Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 21

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 21

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 21

Trong số ký giả chuyên nghiệp Sài Gòn giỏi và nổi tiếng có hai anh Cát Hữu và Tô Văn. Tôi kém hai anh đến mười tuổi nhưng giao du với hai anh khá thân. Ký giả Cát Hữu qua đời ở Thành Hồ khoảng 1988, ký giả Tô Văn đi khỏi Sài Gòn trước Ngày Oan Nghiệt Ba Mươi Tháng Tư, sống ở Cali và đã qua đời ở đó.

Khoảng 1982-1983 nhóm anh em chúng tôi, những văn nghệ sĩ bị công an Thành Hồ bắt tháng 5-1984 với tội danh gián điệp, sau đó bị gọi là Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, viết và gửi tác phẩm ra nước ngoài nhiều nhất. Việc chúng tôi làm đến tai anh Cát Hữu lúc này đã yếu, chỉ nằm nhà. Anh lo sợ cho số phận đen hơn mõm chó mực của chúng tôi. Thuở 1948-1949, anh ở trong ban biên tập tạp chí Y Tế của Việt Minh ở Việt Bắc, vẽ tranh hí họa cho tạp chí – nếu tôi nhớ đúng thì tên tạp chí này là Sống Mạnh – ký tên Vệ Tếu. Anh biết nhiều về thủ đoạn của cộng sản hơn chúng tôi nên nhắn ký giả Lê Thanh tức Phòng Cao, người hay đến thăm anh, nói với chúng tôi:

– Cộng sản nó thù nhất những thằng sống dưới sự kiểm soát của nó mà lại viết bài chửi nó gửi ra nước ngoài. Đi tìm hai thằng Dương Hùng Cường, Hoàng Hải Thủy bảo chúng nó thôi đi. Không thì nó bỏ tù cho đến chết!

Lê Thanh cũng đã qua đời ở Sài Gòn.

Khi được Cát Hữu nhắn như thế, riêng tôi, tôi đã viết và gửi sang Pháp, sang Úc, sang Hoa Kỳ khá nhiều bài viết với những bút hiệu dởm Hồ Thành Nhân, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Dương Hồng Ngọc, Hạ Thu v.v… Bài tôi gửi được ra nước ngoài đều được đăng trên các báo Việt hải ngoại. Không cần đến khi nghe lời nhắc “Ngưng viết đi… Không thì tù đến chết đấy” của Cát Hữu tôi mới biết việc tôi làm là nguy hiểm, có thể đưa tôi đến cái chết trong ngục tù cộng sản. Tôi biết nhưng tôi cứ viết, cứ gửi bài viết ra nước ngoài. Tôi làm thế không phải vì tôi không sợ tù tội. Tôi đã sống trong tù 24 tháng kéo dài trong ba năm 1977-78-79. Tôi viết về những thống khổ mà đồng bào tôi phải chịu đựng do bọn cộng sản gây ra vì tôi thấy nếu không làm thế tôi có tội với đồng bào, tôi có tội với lương tâm tôi. Năm 1976 rồi năm 1977, giữa lòng Thành Hồ u ám, tang thương, ly tán, tù tội, đói khổ, tuyệt vọng, tôi buồn đến có thể chết. Đây là một trong những bài thơ tôi làm trong những ngày đen tối ghê rợn ấy:

Giữ dùm tôi những thơ này.
Hôm nay còn, biết ngày mai có còn.
Chiều buông, tối phủ quanh hồn,
Thơ tôi sầu, dạ tôi buồn khôn nguôi.
Như con chim sắp lià đời,
Tôi ca, tôi khóc những lời nhớ thương.
Người ơi, này khúc đoạn trường,
Mỗi dòng thơ ấy một đường lệ rơi.
Sớm mai đời chẳng còn tôi,
Thì còn nét chữ cho người xót xa…

Sau hai năm tù ở cái gọi là Trại Tạm Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, cửa ngõ tù đày của những cư dân thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng giả, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân của Sở Công An Thành Phố, tôi trở về căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi trong Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ. Lại những ngày buồn, những đêm buồn dài  dặc. Alice và tôi quanh quẩn bên nhau. Vợ tôi nhận làm hoa vải tại nhà, đây là thứ hoa vải hạng bét bán ở chợ, không phải loại hoa đắt tiền bán ở những tiệm đường Lê Thánh Tôn. Tiền kiếm được về việc làm hoa vải không đủ chi khoản cà phê, thuốc lá cho hai chúng tôi.

Sau Ngày Tan Hàng 30 Tháng Tư, đại đa số dân Sài Gòn vẫn ăn, vẫn sống mà không ai làm gì cả. Không phải thất nghiệp cả làng, mà vô công, rồi nghề cả nước. Người Sài Gòn sống mà không ai hiểu tại sao mình sống được. Nhiều người nói sống nhờ phép lạ. Vợ chồng tôi ở trong số những người Sài Gòn “sống được nhờ phép lạ” ấy.

Sống nhưng sống buồn thê thảm, sống trong tuyệt vọng. Cũng như mọi nhà, căn nhà của chúng tôi nghèo sơ xác. Những đồ vật bán được ra tiền đều đã bán, kể cả quần áo. Trong nhà chúng tôi chỉ có – chỉ có, và may mắn còn có – Tình Yêu. Thời gian đó tôi phóng tác bài thơ:

Quân lịch phong trần, quân bất dĩ
Ngã hồi phố thị, ngã do liên
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Giai nhân, thi sĩ đối sầu miên.
Phong trần Em vẫn là Em
Anh về phố chợ đêm đêm lại buồn
Một đi hoàng hạc đi luôn
Giai nhân, thi sĩ đối buồn nằm mơ.

Vợ chồng tôi mong đợi những thùng quà của bạn, của anh em chúng tôi từ nước ngoài gửi về. Thời ấy, đầu thập niên 80, người Thành Hồ có mấy nơi quen thuộc để đến lãnh đồ là Kho hàng phi trường Tân Sơn Nhất, Bưu Điện Trung ương Sài Gòn, Bưu Điện Chợ Lớn, Bưu Điện Bình Thạnh. Những giấy báo có bưu kiện, bưu phẩm đều do người phát thư của Bưu Điện đưa đến nhà. Trong cái gọi là Cư Xá Tự Do của chúng tôi, ông phát thư mỗi ngày thường đi qua vào lúc chín, mười giờ sáng. Một sáng buồn, tôi thấy Alice đứng bên cửa nhìn người phát thư đi ngang. Tôi biết nàng mong thấy ông phát thư dựng xe đạp trước cửa nhà, ghé vào đưa cho nàng cái phiếu gọi đi lãnh đồ. Nhưng ông phát thư đạp xe đi luôn, nàng buồn buồn trở vào nhà. Thương nàng, tôi làm bài thơ Ba Mươi Sáu Câu Cho Alice –  đã in trong tập Sống Chết Ở Sài Gòn.

Thời gian đó, đầu Tháng Ba 1976, Công An Thành Hồ phát động chiến dịch bắt giam văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ.

Bắt người xong, Bộ Văn Hoá ViXi mở cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho những văn nghệ sĩ Sài Gòn không bị bắt. Tháng Năm 1976 mở Khóa I, tháng Bẩy 1976 mở Khóa II. Tôi không bị bắt chung với anh em trong chiến dịch và có mặt trong Khóa Bồi Dưỡng II.

Khóa học dài 21 ngày, mỗi ngày học viên được cấp một đồng sinh hoạt phí. Dự khóa này cùng trong cái gọi là Tổ Thi Văn với tôi có Ngọc Thứ Lang, Nguyễn Đình Toàn, Phan Nghị, Cao Nguyên Lang, An Khê, Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Lê Minh Ngọc v.v…

Theo thông lệ những cái gọi là “khóa học tập” linh tinh đủ thứ của Việt Cộng đều có mấy buổi gọi là kiểm thảo, thu hoạch ở cuối khóa. Trong cái gọi là ngày thu hoạch của Tổ Thơ Văn trong Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị II, tôi là một trong ba người công khai làm cái gọi là bản thu hoạch mẫu, có nghĩa là phải trình bày trước cả lớp, trước bọn Cán Cộng chủ tổ là nhờ có Khóa Học, may mắn được ánh sáng chủ nghĩa văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa soi sáng, mình được sáng mắt, sáng lòng, mới nhìn ra những lỗi lầm đã viết trong các tác phẩm cũ v.v… Tôi làm kiểm điểm trên tiểu thuyết Môi Thắm Nửa Đời viết đăng từng ngày trên nhật báo Chính Luận. Cốt truyện của Môi Thắm Nửa Đời là một lô những mối tình của hai thanh niên Sài Gòn. Tôi chứng minh trước cử tọa theo lý luận “tác phẩm là sản phẩm của con người, con người là sản phẩm của môi trường, của những điều kiện xã hội trong đó tác giả sinh ra và sống“. Tôi ra đời và trưởng thành trong xã hội tư sản nên trong tiểu thuyết tôi viết có những cuộc tình tư sản, những người đàn bà đẹp, đa tình, những thanh niên coi Tình Yêu là quan trọng nhất… Sống như tôi khi viết tiểu thuyết, tôi viết Môi Thắm Nửa Đời là tự nhiên hợp lý, không có gì lạ.

Bọn Cán Cộng tổ chức những khoá học kiểu này vẫn chờ đợi khóa viên kiểm điểm phải nhận tội, phải hối hận về tội lỗi của mình, phải tỏ ra hổ thẹn, sợ hãi, dù chỉ là giả dối, vờ vẫn. Tôi nhận tôi có lỗi khi viết toàn chuyện ăn chơi trong Môi Thắm Nửa Đời, nhưng tôi tránh đòn bằng cái gọi là lý luận biện chứng của chủ nghiã Mác “con người là sản phẩm của xã hội“. Theo lệ thường, người làm kiểm điểm sẽ bị phê bình đả kích. Cuộc kiểm điểm thu hoạch của tôi diễn ra êm ru. Không anh chị em văn nghệ sĩ Sài Gòn nào phê phán, bọn Cán Cộng cũng vậy. Nhưng giờ giải lao, Phan Kim Thịnh bỗng hỏi tôi:

– Tôi nhớ hình như trước đây ông có dịch quyển gì của Sônzơnítsin? Phải không nhỉ?

Phan Kim Thịnh không phải văn nghệ sĩ, chỉ là chủ nhiệm tạp chí Văn Học – gọi cho đúng thì anh là lái báo. Không đợi đến lúc anh hỏi câu trên tôi mới khinh anh, mà khinh anh từ trước năm 1975. Nếu tôi viết tôi không khinh anh, chỉ thương hại anh, tôi là người giả dối. Tại sao ta lại không khinh bỉ những kẻ đáng khinh?

Nửa giờ nghỉ trôi qua, cuộc kiểm điểm tiếp tục, chừng một giờ nữa là dứt Khóa và chỉ còn đợi ngày bế mạc chung ở Nhà Hát Lớn. Như vậy là không có gì gay cấn trong suốt khóa học, ai nấy đều có vẻ nhẹ người. Tôi trở ra ngồi ghế kiểm điểm thì Phan Kim Thịnh đứng lên:

– …Trước đây anh có dịch tiểu thuyết của văn sĩ người Liên Xô phản động Sônzơnítsin. Anh còn phóng tác nhiều tiểu thuyết điệp viên Không Không Bẩy. Sao không thấy anh nói gì về những quyển đó?

Tôi trả lời cũng dễ thôi:

– Tôi không nói đến vì tôi viết nhiều lắm, làm sao chỉ trong một giờ đồng hồ tôi nói hết được? Tôi đã báo trước là tôi sẽ căn cứ trên tác phẩm Môi Thắm Nửa Đời để làm kiểm điểm.

Đám Cán Cộng tổ chức khóa học không cho tôi thi triển Lăng Ba Vi Bộ tránh đòn khơi khơi như vậy. Tổ Thơ Văn có hai Cán Cộng làm hướng dẫn viên là Hà Mậu Nhai, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ Thành Phố và Nguyễn Phúc tức Cán Bêrê. Cả hai đều là dân Nam Bộ tập kết.

Nguyễn Phúc bị bệnh chi đó, rụng hết tóc, lúc nào cũng đội mão bêrê tức mũ nồi. Cán Bêrê nói:

–…Anh Thủy viết quá nhiều, chúng tôi không thể đọc hết. Qua những tác phẩm của anh mà chúng tôi đã đọc, chúng tôi thấy anh viết toàn chuyện ăn chơi không có gì đáng nói lắm. Nhưng nếu anh Thủy dịch Sônzênítsin thì chúng tôi phải nghĩ lại về anh và chính anh Thủy cũng phải nghĩ lại về anh

Cán Bêrê tiếp:

– Ở Liên Xô những tác phẩm như của Sônzênítsin và đồng loại bị coi là thứ “văn nghệ cửa sau. Ở Liên Xô những tác phẩm phản động tương tự không có ảnh hưởng gì cả, nhưng ở những nước ngoài Liên Xô, chúng cũng có những tác dụng nguy hại nhất định…

“Văn nghệ cửa sau” có nghiã là những tác phẩm rác rưởi, thối tha bị nhân dân Liên Xô cho ra cửa sau để bỏ vào thùng rác. Bọn tư sản kính cẩn bưng thứ “văn nghệ rác rưởi” đó của Liên Xô về ca tụng, nâng niu.

Cộng sản Nga gọi các tác phẩm của Alexandre Solzhenytsin là “rác rưởi” như họ từng coi tác phẩm của Boris Pasternak là “rác rưởi” những năm 1960.

Khi tác phẩm Bác sĩ Zivago của Boris Pasternak được trao Giải Văn Chương Nobel, ông bị chửi bới tàn tệ trên các phương tiện truyền thông. Cộng sản gọi ông là “một con heo trong vườn hoa Xô Viết“. Nhiều tên văn nghệ ở cùng khu phố đòi tống cổ ông đi chỗ khác vì chúng cho rằng chúng không thể sống gần với một tên tồi tàn dơ dáy về tinh thần như thế.

Đầu thập niên 1960, Evhetushensko, thi sĩ chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô được mời sang du nhai xứ sở Cờ Hoa, khi trả lời phỏng vấn của tạp chí Playboy đã nói:

– Văn nghệ sĩ Liên Xô và văn nghệ sĩ Hoa Kỳ khác nhau một vực, một trời…

Anh ta cho rằng văn nghệ sĩ Hoa Kỳ nói riêng, văn nghệ sĩ các nước tư bản nói chung chỉ viết các tác phẩm đồi trụy, thối nát do sáng tác vì tiền, phục vụ bọn có tiền, còn văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa viết vì lý tưởng, sáng tác phục vụ cái tốt, cái đẹp, phục vụ nhân dân.

Nhưng khen rồi chửi, chửi rồi khen, liếm rồi nhổ, nhổ rồi liếm là đặc trưng của người Cộng sản. Khoảng 1990, cũng vẫn anh Evhetushensko đổi giọng ca tụng:

– Chúng ta kiêu hãnh vì chúng ta có Pushkin và Pasternak

Và, vẫn anh Evhetushensko suýt soa:

– Alexandre Solzhenytsin là nhà văn cổ điển duy nhất còn sống của văn học Nga.

Năm 1974, nhà văn Solzhenytsin bị bọn Brezhnev tống xuất khỏi nước Nga. Hai mươi năm sau, chế độ cộng sản đổ tan tành trên toàn cõi cái gọi là Liên Bang Xô Viết.

Năm 1995, Solzhenytsin trở về quê hương. Ông là người may mắn. Tôi viết ông là người may mắn vì trong thời gian 70 mùa lá rụng loài người phải chịu đựng tai họa cộng sản đã có rất nhiều người biết trước và nói trước chủ nghĩa cộng sản sẽ bị loài người ghê tởm, nhưng đa số những người ấy đã không may chết thảm trong ngục tù, chết không được thấy ngày tàn của cái chủ nghĩa quái ác mà họ căm ghét như Solzhenytsin.

Tôi trang trọng mời bạn đọc một chương trong tác phẩm Tầng Đầu Địa Ngục của Alekxandre Solzhenytsin:

oOo

Yakonov đi lên khu đất trống, anh không biết anh đi đâu, anh cũng không biết anh đang đi lên dốc. Sau cùng vì thở không kịp anh dừng lại. Chân anh mỏi, mắt cá chân anh nhức nhối vì mặt đất không bằng phẳng. Và bây giờ đứng trên nơi cao ấy anh nhìn quanh, mắt anh bắt đầu ghi lại được cảnh vật và nhận ra anh đang ở đâu.

Từ lúc anh ra khỏi xe trời lạnh hơn và sương mù đã tan. Mặt đất dưới chân anh lổn nhổn những gạch vụn, sỏi đá, mảnh chai vỡ. Dưới chỗ anh đứng là một hàng rào gỗ bao quanh một khu đất dường như được dự định để xây cất một công trình nhưng chưa được khởi công. Dù không có tuyết, mặt đất vẫn bị bao phủ bởi một màu sám trắng.

Trên ngọn đồi rất gần với trung tâm thủ đô Yakonov đang đứng, anh nhìn thấy mấy bậc đá trắng. Ký ức cùn nhụt của Yakonov chợt xúc động vì cảnh tượng dường như quen thuộc của mấy bậc đá trắng này. Anh ngơ ngác, thẫn thờ đi lên những bậc đá. Chúng đưa anh đến trước một tòa nhà hình dáng khác thường. Tòa nhà lờ mờ hiện ra trong bóng tối. Cảnh vật có vẻ hoang phế nhưng tòa nhà vẫn còn nguyên hình dạng.

Nơi này bị bom trong chiến tranh ư? Không có lý. Trong thủ đô Mát-cơ-va không còn nơi nào mang dấu tích bom đạn. Có một sức mạnh nào khác đã đem hoang phế, đổ nát đến nơi này.

Yakonov lê chân đến trước khung cửa tòa nhà. Cửa sắt lớn, gạch vụn, sỏi đá lấp trước cánh cửa cao đến đầu gối. Đúng, đúng rồi. Ký ức ào ào trở lại với Yakonov. Anh bàng hoàng nhìn quanh. Dòng sông dưới kia, khúc quanh vương vấn ánh chiều còn sáng lên ánh bạc, xa kia là cây cầu và xa nữa là điện Kem-linh. Nhưng tháp chuông đâu? Không thấy tháp chuông đâu cả. Những đống gạch đá này phải chăng là tất cả những gì còn sót lại của tháp chuông? Yakonov thấy cay cay trong mắt. Anh chầm chậm ngồi xuống đống đá trước cửa giáo đường.

Hai mươi hai năm trước anh đã đứng trên đúng chỗ này với người thiếu nữ tên là Agniya.

Anh gọi lớn tên nàng – Agniya – và như một làn gió những cảm xúc tươi mát từ lâu bị quên lãng rung động trong tấm thân đàn ông trung niên được nuôi dưỡng đầy đủ của anh.

Năm ấy anh hai mươi sáu, nàng hai mươi mốt tuổi.

Người thiếu nữ không phải được sinh ra bởi trái đất này. Nàng không may vì nàng thông minh và nàng đòi hỏi đến một độ cao không thể tin được. Đôi khi đôi lông mày và cánh mũi của nàng rung động khi nàng nói. Chưa ai nói với Yakonov những lời nghiêm khắc đến như nàng, nàng chỉ trích anh thật gay gắt những việc anh làm mà anh thấy là rất thường. Nhưng nàng, ngạc nhiên thay, nàng cho những việc đó là tồi bại, và nàng càng cho Yakonov thấy anh lầm lỗi nhiều chừng nào, anh càng thiết tha với nàng chừng ấy. Thật lạ kỳ. Người ta phải rất thận trọng khi cãi lý với nàng. Nàng yếu mềm đến nỗi nàng kiệt sức khi đi lên đồi, khi nàng chạy, ngay cả khi nàng nói về chuyện tâm linh. Nàng dễ dàng bị xúc phạm.

Tuy vậy, nàng vẫn có sức để đi bộ trong rừng ngày này sang ngày khác, chuyện hơi lạ là người thiếu nữ thành thị như nàng lại không bao giờ mang sách theo. Sách làm nàng vướng bận, làm nàng không chỉ hoàn toàn chỉ biết có rừng. Nàng đi thẩn thơ trong rừng, nàng ngồi trong rừng tìm hiểu những bí mật của rừng. Khi Yakonov vào rừng với nàng, anh thường ngạc nhiên vì những nhận xét của nàng: sao thân cây sậy lại trĩu xuống đất, bằng cách nào cỏ rừng lại đổi màu khi chiều tối? Yakonov chẳng bao giờ để ý đến những chuyện ấy, với anh rừng là rừng, không khí trong rừng dễ chịu và trong rừng tất cả đều màu xanh.

“Suối Rừng” – Yakonov gọi nàng là Suối Rừng trong mùa hè năm 1927 khi nhà họ ở gần nhau. Họ cùng đi, cùng về. Mọi người đều coi là họ đã hứa hôn với nhau.

Những gì xẩy ra không như mọi người tưởng.

Agniya không đẹp mà cũng không xấu. Vẻ mặt nàng thay đổi luôn luôn; vừa mới tươi tắn với nụ cười duyên đấy mặt nàng có thể biến thành buồn rười rượi. Nàng cao hơn mức bình thường nhưng mảnh mai, yếu đuối, nàng bước đi nhẹ đến nỗi Yakonov thấy như nàng đi chân không chạm đất. Những ngày đó tuy Yakonov đã có khá nhiều kinh nghiệm về đàn bà và anh vẫn thích phụ nữ có da, có thịt, có một cái gì khác không phải là da thịt ở Agniya hấp dẫn anh. Anh nghĩ anh có thể làm cho nàng có da, có thịt hơn.

Tuy nàng vui vẻ đi chơi suốt những ngày mùa hạ dài với anh, cùng đi với anh vào tận rừng sâu, nằm bên anh trên cỏ, nàng tỏ ra không thích Yakonov cầm tay nàng. Khi anh cầm tay nàng, nàng hỏi: “Tại sao lại cứ phải làm thế chứ?” và nàng tìm cách gỡ tay nàng ra. Nàng không thích không phải vì những lúc ấy có mặt người khác. Khi họ về gần nhà vì sĩ diện nàng vẫn chịu đi tay trong tay với anh. Qùi gối trên cỏ rừng Yakonov nói anh yêu nàng. “Buồn quá” nàng nói, “Em làm anh thất vọng. Em không thể đáp lại tình yêu của anh. Em không cảm thấy gì cả. Đó là nguyên nhân vì sao em không muốn sống nữa. Anh thông minh, anh dễ thương, lẽ ra em phải sung sướng mới phải, nhưng em không muốn sống”. Nàng nói thế nhưng mỗi sáng nàng vẫn hồi hộp chờ xem có gì thay đổi trên nét mặt, trong thái độ của Yakonov hay không.

Nàng nói thế nhưng nàng cũng nói:

– Có nhiều cô đẹp ở Mát-cơ-va. Mùa thu này anh sẽ gặp một cô thật đẹp và anh hết còn yêu em.

Nàng để anh hôn nàng, ôm nàng, nhưng khi nàng hôn anh, ôm anh, môi nàng, vòng tay nàng, thân mình nàng không hôn anh. Nàng than thở:

– Khó quá đi. Em vẫn tưởng khi yêu ta phải nồng nàn lắm chứ. Này nhé… anh yêu em, em sẽ không bao giờ gặp được người nào tốt hơn anh… Vậy mà em vẫn không thấy sung sướng, thật em không muốn sống chút nào.

Có một cái gì đó lạc hậu, trẻ con ở nàng. Nàng sợ những bí mật ràng buộc người đàn ông với người đàn bà trong hôn nhân. Bằng giọng run run, nàng hỏi: “…Mình có thể sống với nhau mà không có chuyện ấy được không?” Yakonov vội vã trả lời: “Đâu phải chuyện ấy là chính. Vợ chồng cần phải có sự hòa hợp tâm hồn trước đã…” Lần đầu tiên môi nàng rung động khi họ hôn nhau, nàng nói:

– Cám ơn anh. Nếu không có tình yêu ta sống làm chi? Chắc em bắt đầu yêu anh đấy, em sẽ cố hết sức.

Mùa thu ấy một buổi chiều họ đi bên nhau trong Quảng trường Taganka, tiếng nói khô khan của Agniya nghe không rõ trong tiếng ồn ào của thành phố:

– Anh có muốn em đưa anh tới một nơi đẹp nhất Mát-cơ-va không?

Nàng đưa anh đi lên bên hàng rào bao quanh tòa giáo đường bằng gạch sơn hai màu trắng đỏ. Bên trong hàng rào chỉ có con đường nhỏ chạy vòng giáo đường dùng làm đường rước Thánh Giá, con đường vừa đủ rộng cho ông Cha Sở và thày trợ tế cùng đi. Qua khung cửa kính người ta có thể nhìn sâu vào trong lòng nhà thờ, thấy những ánh nến bình yên trên bàn thờ và những ngọn đèn màu. Ở một góc trong hàng rào là cây sồi cổ thụ, cây sồi lớn, cao hơn cả nóc giáo đường. Những tàn cây đã ngả màu vàng bao trùm lên toà giáo đường và càng làm cho giáo đường có vẻ nhỏ bé hơn.

– Đây là giáo đường Thánh John Tẩy Lễ. Aginya nói.

– Nhưng đây đâu có phải là nơi đẹp nhất Mát-cơ-va.

– Anh sẽ thấy.

Nàng đưa Yakonov vào sân giáo đường. Những phiến đá chân cột cờ phủ đầy lá sồi vàng đỏ. Dưới bóng vòm cây sồi cổ thụ có một tháp chuông cổ. Tháp chuông và căn nhà nhỏ phụ thuộc giáo đường che mất ánh mặt trời đang lặn. Cánh cửa sắt ở hành lang phía bắc mở rộng, một bà già nghèo khổ đứng đó cúi đầu, đưa tay làm dấu trong tiếng hát thánh ca rạng rỡ từ nhà thờ vang ra.

– Giáo đường này nổi tiếng vì đẹp và lộng lẫy, Agniya nói nhỏ, vai nàng sát vào vai Yakonov.

– Thế kỷ mấy ?

– Cần gì phải biết thế kỷ. Anh thấy đẹp không?

– Đẹp, nhưng mà…

– Mình ra đây… Agniya ra khỏi vòng tay anh và kéo anh đến gần hơn cửa chính. Họ ra khỏi bóng tối để vào vùng ánh sáng rực rỡ của mặt trời đang lặn. Nàng ngồi xuống bậc thềm đá.

Yakonov nín thở. Như họ vừa thoát ra khỏi đường phố đặc nghẹt những người và đột ngột lạc vào một đỉnh cao có tầm nhìn bao la. Một đường thang bằng đá trắng chạy từ cửa giáo đường qua sườn đồi xuống dòng sông Mát-cơ-va. Mặt sông rực cháy trong nắng tà. Và trong vùng hào quang vàng óng ánh ấy, Agniya, với chiếc khăn choàng màu vàng trên vai, trông như người thiếu nữ bằng vàng, ngồi ngắm mặt trời lặn.

– Người Nga ngày xưa chọn nơi xây nhà thờ với tu viện khéo tuyệt vời – Nàng nói, giọng nghẹn ngào vì xúc động – Em đã xuôi dòng Von-ga, xuôi cả dòng Ô-ka, nơi nào em cũng thấy họ xây dựng nhà Chúa ở những cảnh trí hùng vĩ nhất.

– Đúng thế. Đó là Mát-cơ-va. Yakonov phụ họa.

– Nhưng Anton – Nàng nói – Những cảnh đẹp đang biến mất. Mát-cơ-va đang biến mất.

– Em nói sao? Biến mất là sao?

– Họ sắp phá nhà thờ này.

– Ai nói với em nhà thờ này sắp bị phá? – Yakonov bực dọc hỏi – Đây là tòa kiến trúc cổ, người ta đụng đến nó làm chi.

Anh ngước lên nhìn tháp chuông, mấy cành sồi gần như chạm vào cái chuông trong tháp.

– Họ sẽ phá nhà thờ.

Agniya tiên đoán bằng giọng nói quả quyết, nàng ngồi yên với chiếc khăn choàng trên vai trong ánh vàng.

Không những gia đình Agniya không nuôi dưỡng nàng để nàng tin ở Thiên Chúa mà trước kia khi người dân bị bắt buộc phải đến nhà thờ, mẹ nàng và bà ngoại nàng không chịu đi lễ, không tuân thủ những ngày thánh, không rước lễ, chế nhạo những giáo sĩ và luôn luôn nhạo báng tôn giáo vì tôn giáo chấp nhận tình trạng nông nô một cách quá dễ dàng. Bà ngoại nàng, bà mẹ nàng, các bà dì của nàng có tôn chỉ riêng; lúc nào các bà cũng đứng về phía những người bị đè nén, bị bắt bớ, bị săn đuổi và bị nhà cầm quyền ngược đãi. Cô bé Agniya luôn luôn ở vào phe con thỏ bị săn đuổi, con ngựa bị quất roi. Khi nàng lớn lên nàng làm những bậc trưởng thượng trong gia đình nàng ngạc nhiên khi nàng đứng về phe nhà thờ bởi vì, theo nàng, nhà thờ đang bị ngược đãi.

Dù nàng tự nhiên tin Thiên Chúa hay nàng tự bắt nàng tin, chỉ biết là trước sự kinh hoàng của bà nội và bà mẹ nàng, Agniya một mình đi dâng lễ ở nhà thờ và cho việc dâng lễ là quan trọng.

– Em nghĩ sao mà em nói rằng nhà thờ bị đàn áp? – Yakonov ngạc nhiên hỏi nàng – Có ai cấm họ kéo chuông, họ tha hồ làm bánh thánh của họ theo ý họ, họ tự do rước thánh giá, nhưng điều cần là họ không được can dự vào những việc dân sự và giáo dục.

– Bị đàn áp và ngược đãi mà! – Thản nhiên và dịu dàng như thường lệ, Agniya nói – Khi họ kết tội nhà thờ, công bố tất cả những gì họ muốn đả kích nhà thờ mà không cho nhà thờ có quyền được trả lời, khi họ kiểm kê tài sản của nhà thờ và lưu đày những giáo sĩ, đó chẳng phải là đàn áp và ngược đãi thì còn là gì nữa?

– Em thấy những ai bị lưu đày nào?

– Tất nhiên là mình không nhìn thấy những giáo sĩ bị lưu đày ở ngoài phố.

– Dù cho giáo sĩ có bị ngược đãi đi nữa thì… họ cũng chỉ mới bị ngược đãi có mười năm. Giáo hội đã đàn áp, ngược đãi nhân dân bao lâu rồi… mười thế kỷ không?

– Thuở đó đời chưa có em – Agniya nhún bờ vai gầy – Bây giờ em đang sống. Em thấy những gì đang xẩy ra trong đời em.

– Nhưng em phải biết lịch sử. Không biết không phải là một lý do để được tha thứ. Có bao giờ em nghĩ đến chuyện giáo hội đã làm cách nào để có thể không bị tiêu diệt suốt trong 250 năm bị bọn Tatar đô hộ không?

Không có vẻ gì nồng nàn hay khích động nhiều, nàng đưa ra một lý do:

– Có thể là vì đức tin sâu đậm hoặc vì Thiên Chúa Giáo về tâm linh mạnh hơn Hồi Giáo.

Yakonov mỉm cười khoan dung:

– Em tưởng tượng quá đáng. Đất nước ta có bao giờ là một nước Ky-tô giáo trong linh hồn không? Bộ em cho rằng trong cả ngàn năm Ky-tô giáo có mặt trên đất nước này nhân dân thực sự tha thứ cho bọn đè nén họ hay sao? Hay là họ yêu thương những người thù ghét họ? Giáo hội xứ này tồn tại được là vì Giáo chủ Cyril là người trước hơn ai hết, đến cúi đầu trước Đại Hãn để xin được Đại Hãn che chở cho giáo hội và giáo sĩ. Chính là nhờ thanh gươm của bọn Tatar mà hàng giáo phẩm Nga bảo vệ đất đai, nông nô và những cuộc tế lễ của họ. Giáo chủ Cyril đã làm đúng, ông ta là nhà chính trị đầu óc thực tiễn. Chỉ có làm như ông mới có thể thắng được.

Khi bị dồn ép Aginya không cãi lý nữa, nàng chỉ nhìn vị hôn phu của nàng bằng đôi mắt ngạc nhiên.

– Đấy là cái nền tảng trên đó xây dựng lên những giáo đường tráng lệ như thế này –Yakonov hùng hồn nói tiếp – Xây dựng trên xác chết bị thiêu sống của những kẻ dị giáo, trên xác những người thuộc những giáo phái ly khai bị đánh đòn đến chết. Đấy là những người em thương xót đấy – giáo hội bị ngược đãi.

Anh ngồi xuống bên nàng trên bậc đá được mặt trời nung ấm:

– Anh thấy em rất không công bằng với những người Bôn-sê-vích. Em không chịu đọc những bộ sách lý thuyết chính của họ. Họ rất tôn trọng văn minh thế giới. Họ chủ trương không một ai có quyền độc đoán trên người khác, họ tin tưởng ở lý trí. Chuyện quan trọng nhất là họ tranh đấu cho quyền bình đẳng. Em không thấy ư; quyền bình đẳng toàn diện, toàn thể, quyền bình đẳng tuyệt đối. Không ai có những đặc quyền mà người khác không có. Không ai có quyền hơn người khác về lương bổng cũng như về những điều kiện sống. Có thể có xã hội nào tốt đẹp hơn thế không? Xã hội ấy xứng đáng để chúng ta hy sinh lắm chứ? Em cứ suy nghĩ vớ vẩn mà làm gì. Những gì em nghĩ chỉ có hại cho em thôi. Ít nhất những ý nghĩ của em cũng sẽ ngăn cản không cho em lên cao học. Mà em chống đối có ích gì không? Em làm gì được?

– Phụ nữ thì còn làm gì được?

Nàng hất nhẹ lọn tóc, nàng kết tóc bím trong lúc không ai để tóc bím, tất cả phụ nữ thời nay đều cắt tóc ngắn. Nàng để tóc bím chỉ vì nàng muốn làm ngược lại mọi người dù kiểu tóc bím không hợp với nàng. Nàng tiếp:

– Người đàn bà không làm được việc gì khác ngoài việc ngăn cản không cho người đàn ông thực hiện những công việc vĩ đại. Ngay cả người đàn bà như Natasha Rostov. Vì vậy em không sao chịu nổi cô ấy.

Yakonov ngạc nhiên:

– Tại sao?

– Vì nàng không chịu để cho Pierre gia nhập nhóm Tháng Chạp.

Giọng nói của nàng lại như vỡ ra. Nàng thường nói những câu làm Yakonov ngạc nhiên như thế. Làn khăn choàng mỏng màu vàng trôi xuống lưng nàng trông như đôi cánh vàng. Bằng cả hai bàn tay Yakonov nâng nhẹ cánh tay nàng như anh sợ anh có thể làm cho nó gẫy.

– Còn em, em để cho chàng đi ư?

Nàng trả lời ngắn gọn:

– Vâng.

Yakonov không bận tâm gì đến chuyện anh phải có sự chấp thuận của Agniya để làm một việc gì đó. Anh hoạt động tích cực. Công việc làm của anh hấp dẫn và có khả năng đưa anh lên cao hơn.

Những người đi lễ muộn lục tục đến. Họ làm dấu thánh giá ở cửa giáo đường. Vào đến sân nhà thờ những người đàn ông bỏ mũ. Có vẻ đàn ông ít hơn đàn bà, không thấy có người nào trẻ.

– Anh có sợ bị người ta nhìn thấy anh ở gần nhà thờ không? Nàng không có ý mỉa mai nhưng câu hỏi vẫn có âm thanh mỉa mai.

Những năm đó bị bạn công nhân đồng xí nghiệp nhìn thấy mình lảng vảng gần nhà thờ là điều nguy hiểm. Quả thực Yakonov cũng có ngán.

Bắt đấu thấy khó chịu, anh nói:

– Coi chừng đấy, Agniya. Em phải biết cái gì là cái mới, cái quan trọng trong thời đại của em chứ. Em phải biết trước khi quá muộn, những ai không biết như thế đều bị bỏ rơi lại đằng sau. Em bị nhà thờ lôi cuốn vì nó khuyến khích em chán đời. Anh yêu cầu em tỉnh lại, em phải tha thiết với một cái gì đó, dù đó chỉ là cuộc sống thường ngày của em.

Agniya cúi đầu, bàn tay nàng, bàn tay có ngón tay đeo chiếc nhẫn của Yakonov buông thõng vô hồn. Trông nàng xương sẩu và gầy ốm quá.

– Vâng… Vâng! Nàng nói nhỏ. Em cũng thấy có nhiều lúc em chán sống quá. Em không muốn sống chút nào. Cuộc đời không cần có những người như em.

Yakonov thấy như có cái gì vừa vỡ ra trong anh. Nàng làm tất cả mọi chuyện để anh phải chán nàng. Sự can đảm giữ lời hứa và cưới nàng bắt đầu yếu đi.

Nàng ngước nhìn anh, ánh mắt tìm hiểu, không cười.

– Nàng nhạt quá… ! Yakonov nghĩ thầm.

– Thành công, danh vọng chờ anh, sự nghiệp và phồn vinh lâu dài nữa – Nàng buồn rầu nói – Nhưng có bao giờ anh nghĩ đến chuyện đời anh sẽ có hạnh phúc hay không, Anton? Anh nữa. Anh cũng phải coi chừng. Kẻ nào quá chú trọng đến cuộc sống này sẽ mất… sẽ mất… Ồ… Làm sao em nói được? – Những ngón tay nàng nắm bắt không khí như muốn tìm trong đó những lời nàng cần nói, sự dằn vặt của cuộc tìm kiếm hiện trên nét mặt đau khổ của nàng – Đấy… Chuông vang lên rồi, tiếng ca đã ngừng. Tiếng ca không trở lại nữa nhưng nhạc vẫn còn đó. Anh hiểu em không anh?

Nàng đi và anh đi theo nàng vào trong giáo đường xây dựng và trần thiết theo kiểu những nhà thờ cổ của nước Nga. Qua những ô cửa sổ ánh nắng tà làm cho nhà thờ sáng rực, dát vàng lên bức tượng thánh.

Có ít người cầu nguyện. Agniya thắp cây nến nhỏ cắm lên đĩa nến bằng đồng, nàng làm dấu rồi đứng đó, hai tay chắp lại trước ngực, mắt nhìn thẳng, xuất thần. Ánh nắng chiều tà và những ánh nến lung linh đem lại sự sống và chút ấm áp lên đôi má nàng.

Hôm ấy còn hai ngày nữa là đến ngày đản sinh Đức Mẹ Thiên Chúa, bài kinh cầu dài được tụng để vinh danh Đức Mẹ. Lời kinh thật đẹp, những lời ca ngợi, tôn vinh Đức Mẹ Đồng Trinh Mary theo nhau chan hòa như dòng suối chẩy. Lần thứ nhãt trong đời Yakonov hiểu thế nào là tình trạng ngây ngãt mê ly và tính chất thơ mộng của kinh cầu. Không phải một tay giáo sĩ vô hồn nào đã viết bản kinh cầu này, tác giả phải là một thi sĩ vô danh, hay một tù nhân trong tu viện, người đó đã không xúc động vì dục vọng thoáng qua từ thân thể người đàn bà mà xúc động bởi niềm hoan lạc cao hơn mà người đàn bà có thể gây ra ở người đàn ông.

…Yakonov tỉnh lại từ cơn mơ mộng. Anh đang ngồi ở thềm cửa Giáo đường Thánh John Tẩy Lễ trên đống gạch đá vụn. Đúng vậy. Không vì lý do gì cả họ đã phá hủy tháp chuông và đường thang đi xuống dòng sông. Khó có thể tin được rằng buổi tối tháng Chạp này lại đang xuống trên cùng khoảnh đất Mát-cơ-va họ đã sống bên nhau trong buổi chiều tươi nắng năm xưa. Nhưng cảnh vật từ trên đồi nhìn xuống vẫn man mác và khúc quanh của dòng sông sáng ánh đèn vẫn là dòng sông cũ.

Sau buổi chiều đó Yakonov đi công tác ở nước ngoài. Khi trở về anh được người ta giao cho việc viết một bài báo – đúng hơn người ta giao một bài báo viết sẵn cho anh ký – bài báo viết về sự tan rã của xã hội Tây phương; cơ cấu xã hội, luân lý, văn hóa của phương Tây v.v… tất cả đều thối nát, tan rã, về cảnh khốn cùng của giới trí thức và tình trạng khoa học phương Tây không sao có thể tiến bộ được. Đó không phải là sự thực hoàn toàn, nhưng cũng không phải là không đúng. Những sự kiện đó có, nhưng cùng một lúc cũng có nhiều sự kiện khác. Do dự là sẽ bị nghi ngờ, uy tín của anh có thể bị tổn hại. Hai nữa bài báo như vầy thì làm hại được ai?

Bài viết được đăng báo.

Agniya gửi trả anh chiếc nhẫn bọc trong tờ giấy có mấy chữ nàng viết: “Gửi Giáo chủ Cyril”.

Yakonov thấy nhẹ người.

Anh đứng lên, vươn người nhìn qua ô cửa sổ vào bên trong giáo đường. Có mùi gạch vụn, mùi nước đọng, mùi ẩm mốc, không còn gì ngoài những đống gạch đá và rác rến.

Nhịp tim đập yếu đi, Yakonov rời cửa sổ đến đứng dựa vào cánh cửa sắt han rỉ lâu ngày không được mở. Một lần nữa sự đe dọa nặng và lạnh như đá đến từ Abakumov, thượng cấp của anh, lại đè lên tim anh.

Yakonov đang ở trên đỉnh cao nhất của quyền lực mà anh có thể có ở cõi đời này. Anh mang cấp bậc cao trong một bộ nhiều quyền uy. Anh thông minh, có tài, anh được người biết là anh thông minh và có tài. Người vợ yêu thương anh chờ anh ở nhà. Mấy đứa con mắt sáng, má hồng của anh yên ngủ trong giường ấm. Anh có căn hộ tuyệt hảo trong một tòa cao ốc cổ tại Mát-cơ-va. Trần phòng thật cao, nhà có ban-công. Lương tháng của anh được tính bằng những con số ngàn. Anh có xe riêng muốn đi đâu thì đi. Vậy mà buổi chiều buồn này anh đứng dựa lưng vào cánh cửa sắt rỉ, tay vịn vào những phiến đá chết, anh không còn muốn sống nữa. Trong anh chỉ còn có tuyệt vọng, anh không còn sức bước đi.

Ngày bắt đầu sáng dần.

oOo

Đó là Chương 23 trong The First Circle của nhà văn Nga Alexandre Solzhenytsin, bản dịch Anh văn do Harper & Row ấn hành năm 1968, dày 580 trang. Nhân vật đại tá Yakonov trong Chương 23 là người Quản đốc nhà tù đặc biệt, tù nhân toàn là chuyên viên khoa học. Những tù nhân chuyên viên này được tuyển lựa từ nhiều nhà tù về đây để nghiên cứu sáng chế đủ thứ theo tham vọng độc đoán của Chúa Đỏ Stalin. Lãnh tụ cộng sản có cái tật ấn định trước thời hạn hoàn thành cho cả những công trình khoa học. Không làm xong công trình đúng thời hạn là bị khiển trách, trừng phạt. Trong Tầng Đầu Địa Ngục, Bộ trưởng Nội Vụ Abakumov sợ bị Stalin trừng phạt vì không dâng nộp được lên Chúa Tể bộ máy điện thoại cực kỳ văn minh hiện đại mà Chúa Tể muốn có – không những Chúa Tể muốn có mà còn muốn có ngay lập tức – đó là cái máy điện thoại phá tiếng người nói trong lúc tiếng nói đang được truyền đi và kết hợp những âm thanh vụn trở lại là tiếng nói. Chỉ những người có cái máy điện thoại đặc biệt này mới nghe được tiếng nói của nhau, kẻ nghe trộm điện thoại sẽ không hiểu gì.

Stalin định thời hạn phải có máy cho Bộ Trưởng Abakumov. Abakumov định thời hạn phải nộp máy cho Quản đốc nhà tù Yakonov. Trong khi đó những tù nhân trong Nhà Tù Tầng Đầu Địa Ngục – dù là tầng đầu cũng vẫn là địa ngục – một là không chịu làm việc, hai là không thể làm được gì trong cảnh ngục tù nên không chế tạo nổi bộ máy Chúa Đỏ muốn. Yakonov sợ mất chức, đi lang thang trong thành phố, tình cờ anh trở lại tòa giáo đường xưa nơi mười mấy năm trước người thiếu nữ anh yêu đưa anh đến. Nàng đã chết trong tù ngục, và anh, anh thấy đời anh không còn hạnh phúc.

oOo

Hôm nay ngày 28 tháng Ba…

Tôi bồi hồi nhớ lại 28 Tháng Ba là ngày tôi mất thành phố Đà Nẵng…

Năm năm cứ đến ngày oan trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương…

Những ngày như lá, tháng như mây… rồi tôi nhớ về cuối tháng Bẩy năm 1976 tại Sài Gòn, khi một số văn nghệ sĩ của VNCH trở thành Khóa Viên của cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị II. Chuyện này, tôi đã viết, đã in nhiều lần nhưng thấy vẫn cần nhắc lại.

Vào tháng Ba năm 1976, công an Thành Hồ mở chiến dịch lớn  đưa xe bông đến tận nhà nhiều văn nghệ sĩ, ký giả VNCH để rước vào nhà tù.

Những văn nghệ sĩ, ký giả mà tôi quen biết và cũng là những cái tên quen biết với đa số người đọc, như Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Sĩ Tế, Lý Đại Nguyên, Trần Việt Sơn, Nguyễn Hải Chí tức họa sĩ Chóe, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Duyên Anh, Đằng Giao, Trịnh Viết Thành, Dương Nghiễm Mậu, Mặc Thu, Thái Thủy, Hồ Nam, Cao Sơn, Xuyên Sơn, Minh Vồ chủ nhiệm Con Ong, Hoàng Vĩnh Lộc, Hồng Dương, Minh Đăng Khánh, Thân Trọng Kỳ, Lê Xuyên Chú Tư Cầu, Anh Quân, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Hồ Văn Đồng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Hữu Hiệu, Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn đạo diễn Hai chuyến xe bông v.v… đều an phận trong Khám Lớn Chí Hòa hoặc Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu Gia Định.

Một số người khác như Nguyễn Tú, Như Phong, Uyên Thao, Vũ Ánh, Tú Kếu Trần Đức Uyển, Văn Chi được may mắn rước đi từ ngay sau tháng Năm năm 1975 và đang được biệt đãi ở những nhà tù nào không ai biết.

Những người chưa bị bắt mặt mũi xanh xám không biết xe bông công an đến rước mình lúc nào thì được động viên  tham dự các Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị. Khóa I mở đầu tháng Năm 1976 có Thái Thanh, Hà Thanh, Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều, Thẩm Thúy Hằng… và các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Thị Hoàng Vòng Tay Học Trò, Lệ Hằng Bản Tango Cuối Cùng, Nguyễn Thụy Long Loan Mắt Nhung, Phạm Thiên Thư Động Hoa Vàng, Nhật Tiến Những Người Áo Trắng

Tôi tham dự Khóa II mở đầu tháng Bảy 1976 có trên 500 khóa viên trong số có tới 300 mạng là nghệ sĩ cải lương. Số 200 người còn lại chia đều cho các tổ Thơ Văn, Điện Ảnh, Tân Nhạc, Cổ Nhạc…

Cái gọi là tổ Thơ Văn – tức tổ chấy của các anh ký giả, văn nghệ sĩ trong đó có những anh thợ viết phơi-ơ-tông “được” chú ý hơn so với những người thuộc bộ môn trình diễn. Các cô, cậu khóa thuộc bộ môn sau này xuất hiện với bộ mã luôn ngược hẳn với các anh ký giả đói rách, đặc biệt là các em như cô khóa Mộng Tuyền trẻ, đẹp phây phây đến lớp trong những bộ bà ba phin nõn, quần đen, đi guốc. Các em không đi xế hộp, cũng không đi xế đạp, các em đi “học” bằng xích lô.

Những Cán Cộng xuất hiện trên bục giảng là Hà Huy Giáp, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hoàng Trinh, Vũ Khiêu, Bẩy Lý… Đề tài thuyết giảng thì “Thơ trong xã hội chủ nghĩa, Người nghệ sĩ đi theo Đảng, Ánh sáng tư tưởng Mác-Lênin, Sự bế tắc và đồi trụy trong nghệ thuật tư bản chủ nghĩa“… Anh Cán nào cũng nói văng bọt mép, khoe sung sướng, thoải mái mần thơ, mần văn dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong ánh sáng tuyệt vời của chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa

Hoàng Trinh – nghe nói là sui gia với Trường Chinh – lên bục kể một tác phẩm kịch điển hình làm bằng chứng về “văn học nghệ thuật tư sản thối nát quá cỡ” là vở Le Balcon của Jean Genet. Jean Genet là văn sĩ thuộc loại “thiên tài quỷ ám” của Pháp, qua đời năm 1986.

Hoàng Trinh kể:

– Kịch xẩy ra trong một nhà chứa ở thủ đô một quốc gia Âu Châu. Nhà chứa này do một phụ nữ làm chủ. Khách chơi là bọn đàn ông giàu có, bị ẩn ức sinh lý, những anh muốn được làm đại tướng, chánh án, giáo chủ. Chị chủ nhà chứa tổ chức những phiên tòa cho chánh án dởm xử, những trận đánh cho đại tướng dởm chỉ huy, những thánh lễ cho giáo chủ dởm hành lễ.

Đêm ấy có cuộc nổi loạn nổ ra trong thủ đô. Anh Tổng Giám Đốc Cảnh Sát là tình nhân của chị chủ chứa. Anh đến cho mọi người biết với lực lượng Cảnh Sát, anh có thể dẹp được đám nổi loạn nhưng phiền một nỗi là Nữ Hoàng, Giáo Chủ, Chủ Tịch Quốc Hội, Tổng Chưởng Lý, Đại Tướng v.v… nghe tiếng súng nổ và biết có loạn, đã bỏ thủ đô phú lỉnh ra nước ngoài hết. Anh Xếp Phú Lít than thở: “Phải chi bây giờ có Nữ Hoàng, Chủ Tịch Quốc Hội, Giáo Chủ, Đại Tướng… xuất hiện trên ban-công Hoàng Cung cho nhân dân thấy thì nhân dân bỏ bọn nổi loạn ngay”.

Chị chủ chứa nẩy ra sáng kiến:

– Khó gì? Ở đây mình có đủ triều đình. Mình có ông Đuy Quốc-Tô mần vai đại tướng quen rồi, ông còn oai phong hơn cả đại tướng thứ thiệt. Mình có ông Đờ Cốc Si Cốc đây là Chủ Tịt Quốc Hội, có ông Lơ Poan vẫn mần Giáo Chủ hành lễ trang trọng. Ông Pip-Pơ-Lô đây đóng vai Chánh Án đẹp lão nhất thế giới. Còn em, em đóng vai Nữ Hoàng? Được hông? Ai cũng nói trông em giống Nữ Hoàng lắm. Người ta còn khen em đẹp hơn, tình hơn Nữ Hoàng năm bẩy thành…

Kế hoạch được chấp thuận. Triều đình Nhà Thổ đủ mặt Nữ Hoàng, văn võ bá quan, lãnh đạo tôn giáo, quan chức tư pháp, lập pháp, tướng tá quân đội, cảnh sát đàng hoàng xuất hiện trên ban công lâu đài hoàng cung. Nhân dân thấy triều đình vẫn vững như chum vại bèn bỏ rơi đám nổi loạn, tan hàng trở về nhà. Cuộc nổi loạn bị dẹp thê thảm.

Hoàng Trinh nói tiếp:

– Thưa quý bạn, Le Balcon kết thúc bằng câu nói của chị chủ nhà thổ. Khi cuộc nổi loạn đã bị dẹp, chị nói với cử tọa: “Kịch đến đây là hết. Trời sắp sáng. Mời quý vị trở về nhà. Xin quý vị nhớ cho rằng chẳng phải chỉ ở đây quý vị mới thấy kịch, mới đóng kịch. Ở bất cứ đâu cũng kịch mà thôi. Ở những nơi khác còn kịch cợm, còn giả dối hơn ở đây nữa“.

Hoàng Trinh vừa nói đến câu trên thì khựng lại vì tiếng vỗ tay ồ ạt nổi lên. Quý anh chị văn nghệ sĩ bộ môn Cải Lương ngồi trên lầu Nhà Hát vỗ tay trước. Bọn chúng tôi vỗ theo. Tôi thú thực từ lâu vẫn không coi trọng quý anh chị Cải Lương. Nhưng tôi thán phục quý anh chị quá cỡ khi tôi dự Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị II cùng với quý anh chị và được thấy quý anh chị biểu diễn phản ứng tuyệt vời bằng những cái vỗ tay điệu nghệ thần sầu, quỷ khốc.

Rõ ràng quý anh chị vỗ tay để hoan hô Jean Genet chứ không phải vỗ tay hoan hô Kép Cộng Hoàng Trinh. Những tràng pháo tay ấy của quý anh chị như đã nói thẳng với bọn Cán Cộng:

– Đúng. Kịch cả mà thôi. Chúng tôi đến đây xem các anh đóng kịch và chúng tôi cũng đóng kịch với các anh. Mọi thứ chỉ là kịch!

Trong Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị tháng Bẩy năm 1976, quý anh chị Cải Lương còn phát biểu bằng cách vỗ tay thêm một lần nữa vào ngày bế mạc được tổ chức linh đình ở Nhà Hát Lớn.

Bữa đó, mỗi tổ phải cử một đại diện lên phát biểu cảm tưởng sau khóa học. Ông Nguyễn Hữu Ba đại diện tổ Cổ Nhạc lên máy. Tội nghiệp ông già Nguyễn Hữu Ba. Đã ngắc ngứ, vô duyên, ông còn nói dai. Ông ví cây đàn ghi-ta như người phụ nữ Phi Luật Tân và nói bao nhiêu năm nay bọn đàn địch Sègoòng vẫn ôm người đàn bà Phi Luật Tân nhận làm mẹ mình mà bỏ rơi bà mẹ Việt Nam…

Tội nghiệp ông Nguyễn Hữu Ba vì bọn đàn địch Sègoòng có bao giờ nhận những cây ghi-ta ét-ba-nhon, vi-ô-lông… là đàn Việt Nam đâu. Bọn đàn đúm cũng chẳng bao giờ ôm một người đàn bà Phi Luật Tân mà gọi là mẹ. Nhưng ông có vẻ xúc động ngừng lại khi nói đến bà mẹ Việt Nam bị các con yêu bỏ rơi, bỏ quên, bỏ xó… Ông vừa ngừng lại thì tiếng vỗ tay nổi lên từ lầu Nhà Hát. Một lần nữa, lại quý anh chị Cải Lương Sègoòng vỗ tay. Ông ngẩn người, chờ tiếng vỗ tay ngưng để nói tiếp. Nhưng tiếng vỗ tay không ngưng. Ông còn đứng đó, tất cả còn vỗ tay. Cuối cùng đương sự nhận ra mình bị đuổi và đành phải cúi đầu đi xuống.

Tháng Bẩy 1976 qua lâu rồi, nhưng tôi vẫn nhớ với trọn vẹn sự thán phục hai lần vỗ tay tuyệt vời của quý anh chị Cải Lương. Tôi càng thán phục vì thấy nhiều người trong giới đó khi bị buộc phải lên micro phát biểu đã tránh né rất khéo như Bạch Tuyết chỉ ngâm một bài thơ của Chế Lan Viên, và Ngọc Chánh nhắc nhở thật vắn tắt “Anh em biết nhạc nên tích cực tham gia hoạt động ngay trong phường, trong quận của mình, không nên đòi hỏi như ngày trước“.

Trong lúc thán phục những anh chị em Cải Lương làm được những việc như thế, tôi lại không tránh nổi hổ thẹn. Tôi hổ thẹn vì đã phải vác mặt mo đến dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị này, và càng hổ thẹn vì đã thấy những tên văn nhân vô hạnh tự nguyện nâng bi bọn chiến thắng bằng những lời lẽ ghê tởm.

Trong một buổi các Tổ học tập phát biểu ý kiến, tôi thấy mình như cái ruột xe đạp sì hơi khi phải ngồi chết dí nghe một em thương nữ nói thao thao:

– Cách mạng mới vào, em cũng sợ lắm. Em từng nghe nhiều chuyện không hay về cách mạng. Những ngày đầu em cũng hoang mang. May mắn em được chị Kim Cương dẫn dắt. Em đi hát và trong một lần trình diễn em thấy cử tọa nghiêm túc nghe em hát, tán thưởng, cổ võ đúng lúc. Em nghĩ đây mới thật là chỗ đứng của người nghệ sĩ. Em phấn khởi nghĩ “Đây mới thực là chỗ đứng của mình…

Không biết em tự nghĩ ra những lời ấy hay được ai mớm nhưng em nói như nước chẩy mây trôi, nói hết sức lưu loát. Em nói em sẽ chỉ hát cho bọn ViXi nghe vì chỉ bọn ViXi mới tôn trọng con người nghệ sĩ, mới thấy rõ tài năng của em

Cũng em thương nữ này lại xuất hiện trong ngày bế mạc Khóa Bồi Dưỡng và phăng phăng kể chuyện Tổng Thẹo mê em, trong đêm Liên Hoan kỷ niệm Ngày Thành Lập Sư Đoàn 9 Bộ Binh, Tổng Thẹo cứ đeo nhẩy với một mình em hoài khiến em phải nhắc: “Ở đây có nhiều cô… Tổng Thống nhẩy với cô khác đi. Bài nào Tổng Thống cũng nhẩy với em, người ta thấy kỳ quá…” Và em kể lúc đó Tổng Thẹo đã trả lời em hết sức văn huê như sau: “…Cái đinh đã đóng vào cột rồi, đâu có dễ gì nhổ ra…

Câu chuyện khiến người nghe phải cười như mếu ấy của em thương nữ “Cái Đinh Đóng Cột” lại được một anh ca sĩ mới ngày nào nổi tiếng ca cho Lính nghe hưởng ứng. Anh cũng bôi cứt lên mặt cái giới của mình bằng cách kể lại những trò ma tịt đại để như:

– Chị Phen Hường Tỏi có cái xe Mátđa thì chị Phen Hường Riềng cũng phải có cái Đátsun. Những nữ ca sĩ Sài Gòn muốn nổi tiếng phải đi qua cái giường

Tôi đã ngơ ngác trước sự hăng say tự nguyện bôi bẩn, tự nguyện lăng mạ ngu xuẩn như thế. Nhưng tôi nhớ tới câu thơ cổ “thương nữ bất tri vong quốc hận” và nhớ đến một thành ngữ là “xướng ca vô loại“.

Mọi chuyện cũng thường tình với những con người như thế. Tôi không ngạc nhiên và hoàn toàn không ngạc nhiên vào hai mươi mùa sầu riêng trổ gai sau ở Hoa Kỳ, khi nhìn thấy hình em thương nữ nọ trên một băng vidéo. Em đã vượt biên sau Khóa Bồi Dưỡng ấy và đã ca hát trở lại ở Hoa Kỳ. Lúc này, anh cò mồi của em hỏi sao em hát hay thế, em trả lời em “hát bằng trái tim“. Tôi chỉ thắc mắc không biết những năm 1976-1977 ở Sài Gòn, em hát cho bọn ViXi nghe bằng cái gì và tại sao em lại bỏ cái chỗ đứng thực sự đúng của em mà em đã tìm được như lời em nói vào buổi chiều hôm đó?

Tôi nhắc lại chuyện của em thương nữ này do có thể coi là điển hình cho tính cách của một số người văn nghệ liên hệ tới câu chuyện về Nếu Đi Hết Biển của Trần Văn Thủy, cụ thể là những nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác.

Cũng như em thương nữ “Cái Đinh Đóng Cột” kia, nhà văn Nguyễn Mộng Giác cùng có mặt trong tổ Thi Văn với chúng tôi vào tháng Bẩy 1976 tại Sài Gòn đã hăng say phát biểu đến nỗi tổ viên Cao Nguyên Lang phải hậm hực lên tiếng và sau đó nói với tôi:

– Trước kia nó viết trong số những độc giả của Kim Dung có những người từng đi kháng chiến nhưng thất vọng với kháng chiến nên bỏ về thành, nay nó nói những người đó là bọn phản bội kháng chiến.

Trong cái gọi là buổi học cuối cùng của Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị II, tôi được anh chị em trong Tổ Thơ Văn bầu làm đại diện để phát biểu vào dịp bế mạc. Khi được bầu, tôi nghĩ đến chuyện phải nói thế nào trước bọn cộng sản và trước anh em. Tất nhiên tôi không thể nói bướng. Nhưng tôi cũng không thể mở miệng ca tụng cộng sản hay tự nhận mình bao nhiêu năm sống mắt mù, tai điếc nay nhờ Đảng mới được sáng mắt, sáng lòng.

Nhưng vào lễ bế mạc, bọn trong cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng không hỏi gì đến tôi. Rồi đại biểu Tổ Thơ Văn lên phát biểu là ông Nguyễn Mộng Giác.

Buổi chiều trời mưa lạnh ở Sài Gòn Tháng Bẩy năm 1976, ông nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã thành khẩn xưng tội rất dài trước 500 người trong Nhà Hát Lớn để đi đến kết luận:

Cám ơn Đảng đã cho tôi được sáng mắt, sáng lòng!

Một lời nói, một đọi máu! Mấy chục năm rồi, tôi vẫn nhớ từng lời từng người trong buổi chiều xưa ấy ở Nhà Hát Lớn. Và, vì đã nghe ông Nguyễn Mộng Giác nói nhờ Đảng, ông được sáng mắt, sáng lòng từ năm 1976 – dù sau khi nói thế ông cũng ù té vượt biên.

Tâm trạng tôi đang có lúc này cũng là tâm trạng tôi đã có vào lúc nghe ông Nguyễn Mộng Giác nói. Lúc đó, tôi u uất đến độ không thể đạp xe về căn nhà tối của vợ chồng tôi mà đến nhà ông anh kết ngãi ở đường Ký Con để nói với ông vài câu, uống chạc của ông mấy ly rượu cho bớt sầu đời. Thấy tôi vào, ông hỏi:

– Làm cái gì mà mặt mũi cậu trông ghê như mặt tù cải tạo vậy?

Tôi rầu rĩ trả lời:

– Hôm nay tôi ngồi với một số người tự bốc cứt vứt lên mặt họ. Tôi không làm việc ấy nhưng vì tôi ngồi cạnh họ nên cứt văng sang mặt tôi.

Xin cám ơn quí bạn đã đọc đến những dòng viết này của tôi. Và đọc đến đây chắc quí bạn cũng thấy những chữ sáng mắt, sáng lòng được ông nhà văn Nguyễn Mộng Giác từng nói không mang chung ý nghĩa với hai chữ sáng mắt trong câu chuyện về nhạc sĩ Văn Vĩ vào cuối năm 1975. Nhạc sĩ Văn Vĩ nổi tiếng đã lâu về tài đàn và mọi người còn biết rõ ông bị đui cả hai mắt. Chuyện kể rằng sau 30 tháng 4 năm 1975, có người trông thấy nhạc sĩ Văn Vĩ đạp xe chạy veo veo trên đường Bàn Cờ, bèn níu lại hỏi:

– Kìa…! Phải ông là ông Văn Vĩ không? Ông sáng mắt bao giờ thế?

Nhạc sĩ Văn Vĩ trả lời:

– Đảng vào Sài Gòn, mắt tôi sáng ra!

Tránh sao nổi nỗi đau khi một sự việc mà ngay người mù cũng thấy rõ là ghê tởm lại vẫn có những kẻ còn đủ cả hai mắt, nhất là những kẻ thuộc giới cầm bút tức là không thể thiếu tim thiếu óc, hết lời xưng tụng là mật ngọt hoa thơm và chê trách những ai không chịu hùa theo mình tâng bốc thứ ghê tởm ấy.

(Hết Chương 21)

Share this post