Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 12

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 12

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 12

Chưa cầm lên nếm anh đã biết là bánh vẽ,
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối đêm vui…

Nghe nói bài thơ ngắn trên đây của anh Chế Lan Viên, một trong những anh thi sĩ Cô Đầu đê tiện nhất của Bắc Cộng, được thân nhân của anh phổ biến sau khi anh chết. Thơ anh làm nhưng anh cất kín, anh không dám cho ai biết, chỉ khi anh chết rồi vợ con anh mới thòi ra. Trong một số bài phiếm luận trên những tờ báo Việt ở hải ngoại đôi khi thấy có kể bài thơ trên của họ Chế, với lời phẩm bình “dù sao Chế Lan Viên cũng đáng khen“, có khi còn “thán phục sự ngay thẳng” của họ Chế!

Đáng khen, ngay thẳng” con khỉ mốc!

Chế Lèn Vèn là tên đáng khinh nhất trong bọn văn thi sĩ Cô Đầu Bắc Cộng.

Ở Sài Gòn, thủ đô nước Việt Nam Cộng Hoà, những năm 1960, giới văn nghệ sĩ có câu “cô đầu tân nhạc” – hình như câu “cô đầu tân nhạc” là do văn sĩ Thanh Nam đặt ra. Thanh Nam qua đời lâu rồi ở Seattle, nơi được gọi là “túi mưa” của Hoa Kỳ. Nghe nói ở Seattle một năm 365 ngày có đến 300 ngày mưa. Câu “cô đầu tân nhạc” ra đời do những năm 1960 Sài Gòn có những cái gọi là “phòng trà” nhưng khách đến đó không uống trà mà uống nước ngọt, la-ve, cà phê, rượu và để nghe – nghe ít nhưng để nhìn thì nhiều – nữ ca sĩ hát, nhưng không được nhẩy nhót vì phòng trà không phải dancing. Năm 1961, vì lý do chiến sự lan rộng, tình hình bất an, Việt Cộng gây bạo loạn, quân nhân đổ máu bảo vệ đất nước, nhân dân tang tóc, đất nước tang thương, bọn dân Sài Gòn đẻ bọc điều vẫn ăn chơi quá cỡ thợ mộc. Để hạn chế mức độ ăn chơi của bọn Sài Gòn có tiền, chính phủ đóng cửa các nhà nhẩy đầm. Bọn ăn chơi Sài Gòn không được nhẩy nhót nữa, tối tối mò đến những phòng trà nghe nhạc cho đỡ vã. Trong việc nghe nhạc có việc nhìn ngắm các em ca sĩ nhún nhẩy trước micro. Tình cảnh giống như cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, mấy ông Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Dương Lâm đi hát cô đầu. Vì vậy mới có câu “ca sĩ cô đầu” để gọi các em ca sĩ chuyên hát ở những cái gọi là phòng trà.

Những năm 1980 trong văn chương Việt lưu vong ở hải ngoại có tiếng “văn sĩ cô đầu”. Tiếng ấy của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, trong bài thơ về Hồ Chí Minh:

“…Đến thằng Mác
Tổ sư Bác!
Cũng chưa được tôi nguệch ngoạc vài câu
Thôi hơi đâu
Mặc thây bọn văn sĩ cô đầu
Vuốt râu, xoa đầu, mơn trớn Bác…

“Văn sĩ cô đầu” là những tên “vuốt râu, xoa đầu” Hồ Chủ Tịt! Tên “văn sĩ cô đầu” cao cấp nhất của bọn văn thi sĩ cô đầu Bắc Cộng là tên làm những câu thơ cô đầu này:

Bàn tay con nắm tay cha
Bàn tay Bác ấm vào da, vào lòng.
Bác ngồi đó, lớn mênh mông
Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng, nước non
Bác Hồ, cha của chúng con
Hồn của muôn hồn
Cho con được ôm hôn má Bác
Cho con hôn mái đầu tóc bạc
Hôn chòm râu mát ruợi hòa bình…

Tố Hữu là tên Đầu Xỏ bọn văn thi sĩ Cô Đầu Bắc Cộng. Chế Lèn Vèn là tên văn thi sĩ Cô Đầu đàn em của Tố Hữu. Suốt một đời, cho đến lúc chết, Chế Cô Đầu được Tố Hữu nâng đỡ, ban ân huệ. Chế Cô Đầu ca tụng Đảng Cộng Sản hết lời, bợ đít đàn anh Tố Hữu hết mức.

Alexandre Solzhenytsin từng viết “Sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa hết thẩy người dân đều bị ít nhất một lần tù trong đời“.

Trong tiểu thuyết “The First Circle – Tầng Đầu Địa Ngục,  Solzhenytsin tả cảnh những người tù ở nước Nga – tất cả những người tù này đều nhìn nhận là có, là đúng tình trạng “sống dưới chế độ cộng sản hết thẩy người dân đều bị tù ít nhất một lần trong đời”. Họ tranh luận với nhau về vấn đề “nếu nhất định phải đi tù ít nhất một lần trong đời thì nên đi tù lúc trẻ hay lúc già? “. Nói cách khác, nếu không thể tránh được việc đi tù thì đi tù lúc trẻ hay đi tù lúc già tốt cho người ta hơn?

Bánh xe lãng tử sang Kỳ Hoa Đất Trích, tôi đọc được câu này của Solzhenytsin: “Khi nghe thằng cộng sản nói láo, ta phải có can đảm đứng lên nói nó nói láo. Nếu ta không có can đảm đứng lên nói nó nói láo, ta phải có can đảm đi ra khỏi chỗ đó. Nếu ta không có can đảm phản đối bằng việc bỏ đi không nghe nó nói láo, nếu ta phải ngồi lại nghe nó nói láo, ta phải có cái lương thiện không nhắc lại với người khác những lời nói láo của thằng cộng sản.

Solzhenytsin nói hay quá!

Song phải là những người từng sống ở những nước bị cộng sản chiếm quyền mới thấm thía câu nói ấy. Những người như tôi phải sống 19 năm 6 tháng ở Sài Gòn sau ngày 30 Tháng Tư 1975, trong số năm tháng ấy có 8 mùa lá đổ ngồi rù trong nhà tù cộng sản, tôi rất thấm câu nói của Solzhenytsin. Tôi từng nghe bọn cộng sản nói láo quá chời, quá đất, mà vì sợ chúng bỏ tù, sợ khổ, tôi cứ trơ mặt mốc ngồi tễu ra nghe chúng nó nói láo. Khi nghe thằng cộng sản nói láo, tôi không có can đảm đứng lên nói nó nói láo, tôi không có can đảm bỏ đi không nghe nó nói láo. Nhưng ít nhất tôi cũng có cái lương thiện là nếu kể cho người khác nghe những lời thằng cán cộng nói láo, tôi kể với lời phụ đề Việt ngữ “Nó nói láo như vầy như vầy… nghe được không…?

Anh văn sĩ Cô Đầu Chế Lèn Vèn không có cái lương thiện ấy. Khi thấy bọn Cán Cộng nói láo – trong bài thơ cóc nhái của y lời nói láo là cái bánh vẽ – bánh vẽ mà nó bảo là bánh thật, không những y không có can đảm nói đó là bánh vẽ, không những y không có can đảm quẳng cái bánh đi, không những y không có can đảm bỏ đi chỗ khác, y còn hí hởn ngồi vào bàn với bọn nói láo. Y ăn ngon lành cái bánh vẽ đó, y tán tụng đó là bánh thật, không chỉ là bánh thật mà còn là bánh thật ngon. Y về hùa với bọn cộng sản khi chúng đàn áp, mạt sát, hành hạ, bôi xấu, bỏ tù những người có can đảm nói chúng nói láo, những người dám nói cái bánh chúng đưa ra là bánh vẽ. Những tên văn nghệ sĩ cô đầu hèn hạ như Chế Lèn Vèn đáng khinh chứ đáng khen ký gì!

Những người Việt khốn khổ khốn nạn ở Xứ Bắc Cộng có một cách đối phó với bọn cộng sản mà họ cho là hay. Đó là vào buổi họp cứ ngồi ì không phát biểu ý kiến, ý cò gì, ngồi ì để rồi đồng ý với những quyết định của bọn cộng sản. Họ đưa thái độ chống đối thụ động ấy vào câu “thứ nhất ngồi lì, thứ nhì đồng ý“. “Ngồi lì” không đúng hẳn, “ngồi ì” mới đúng. Họ cho thái độ đó là hay, họ không biết rằng bọn cộng sản chỉ cần họ ngồi ì như thế, họ ngồi ì là chúng thắng.

Năm 1976-1977, tôi thấy một bài thơ của Chế Lèn Vèn. Thơ bẩy tiếng, tám câu. Họ Chế đi công tác, tất nhiên bằng ô-tô nhà nước, qua biên giới Lào, đứng trước mấy nấm mồ binh sĩ Bắc Cộng ở đất Lèo, y nói với người nằm dưới mộ: “Chết ở đây cũng tốt thôi, đây cũng là đất anh hùng…

Tôi nghĩ đến lời thơ của những thi sĩ Tầu đời xưa: “Đâu cũng là đất Nhà Vua…” Đang buồn thúi ruột, rầu thúi gan, bài thơ của Chế Cô Đầu làm tôi nghĩ đến người thanh niên xấu số bị cộng sản bắt rời khỏi làng quê, bị bắt đi để chết thảm, chết vô ích ở biên giới, những người lính “dãi dầu không bước nữa, gục trên súng mũ bỏ quên đời…” Binh sĩ chưa ra trận, chỉ mới trên đường đi đã chết cả đống vì bệnh, vì kiệt sức, “rải rác biên cương mồ viễn xứ, chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, áo bào thay chiếu anh về đất…“. Sợ nó chôn không bó chiếu mà áo nó lột lại, binh sĩ mà gục trên súng mũ bỏ quên đời thì còn đánh đấm cái gì. Người trẻ tuổi chết nằm dưới mộ lạnh khi nghe Chế Lèn Vèn nói “chết chỗ nào cũng tuốt thôi,  đất này cũng là đất anh hùng, anh ta có thể chửi:

– Đ.M. mày. Bố mày chưa được hưởng gì, chúng mày bắt bố mày đến đây để bố mày chết ở đây. Mày mà nằm dưới này, bố mày đứng trên đó, bố mày nói câu mày vừa nói, xem mày có điên lên không!

Tháng Ba năm 1976, công an Thành Hồ mở cuộc bắt giam những văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Tháng 5, tháng 7 cùng năm ấy bọn Việt Cộng mở hai khoá học tập gọi là Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị cho số văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa chưa bị bắt. Những anh, những chị văn nghệ sĩ Sài Gòn vác mặt mo, vác mặt mẹt đến dự hai khóa học tập ấy.

Trong Khoá Bồi Dưỡng II, Huy Cận, Chế Lèn Vèn đến nói chuyện. Buổi nói chuyện của Chế Lèn Vèn được tổ chức ở rạp xi-nê Olympic đường Hồng Thập Tự. Phòng không đủ ánh sáng, họ Chế gầy nhom, khặc khừ, ngồi bàn vừa nói vừa ghé miệng uống ly la-dze để trên bàn, phát ra những tiếng suỵp soạp, chuỵp choạp nghe rất ruồi bâu. Hôm ấy, Chế Lèn Vèn nói về đề tài “Người nghệ sĩ đi theo Đảng. Y ca tụng Đảng hết lời. Với y, Đảng là nhất. Cũng như Tố Hữu, y nói đời y chỉ có giá trị, y chỉ sống từ khi đời y có Đảng, thơ của y hay hơn từ khi y đi theo Đảng. Trong lúc y ca tụng Đảng như thế thì trong bóng tối, y làm thơ chửi Đảng nói láo. Người như y là người đê tiện, đểu giả, hèn hạ, làm sao có thể khen được!

Văn thi sĩ Cô Đầu Bắc Cộng thì có quá nhiều, lổm ngổm như rận. Chỉ nên điểm qua vài anh nổi tiếng. Như thi sĩ Cô Đầu Nguyễn Béng.

Anh này trước năm 1954 tên là Nguyễn Bính. Đây là bài thơ Vuốt Râu, Xoa Đầu Hồ Chủ Tịt, “Thư gửi về cha“, do thi sĩ Cô Đầu Nguyễn Béng làm ở Đồng Tháp Mười năm 1953:

Cha già phương Bắc xa xôi
Lần tay tính lại tuổi người sáu ba
Có ai về tới Cha Già
Dừng chân tôi gửi kính Cha đôi lời
Một vầng nhật nguyệt sáng soi
Cứu dân thoát khỏi cuộc đời tối tăm
Trước con khổ cực nhọc nhằn
Nhờ Cha nay mới nên thân, nên người
Nhờ Cha lấp biển, vá trời
Đổi đời Kiệt Trụ ra đời Thuấn Nghiêu
Quản chi lên thác, xuống đèo
Có Cha vững lái, con chèo chắc tay
Cha chia ruộng đất con cày
Trao gươm con giết thằng Tây bạo tàn
Công Cha hơn núi Thái Sơn
Tình Cha hơn nước trong nguồn chảy ra!
Nghìn năm một thuở có Cha
Đời đương hạn hán, Cha là trời mưa
Thương Cha biết mấy cho vừa
Ơn Cha tới chết con chưa đủ đền
Con lùi Cha dắt con lên
Con hư Cha dậy, con nên Cha mừng
Đố ai quét sạch lá rừng
Đố ai xúi giục con đừng theo Cha
Từ Cha xây dựng sơn hà
Danh vang bốn biển, đức lòa năm châu
Con giờ gian khổ đến đâu
Vững tin vì biết trên đầu có Cha
Muôn năm Cha mãi không già
Cha là hạnh phúc, Cha là tương lai!
Thưa Cha, giấy ngắn, tình dài
Viết bao nhiêu vẫn chưa hài lòng con
Còn trời, còn nước, còn non
Nước non còn đó con còn thờ Cha!

Thơ Vuốt Râu, Xoa Đầu Hồ Chủ Tịt đến thế là phi-nỉ lô đia kiêm phi-ní lỗ đía, hết nước nói. Nhưng cũng tội nghiệp thôi, tội nghiệp quá chời! Người từng làm những câu thơ để đời: “Trời mưa ướt áo làm gì? Năm mười bẩy tuổi chị đi lấy chồng. Người ta pháo đỏ, rượu hồng… Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. Một người chín nhớ, mười mong một người. Gió mưa là bệnh của trời. Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng… Cậy em em ở lại nhà. Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương…, người thi sĩ xử dụng tiếng Việt tuyệt vời đến thế, một Nguyễn Du nho nhỏ của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20, vì lẽ gì lại sa đọa đến cái độ làm những câu thơ bợ đít thảm hại như thế?

Rõ ràng chỉ vì không may phải sống dưới ách kìm kẹp cộng sản nên mới hóa thân từ một thi sĩ trữ tình thành thứ Thi Sĩ Cô Đầu khốn nạn!

Trong hồi ký “Hỏa Lò“, Nguyễn Chí Thiện nhắc tới một trường hợp hóa thân nhơ nhuốc khác:

“…Từ khi Đông Âu tan, rồi Liên Xô đổ, anh (Phùng Cung) không còn quỳ gối, chống tay, vẫn còn sợ ngã nữa, mà ngang nhiên đương đầu với mọi hiểm hoạ. Năm 1992, anh và Phùng Quán tổ chức mừng thọ bác Nguyễn Hữu Đang 80 tuổi (tuổi ta). Anh viết thư mời các văn nghệ sĩ, mời cả Đỗ Mười, Lê Đức Anh. Trong giấy mời anh đề là Mừng sống dai“. Điều này làm chính quyền tím ruột. Tuy trong buổi ăn uống họp mặt, không ai trực tiếp lên án Đảng, nhưng sự việc hàng mấy trăm văn nghệ sĩ, trí thức tới mừng thọ một tên phản động bị bỏ tù 15 năm, quản thúc tại Thái Bình hơn chục năm, đã là cái tát vào mặt Đảng! Đỗ Mười, Lê Đức Anh tất nhiên không tới. Nhưng công an thì tới đông, dù không ai mời. Họ ngang nhiên quay cả video để làm tài liệu! Buổi Mừng sống dai đông vui này còn chứng tỏ một điều: nỗi sợ đã giảm nhiều. Bạo lực đã ít hiệu quả.

Ngày anh Phùng Quán mất, Phùng Cung đứng ra tổ chức tang lễ. Đám táng Phùng Quán làm Đảng lo ngại. Nó quá đông. Có những vòng hoa đề những dòng chữ như Những người cùng chung hoạn nạn, Một kẻ sĩ bất khuất v.v… Nhiều bài thơ ca ngợi Phùng Quán, chửi bóng gió Đảng cũng xuất hiện. Hôm đó, tôi đứng cạnh quan tài Phùng Quán, cùng Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung. Tôi ghi vào Sổ Tang mấy chữ: “Anh Quán mất đi là một đau buồn chung. Nhưng cũng mừng là trước khi nhắm mắt vĩnh viễn, anh đã mở rộng mắt và nhìn rõ sự thật“. Đám táng có nhiều công an chìm, công an nổi. Nhà nước sợ đám tang trở thành một cuộc biểu tình.

Nhiều người lần lượt tới thắp hương trước linh cữu anh và nói vài lời. Tất cả đều bầy tỏ lòng thương tiếc và thán phục tinh thần Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét của anh. Bài nói của nhà thơ, nhà giáo lão thành Vũ Đình Liên là cảm động nhất. Chỉ có một tiếng nói duy nhất lạc lõng là bài thơ Hoàng Cầm đọc. Đại ý nói Quán là người một lòng chung thủy với Đảng, Bác. Đảng, Bác ra lệnh là Quán đi đầu làm theo. Bài thơ này sau đó được báo Văn Nghệ đăng lại. Chị Trâm, vợ anh Quán, giận dữ nói với tôi: “Anh Quán đã bỏ Đảng, Bác từ lâu rồi. Anh Cầm đã sỉ nhục chồng tôi!

Khi tôi mới tù về, Phùng Cung đã giơ cho tôi xem bài thơ ca ngợi Hồ nhân ngày sinh 100 năm của y, Hoàng Cầm làm, lấy tên là Nhớ về làng Sen đăng kín cả hai trang báo Văn Nghệ. Anh còn cho tôi xem tập thơ Trường ca Bác của Lê Đạt cũng làm vào dịp này. Tôi đọc lướt qua, và thấy tiếc cho các anh đó. Anh Cung nói với tôi là không bao giờ anh mời họ tới nhà anh cả“. (Hỏa Lò, Nxb THMĐ 2001, trg 171-172)

oOo

Ầu… ơ…Ví dầu…
Tôi nhớ Em đôi mắt trong như ngọc
Đã mờ phai sương khói những thu xưa
Thuở ấy mùa trăng ghen mái tóc
Tôi về say đổ nắng  trai tơ
Mái tranh nghiêng rót tình phong nhụy
Hoa khép sầu miên gọi chẳng thưa…

Tôi đọc những câu thơ tình ấy năm tôi mười tuổi. Những câu thơ tôi kể trên đây không đúng thơ Hoàng Cầm vì tôi có sửa vài tiếng cho hợp với tôi. Những câu thơ ấy nằm trong tim tôi, theo tôi đi trên quê hương tôi trong suốt bốn năm kháng chiến xanh thắm. Năm 1950 trở về Hà Nội tôi đọc “Cô Gái Nước Tần” đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, mấy câu thơ trong vở kịch ấy sống với tôi qua năm mươi mùa lá đổ cho đến hôm nay:

Ngày xưa quân Sở vào Vân Các
Em rạt về đâu, có nhớ thương?
…Nhưng người yêu xông pha nơi chiến điạ
Có bao giờ nhớ đến Huyền Cơ đâu!
Giây oan khiên giờ đã thắt ngang đầu
Người bạc mệnh có bao giờ hối hận…

Cô Gái Nước Tần“, kịch thơ của Hoàng Cầm, cuộc tình của Tần Nguyên Soái Tần Vũ và Tần Quận Chúa Tần Huyền Cơ.

Tháng 9, tháng 10-1975, tôi gặp Lưu Kiếm trên vỉa hè chợ Ông Tạ. Chín, mười giờ tối. Trời mưa. Lạnh. Ảm đạm. Thành phố âm u, vắng tanh. Kiếm nói:

– Tao gặp mấy thằng văn nghệ Hà Nội vào, chúng nó đọc cho tao nghe mấy bài thơ Hoàng Cầm. Tao chép được đây.

Tôi theo Kiếm đến dưới cột đèn đường. Nhờ ánh sáng đèn, Kiếm đọc những bài “Lá Diêu Bông, Cỗ Bài Tam Cúc, Qua Vườn Ổi.

Lần thứ nhất trong đời tôi nghe mấy bài thơ ấy. Đang nghe bỗng hai đầu gối tôi rời rã, hai chân tôi mềm nhũn, tôi phải ngồi xụp xuống hè phố. Tôi nghĩ thơ thế này mới là thơ.

Năm 1982, tôi viết cảm nghĩ của tôi về thơ Hoàng Cầm gửi ra hải ngoại rồi tôi bị bắt lần thứ hai năm 1984. Năm 1988, khi đưa tôi ra tòa xử, bản buộc tội có nhắc ba bài viết của tôi gửi ra nước ngoài là Tiền trao, cháo múc – Hiện tượng Dương Quỳnh Hoa – Hiện tượng Hoàng Cầm. Tôi không một lần gặp Hoàng Cầm. Những lần nhà thơ vào Sài Gòn, tôi đều nằm trong tù. Tôi nghe nói những năm 1985-1986 Hoàng Cầm cũng bị bắt tù.

Nếu Anh còn trẻ như năm trước
Anh đón Em về sống với Anh
Để những chiều vàng phơ phất lại
Anh đàn, Em hát níu xuân xanh.
Có mây bàng bạc gây thương nhớ
Có ánh trăng vàng soi giấc mơ
Có anh ngồi lặng so phím cũ
Mong chờ em hát khúc xuân xưa
Nhưng thuyền Em buộc bên sông hận
Anh chẳng quay về với trúc tơ.
Ngày tháng Tỳ Bà vương ánh nguyệt
Mộng héo bên song vẫn đợi chờ.
Nếu có ngày nào Em trở gót
Quay về thăm lại bến thu xa
Thì đôi mái tóc không xanh nữa
Mây bạc, trăng vàng vẫn thướt tha…

Khoảng 1985-1986, khi tôi nằm nuôi rệp xuất khẩu sang Liên Xô tại Thánh Thất Chí Hòa thì ở Hoa Kỳ, Phạm Duy phổ nhạc bài thơ trên, gọi tên là Tình Cầm. Năm 1990, tôi từ Z-30 A trở về mái nhà xưa, có hai người hát Tình Cầm: Thái Thanh và Elvis Phương. Tôi bảo con tôi: “Con đi sang cho Bố một băng cát-xét toàn bài Tình Cầm thôi. Cứ Thái Thanh hát ba lần, Elvis Phương hát ba lần, lại đến Thái Thanh. Chỉ bài này thôi, nguyên một băng”.

Trong quyển Thơ Hoàng Cầm, nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành 1998, bài thơ “Nếu Anh còn trẻ“, ghi làm năm 1944, có một số câu khác, như sau:

Nếu Anh còn trẻ như năm ấy
Quyết đón Em về sống với Anh
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn, Em hát níu xuân xanh
Nhưng thuyền Em buộc sai duyên kiếp
Anh lụy đời quên bến khói sương
Năm tháng, năm cung mờ cách biệt
Bao giờ Em hết nợ Tầm Dương?
Nếu có ngày mai Anh trở gót
Quay về lãng đãng bến sông xa
Thì Em còn đấy, hay đâu mất?
Cuối xóm buồn teo một tiếng gà“.

Mèn ơi…!

Nhưng thuyền Em buộc sai duyên kiếp
Anh lụy đời quên bến khói sương…

Biết rồi…! Khổ lắm, anh ơi!

Thuyền Em buộc sai duyên kiếp thì em biết lâu rồi, khỏi cần anh nói. Anh thương Em thì anh cởi dùm em dây chằng cho thuyền em dong buồm ra khỏi bến sai, cho thuyền em chạy thẳng một lèo không lộn đến bến anh. Tội em mà! Đừng hỏi bao giờ em hết nợ Tầm Dương. Nợ Tầm Dương thì không bao giờ em trả hết, anh thương em thì anh giúp em quỵt nợ. Mà thuyền em về bến anh có được không anh? Có còn chỗ nào cho em cắm sào không? Bến anh đã chật ních bốn, năm thuyền lớn, thuyền con, làm sao thuyền em dzô được!

Trong “Ghi” của Trần Dần thấy ghi chuyện mấy ông văn nghệ sĩ Nhân Văn Giai Phẩm gọi thi sĩ tác giả kịch thơ “Người Điên“, còn có tên “Kiều Loan“, là “Ông Phó Vữa”, gọi thơ Hoàng Cầm là thơ “nhấp nhoáng trang kim”. Thơ trang kim nhấp nhoáng hàng mã mà có những câu làm tim người đọc nhấp nhổm như “Nhưng thuyền Em buộc sai duyên kiếp… Anh lụy đời quên bến khói sương… Năm tháng năm cung mờ cách biệt. Bao giờ Em hết nợ Tầm Dương? Nhưng thuyền Em buộc bên sông hận. Anh chẳng quay về với trúc tơ. Ngày tháng Tỳ Bà vương ánh nguyệt. Mộng héo bên song vẫn đợi chờ…” thì được lắm chứ, thơ lắm chứ.

Nhưng bài này không viết về Thơ Tình, Thơ Hàng Mã, Thơ Trang Kim, Thơ Giấy Bản nên tôi xin trở về với chuyện văn thi sĩ Cô Đầu.

Những năm 1976-1977 sống tuyệt vọng ở Sài Gòn, tôi buồn quá không biết làm gì, không thể làm được gì, tôi mần Thơ. Là hội viên Hội Cơm Nhà, Quà Vợ trung kiên, thuần thành, chân chính, nhưng buồn quá tôi tưởng tượng ra tôi có người yêu. Nàng đẹp, nàng sang, nàng kiêu sa, nàng đa tình và quan trọng nhất là nàng yêu tôi. Giép râu, nón cối vào Sài Gòn, tôi mất nàng, nàng sang Pháp, sang Mỹ, sang Úc, sang Canada…

Tôi gà què kẹt giỏ làm thơ nhớ thương nàng:

…Ôi thơ sầu hận, thơ ly biệt
Mỗi lời thơ là một xót sa.
Tóc Anh đã chẳng còn xanh nữa
Tự thuở Em sầu lạc bước ra.
Nếu có bao giờ Em trở gót
Quay về tìm lại ái ân xa
Thì Em nghiêng bóng ngồi bên mộ
Mây bạc, trăng vàng sẽ khóc Ta!

Ra cái điều anh đã không còn trẻ khi Em bỏ nước Em ra nước ngoài Ngày nào Em từ cái gọi văn huê là hải ngoại trở về chắc anh đã ngủm củ tỏi, ngày ấy Em ra nghĩa địa thăm mộ anh

Tôi kể thơ tôi để nói rằng tôi bị ảnh hưởng thơ trang kim của Ông Phó Vữa Hoàng Cầm đến mức nào. Vì vậy tôi buồn khi thấy ông làm thi sĩ Cô Đầu trong những năm cuối đời ông, cuối đời tôi.

Hay khen, hèn chê. Gặp chuyện vui thì vui, gặp chuyện buồn thì buồn. Lẽ thường! Thơ hàng mã, thơ trang kim còn hơn Thơ Giấy Bản, nhưng Thơ Cô Đầu thì không thể nào thương được.

(Hết Chương 12)

Share this post