồn như Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật
Về Đỉnh Trời xem lại Chúc Thư.

* Tóc chia hai thứ trên đầu
Thương thì đã muộn, mà sầu lại dư.
Này Lê, này Nguyễn đều hư.
Nắng Chiều mà gặp trời mưa thì phèo.

* Em buồn Em bỏ đi đâu?
Sao Em để tiếng Em sầu ở đây?
Thu vàng hạc lánh về tây,
Lệ rơi từng tiếng Thu này, Em ơi.
Từ Em góc biển, chân trời
Em còn tiếng hát yêu người không Em?

* Thăng Long từ độ Thanh hồng hảo
Tình khúc, thương ca động đất trời.
Tà áo xanh ngời hương mộng ảo.
Đồi tím, hoa sim gió ạ ời…
Lâu đài tình ái trăng thu thảo
Đa-nuýp dòng xanh vẫn nhớ Người!

Xin trở lại với Bản Phong Thơ của Phan Nhật Nam:
Cậu Hai khai sinh lão Đốc Nô
Già Móng, Gã Thâm gọi bằng bố
Anh em cùng vợ Công Tử Hà Đông
Chuyên hút Lucky hai hàng số
Đôi bận căng thân nơi Thành Hồ
Còn trái Tạc Đạn cứ cho Nổ!
………………………
Ừ thôi…
Vũ Nữ về Bến Cỏ
Sài Gòn mất bặt dáng Kiều Giang
“.
Cậu Hai khai sinh lão Đốc Nô. Năm 1965, tôi phóng tác tiểu thuyết Doctor No của Ian Fleming, tên Việt là Thầy Nô. Đây là lần thứ nhất điệp viên James Bond, bí số 007, xuất hiện trên báo Tiền Tuyến dưới tên Việt là Hoàng Giang. Già Móng là nhân vật trong truyện Người Yêu, Người Giết, truyện Gã Thâm phóng tác theo The Deep của Mickey Spillane. Phan Nhật Nam cho Già Móng và Gã Thâm gọi tôi bằng bố. Ta có anh em cùng mẹ, khác cha, anh em cùng cha, khác mẹ, anh em đồng hao, anh em cột chèo v.v… Anh em cùng vợ chỉ là một người có hai tên. Như Quang Dù là anh em cùng vợ với ông Vũ Thế Quang, Thanh Nam là anh em cùng vợ với ông Trần Đại Việt, Nhất Tuấn là anh em cùng vợ với ông Phạm Hậu, Chú Tư Cầu là anh em cùng vợ với hai ông Lê Xuyên, Lý Bỉnh Tăng… Tôi là người đặt ra tiếng “anh em cùng vợ”. Về thuốc lá, ngày xưa tôi hút Lucky Ba Hàng Chữ – “chữ”, không phải “số”. Phan Nhật Nam nhớ cả tên truyện Nổ Như Tạc Đạn ngày xửa, ngày xưa của tôi – anh nhắc lại một truyện ngày xưa mà chính tôi đã quên! Thật cảm khái. Vũ Nữ Sài Gòn về Xóm Cỏ, tức là về nghĩa địa, đúng hơn là về Bến Cỏ. Sài Gòn vẫn còn Kiều Giang. Mỗi lần phim Jane Eyre chiếu ở Sàigòn, người ta vẫn quảng cáo là phim Kiều Giang. Chuyện này đã xẩy ra mấy lần kể từ 1975.
Khoảng 1972-73 tôi viết Như Chuyện Thần Tiên đăng trên báo Sóng Thần. Lúc này Sóng Thần không đăng truyện Kim Dung nên Tú Kếu nói với tôi:
– Không còn Kim Dung, đọc Như Chuyện Thần Tiên của mày vậy.
Phan Nhật Nam nói với tôi:
– Lúc Diễm Lan bị chết dưới biển, Hoàng Giang một mình trở lên du thuyền, vào ca-bin thấy toàn mùi Diễm Lan. Thật đúng. Hồi em lên Pleiku tìm vợ em, em vào đúng phòng nó. Lúc ấy nó không ở trong phòng, em ngửi thấy toàn mùi nó. Em điên lên đập phá tan hoang…
Diễm Lan, Hoàng Giang là đôi tình nhân trong Như Chuyện Thần Tiên.
Nam ơi, Nam có nhớ Nam nói với tôi như thế ở Sài Gòn của chúng ta khoảng 1972-73 không?
Những năm 1980 u tối, tuyệt vọng ở Thành Hồ, tôi làm bài thơ kể tên những tiểu thuyết tôi đã viết:
Như Chuyện Thần Tiên đã hết rồi,
Máu Đen, Vàng Đỏ chẩy không thôi.
Đỉnh núi Kiều Giang nghe Gió Hú,
Bẫy Yêu sập xuống, Gã Thâm ngồi.
Ngoài Cửa Thiên Đường sầu chất đống,
Sài Gòn Vũ Nữ nhớ thương ơi!.
Nửa Kiếp Giang Hồ tình vẫn mộng,
Còn nét Môi em Thắm Nửa Đời.
Người Yêu em có Đi Tìm bóng?
Chiếc Hôn Tử Biệt lạnh vành môi.
Định Mệnh An Bài, ai tuyệt vọng?
Tầng Đầu Địa Ngục, lệ nào rơi?
Bây Giờ Tháng Mấy, đời ngừng đọng,
Bóng Tối Đen Hơn một nửa trời.
Ai về Hoàng Hải tim vang sóng,
Khi Thủy triều lên, có nhớ Người?

Tên những truyện tôi viết, đa số là tiểu thuyết phóng tác: Như Chuyện Thần Tiên, Máu Đen Vàng Đỏ, Đỉnh Gió Hú, Kiều Giang, Bẫy Yêu, Gã Thâm, Ngoài Cửa Thiên Đường, Vũ Nữ Sài Gòn, Nửa Kiếp Giang Hồ, Môi Thắm Nửa Đời, Đi Tìm Người Yêu, Chiếc Hôn Tử Biệt, Định Mệnh An bài, Tầng Đầu Địa Ngục, Bây Giờ Tháng Mấy, Đen Hơn Bóng Tối.
Nếu tôi làm Thơ Chân Dung tôi, tôi lấy sáu câu:
Nửa Kiếp Giang Hồ tình vẫn mộng
Còn nét Môi Em Thắm Nửa Đời.
Bây Giờ Tháng Mấy, đời ngưng đọng.
Bóng Tối Đen Hơn một nửa trời.
Ai về Hoàng Hải tim vang sóng,
Khi Thủy triều dâng có nhớ người?

(Hết Chương 1)

Share this post