Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 23

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 23

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 23

Phê bình Nắng Chiều của Phan Khôi, người viết Đoàn Giỏi viết:

“…Cũng cần nói vào mặt Phan Khôi rằng: Vì chính sách đoàn kết của Mặt Trận Dân Tộc, vì Đảng ta sẵn lòng quên những tội lỗi của những người có tội và tạo mọi điều kiện để đưa họ về con đường chính, vì lòng nhân đạo của Đảng muốn nhặt những kẻ dưới bùn lên mà chùi rửa cho, giúp cho họ trở lại làm người, vì thế mà Phan Khôi vẫn được đãi ngộ rộng rãi, ăn lương nhân sĩ, không phải làm gì cả, viết hay dịch sách thì hưởng tiền nhuận bút. Để rồi chửi Đảng, chửi chế độ. “Một chức quan, ông ấy tưởng người ta báu cái chức quan của ông ấy lắm đấy”. Phan Khôi ăn cháo, đá bát, hợm hĩnh, tự đánh giá mình là cao to, nhưng cái mặt thật của y không ai lạ gì. Phan Khôi chống lại cái chế độ đã cứu vớt cho mình, thì Phan Khôi rơi nguyên hình là một tên chống phá cách mạng.

Bây giờ – mà có phải mới bây giờ đâu – cái bộ mặt thật của Phan Khôi đã bị lột trần ra, cũng nhiều khi tự y lột trần ra. Phan Khôi là một tên giảo quyệt, phản phúc, một tên làm tay sai cho đế quốc lợi dụng sự khoan hồng của cách mạng và chính sách đãi ngộ rất tốt của Đảng để chống lại Đảng, chống lại chế độ. Không có cơ hội thì nằm yên, dùng cách nói bóng gió, xuyên tạc, xách mé; có cơ hội thì vùng lên ra mặt chống đối hẳn hòi như thời kỳ tác quái của báo Nhân Văn“.

Bạn vừa đọc một đoạn trích trong bài viết về nhà văn Phan Khôi đăng trong tập Trăm Hoa Đua Nở, tài liệu về cuộc đấu tranh đòi tự do tư tưởng của nhóm văn nghệ sĩ được gọi là Nhân Văn – Giai Phẩm ở Hà Nội những năm từ 1956 đến 1959. Ông Phan Khôi công kích chính sách đàn áp tư tưởng văn nghệ sĩ của Việt Cộng. Ông bị những người cộng sản Hà Nội coi là tử thù. Họ nhục mạ ông bằng đủ những mánh khóe đểu giả, những thủ đoạn bỉ ổi nhất, những lời lẽ đê tiện nhất.

Tác phẩm cuối cùng của ông Phan Khôi là Nắng Chiều viết những năm 1955-1956 ở Hà Nội. Là hội viên cái gọi là Hội Nhà Văn, ông đưa bản thảo Nắng Chiều cho ban chấp hành Hội Nhà Văn để họ xuất bản; bọn đàn em của Tố Hữu trong hội này ém luôn tác phẩm. Cho đến nay tác phẩm cuối cùng của nhà văn Phan Khôi bị coi như mất tích. Ông qua đời năm 1959. Ông có anh con trai là Phan Thao, đảng viên cộng sản cấp lãnh đạo, có bà con gái là Phan Thị Mỹ Khanh, có cháu gái ruột gọi ông bằng bác là Hằng Phương, vợ Vũ Ngọc Phan tác giả Nhà Văn Hiện Đại. Ba người vừa kể đều sống ở Hà Nội nhưng họ đã để mất mộ ông Phan Khôi. Bây giờ không ai biết nắm xương tàn của nhà văn nằm ở nơi đâu.

Nắng Chiều không được xuất bản nhưng bọn Tố Hữu vẫn cay cú, viết bài lên án tác giả căn cứ trên Nắng Chiều. Người viết bài phê bình trên đây là một cán bộ văn nghệ tay sai ký tên Đoàn Giỏi. Anh này chỉ viết bài mạ ly ông Phan Khôi qua tác phẩm Nắng Chiều xong là biến mất. Cái tên Đoàn Giỏi không bao giờ còn xuất hiện trên các báo Đảng.

Việt Cộng chuyên nói đến việc cải tạo con người. Họ coi con người tư sản – nói cho dễ hiểu họ coi tất cả những người không phải đảng viên cộng sản đều sa đọa, trụy lạc về tinh thần, bẩn thỉu, tồi tàn trong thói sống. Họ bắt tất cả mọi người đều phải cải tạo dưới sự chỉ dậy, dẫn dắt của những đảng viên cộng sản. Họ nói tất cả mọi người đều phải cải tạo để trở thành con người mới sạch sẽ, xứng đáng làm người. Anh Tổng Bí Đé Lê Duẩn ăn ở đểu giả nhất thiên hạ luôn miệng nói đến “con người mới xã hội chủ nghĩa” có đủ hàng trăm đức tính mà chính anh, anh không có được một.

“…Vì Đảng ta sẵn lòng quên những tội lỗi cũ của một người và tạo mọi điều kiện để đưa họ về con đường chính, vì lòng nhân của Đảng muốn nhặt những kẻ ở dưới bùn lên mà chùi rửa cho, giúp cho họ trở lại làm người…

Đây không phải một câu những người Bắc Việt Cộng đặt ra. Nga Cộng nói câu ấy từ những năm 1925. Tầu Cộng nói câu ấy từ năm 1950. Bắc Việt Cộng học mót chỉ bắt chước nói theo. Điều cần nói là cái trò cải tạo con người của bọn cộng sản là chuyện nhảm nhí, vì trên thực tế, họ không cải tạo được ai cả mà họ cũng không muốn cải tạo ai cả. Họ chỉ lợi dụng hai tiếng cải tạo để bắt người khác vào tù, bắt người khác cực khổ hơn trâu ngựa và họ gọi việc đó là cải tạo con người. Những người bị họ “cải tạo” thường trở nên hèn hạ hơn, khốn nạn hơn. Chuyện “Đảng chùi rửa cho nhân dân được sạch sẽ” làm tôi nhớ một chuyện tôi nghe những năm 1981-1982.

Miền Bắc XHCN có nhiều chuyện tiếu lâm chính trị đả kích bọn cộng sản cầm quyền, nhiều chuyện đặc biệt của Việt Nam, không phải loại chuyện tếu chửi cộng sản của những nước tư bổn Pháp, Mỹ chúng ta thường nghe trước năm 1975. Những chuyện chửi cộng sản của tư bổn không hay ho, không thấm thía, không cay độc so với những chuyện tiếu lâm chính trị do chính những nạn nhân cộng sản sáng tác.

Tôi cho chuyện kể lại dưới đây không phải chuyện tiếu lâm mà là chuyện ngụ ngôn, một thể tài cao hơn, sâu sắc hơn, giá trị hơn chuyện tiếu lâm. Chuyện kể:

Chuột bị Mèo đuổi, chạy vào đường cùng, hết lối, thấy Bò đứng đó bèn năn nỉ:

– Anh làm ơn cứu tôi. Thằng Mèo nó đuổi bắt tôi, nó sắp đến, bắt được tôi là nó ăn thịt tôi. Anh không cứu tôi thì tôi phải chết…

Bò nói:

– Tao với thằng Mèo không thù oán gì nhau. Nay tao cứu mày, nó thù tao, đâu có được.

Chuột năn nỉ, Bò nói:

– Tao cứu mày bằng cách này vậy, góc kia có lỗ hổng, mày chui vào đấy, tao ị một bãi phủ kín bên ngoài. Mày cứ ở yên trong ấy, thằng Mèo nó đến không thấy mày nó phải bỏ đi.      

Chuột chịu. Bò làm như lời, xong Bò đi nơi khác. Mèo đến, tìm quanh, không thấy Chuột, đang tính bỏ đi…

Chuột nằm trong đống phân, yên chí thoát chết, khoái chí ve vẩy đuôi. Mèo nhìn thấy có vật gì ngọ nguậy trong đống phân bò, bèn sinh nghi, bới ra, tóm được Chuột. Mèo đem Chuột đi rửa thật sạch rồi ăn thịt Chuột ngon lành“.

Một loại ngụ ngôn. Bài học Luân Lý Giáo Khoa Thư Lớp Dự Bị của chuyện là “thằng nào nó cho mình ăn chơi, rượu chè, trai gái, cờ bịch, nói rõ hơn là nó cho mình sống bẩn, là thằng thương mình, thằng nào muốn mình sạch sẽ là thằng nó giết mình…

Nếu hiện đại hóa chuyện ngụ ngôn trên, tức nếu áp dụng chuyện vào đời thật, ta có thể cho anh cu làm cho ta sống bẩn là anh Tư Bổn, anh cu luôn mồm đòi ta sống sạch, bắt ta sống sạch là anh Cộng Sổn. Tư Bổn đi đến đâu là ở đó có nạn đĩ điếm – Sờ Nách Ba Sài Gòn 1965-1972 – nạn sì ke, ma túy, nạn gia đình đổ vỡ. Cộng Sổn đi đến đâu là ở đó có nạn bùng nổ nhà tù, trại cải tạo, ở đó có đói rách, đểu giả, bẩn thỉu, ngu dốt.

Khi nghe chuyện trên những năm 1980 tôi thấy chuyện ý tứ thâm trầm quá xá. Chưa từng nghe, chưa từng đọc thấy trong những sách báo Âu Mỹ. Tôi tưởng đó là chuyện do những người dân thù ghét cộng sản ở Hà Nội nghĩ ra. Trong hai mươi năm trời tôi vẫn tưởng như thế. Điều ngẫu nhiên ly kỳ là Tháng Ba 2002, ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, Đất Tình Nhân, Xứ Trinh Nữ, Nước Kỳ Hoa, buổi sáng tôi viết đoạn chuyện “Chuột, Bò Mèo” trên đây, buổi tối tôi nằm khoèo xem phim Mỹ trên ti-vi Sony Nhật.

Phim HBO hay Cinema?

Không nhớ! Chỉ biết đó là phim The Assassins, loại phim danh từ hiện đại là phim Thriller, phim Action. Sylvester Stallone trong vai chính – Sylvester Stallone diễn viên nổi tiếng hai mươi năm xưa với vai Rambo, biệt kích Xê Kỳ một mình, một súng đánh quân Liên Xô tơi tả lá hoa ở Afghanistan. Mấy phim Rambo đều có mặt trong những nhà cho mướn phim video ở Sài Gòn, dân Sài Gòn rất khoái xem phim Rambo. Việt Cộng rất cay cú, thâm thù Rambo (báo Việt Cộng từng loan tin Sylvester Stallone, anh kép Mỹ đóng vai Rambo, thời đói rách từng đóng phim Sex). Trong The Assassins, Sylvester Stallone và Antonio Banderas là hai tay giết mướn, đào Julianne Moore là vai nữ trong phim.

Đào xi-nê Mỹ thập niên 1990-2000, kể cả những đào bạc mười triệu, hai mươi triệu U-ét-Đê một phim, những đào xi-nê nổi tiếng, những nữ minh tinh nhà táng, siêu sao, như Sharon Stone, Kim Bassinger, Demi Moore… đóng phim ở truồng chăm phần chăm là chuyện thường. Các nữ minh tinh Mỹ sẵn sàng đóng những vai không phải từ đầu phim đến cuối phim đều ở truồng mà là có đôi lúc phải ở truồng hai, ba phút, ở truồng và làm tình. Nhiều bộ phim Mỹ hiện đại, tức năm bi giờ, dường như phim nào cũng phải nhồi nhét vào vài xen đàn bà, con gái ở truồng, ít lắm cũng hở vú, hở mông, không có là phim không hấp dẫn khán giả. Nhưng cũng có nhiều đào Mỹ không chịu đóng những vai nữ ở truồng, vẫn có nhiều phim Mỹ từ đầu đến cuối không có cảnh làm tình, không có vai nữ ở truồng nào cả mà vẫn hay, vẫn hấp dẫn, vẫn ăn khách, như phim Proof of Life – đào Meg Ryan đóng với kép Russell Crowe. Siêu đào Meg Ryan người dẹt như tấm ván, không có một xu teng vú vê, mông bẹn, đóng phim có duyên, thật hay, đào Julianne Moore trong phim The Assassins cũng là đào diễn xuất, không phải đào trình diễn vú vê. Julianne không còn trẻ lắm, vú vê cũng không có gì đáng nói, nhưng diễn xuất hấp dẫn ngang Meg Ryan.

Trước 1945 nước ta được chia làm ba kỳ, Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ. Riêng Bắc kỳ có trò hát cô đầu. Những em hành nghề cô đầu trong những nhà cô đầu ngày xưa ấy chia làm hai hạng: cô đầu hát và cô đầu rượu. Cô đầu hát, dễ hiểu như tên gọi, là cô đầu hát cho khách nghe. Cô đầu hát không đi khách, tức không nằm với khách như cô đầu rượu. Cô đầu hát làm văn nghệ, cô đầu rượu mãi dâm. Tình hình đào xi-nê Mỹ hiện nay không giống hẳn như thế nhưng ta cũng có thể chia đào xi-nê Mỹ ra làm hai loại: đào diễn và đào vú.

Những năm 1960 xanh thắm ở Sài Gòn, trong nhiều năm tôi giữ cái trang gọi là trang điện ảnh của nhật báo Ngôn Luận và trang điện ảnh của tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi cũng viết bài về điện ảnh cho tuần báo Kịch Ảnh của Quốc Phong. Gọi là “viết về điện ảnh” thực ra thời ấy tôi mù tịt về điện ảnh. Việc “viết về điện ảnh” tôi làm thời ấy là việc tôi dịch những tin đào Elizabeth Taylor bỏ chồng là kép Eddie Fisher để lấy kép Richard Burton, kép James Dean đụng xe bể gáo, đào Marylin Monroe đi thăm binh sĩ Mỹ đánh Tầu Cộng ở nước Triều Tiên, đào Sophia Loren không thể làm vợ chính thức của đạo diễn Roberto Rosellini vì luật Công giáo La Mã không cho phép người Công giáo đã ly dị nhưng vợ hay chồng cũ vẫn còn sống được phép làm lễ hôn phối với người mới v.v… Những tin ấy lấy ở hai tờ Ciné Revue, Cinémonde của Pháp, tôi dịch nguyên con những truyện phim trong tờ Mon Film cũng của Pháp. Toàn dịch, toàn lấy của người, chẳng có xu teng nào là ý kiến của tôi cả, phê bình, phê lọ lại càng không có.

Tâm viên, ý mã, chúng ta trở về với phim The Assassins.

Sylvester Stallone, Antonio Banderas trong phim The Assassins là hai tay giết mướn cùng được trao việc đi giết một nạn nhân. Hai anh tranh nhau chức Đệ Nhất Sát Thủ Thế Giới. Ngoài việc giết nạn nhân, hai anh còn giết nhau, vì ghen tài, vì cạnh tranh. Đào Julianne Moore ở phe Stallone. Stallone vào ngân hàng lãnh 20 triệu đô-la, Moore ngồi ở tiệm cà phê trước cửa ngân hàng, chờ thấy Banderas xuất hiện là báo tin cho Stallone. Hai người nói với nhau bằng máy liên lạc của điệp viên – chốt nghe để trong tai, chốt thu tiếng gài ở ve áo. Ngân hàng phải giao tiền mặt nên phải lo khá lâu. Cuộc chờ đợi kéo dài mấy tiếng đồng hồ, đào Moore bị suýt-păng Hít-Cốc, chịu không nổi sự căng thẳng tinh thần, nàng nói chuyện linh tinh với Stallone.

Hết chuyện để nói nàng kể chuyện ngụ ngôn:

– Em kể anh chuyện này nghen. Con chim bị nạn sa xuống đất. Có con bò thương chim sẽ bị mèo chó vớ được ăn thịt nên bảo chim chui vào một lỗ hổng nơi chân tường, làm một bãi phân phủ bên ngoài, che chở cho chim. Chim ở trong đống phân bò khoái chí cất tiếng hót. Mèo đi tới nghe tiếng chim trong đống phân, bèn bới ra, bắt chim đem đi rửa sạch rồi ăn thịt.

Nàng kết luận:

– Ở đời, người làm ta xấu, ta bẩn, chưa chắc đã có ý hại ta, người làm ta sạch, ta đẹp, chưa chắc đã tốt với ta…

Tôi thấy sự ngẫu nhiên thật ly kỳ. Tôi nghe chuyện ngụ ngôn trên từ những năm 1980 ở Sài Gòn thủ đô quốc gia quê hương tôi. Mới hồi sáng, tôi viết lại chuyện đó, giờ đây tôi nghe chuyện kể trong một phim Mỹ. Nếu không xem phim The Assassins tôi sẽ mãi tưởng chuyện Chuột Bò Mèo là một ngụ ngôn do những người thù ghét cộng sản ở Hà Nội sáng tác.

Phải nhận đây là chuyện ngụ ngôn Âu-Mỹ, nhưng cũng phải nhận chuyện được người Việt kể lại, thêm thắt, phóng tác hay hơn, ý tứ hơn, có lý hơn. Chuyện sâu sắc hơn, có tính tố cáo tội ác cộng sản cực mạnh khi được nhân dân kể trong những nước bị cộng sản nắm quyền. Tôi còn nghe được hai chuyện ngụ ngôn khác nữa. Xin kể:

Thuở khai thiên, lập địa, Ngọc Hoàng Thượng Đế muốn biết loài nào khỏe nhất nên sai để một xe đá dưới chân núi, hẹn loài nào kéo được xe đá lên đỉnh núi sẽ được tuyên phong là loài khoẻ nhất. Xe đá nặng quá, không loài nào kéo nổi. Hổ, báo, voi, gấu đều chịu, riêng loài trâu kéo được. Nhưng kéo được xe đá lên đỉnh núi Trâu mệt quá, đứt ruột, vỡ bụng, ngã ra chết.

Thượng Đế sai sứ giả xuống trần xem loài nào kéo được xe đá lên đỉnh núi. Sứ giả xuống đến nơi thấy mùi hôi thối quá nên chỉ đứng xa gọi lớn:

– Loài nào kéo được xe đá lên đây, cho ta biết để ta báo cáo lên Thượng Đế, sẽ phong cho danh hiệu Loài Khỏe Nhất?

Bọn ruồi nhặng đang xúm xít ăn bộ đồ lòng của Trâu nghe hỏi bèn thưa:

– Bẩm ngài… chúng con là loài Ruồi. Ruồi kéo được xe đá lên đây.

Sứ giả về thiên đình báo cáo đúng lời. Trời phong loài Ruồi là loài Khỏe Nhất. Từ đó trong mọi yến tiệc, khi cỗ bàn thịt cá bầy ra loài Ruồi đều được ăn trước“.

Chuyện thứ hai:

Ông chủ trại kia nuôi một đàn chó. Mỗi lần ông đi thăm trại, mấy con chó lăng xăng chạy trước ông, chạy quanh ông, tìm bắt cầy cáo, tỏ ra sẵn sàng hy sinh tính mạng bảo vệ ông nếu có gì nguy hiểm cho ông. Ông thương mấy con chó này, cho là chúng tốt, chúng có ích nên cho chúng ăn nhiều, săn sóc, vỗ về chúng.

Có một con chó không săn bắt cầy cáo, không lăng xăng chạy quanh chủ, nó chỉ đi theo sau chủ nên ông cho là nó lười biếng, ông không cho nó ăn nhiều như những con kia. Đến một hôm ông chủ đang đi bỗng có con hổ nhẩy ra, bọn chó thường ngày vẫn lăng xăng quanh chủ thấy hổ sợ quá cúp đuôi chạy hết. Chỉ có con chó vẫn bị coi là lười biếng, vô dụng nhẩy ra cắn nhau với hổ, liều mạng bảo vệ chủ. Nhờ nó ông chủ thoát chết. Nhưng chó bị hổ cắn bị thương nặng sau đó nằm thoi thóp rồi chết. Đến lúc ấy ông chủ mới thương nó, ông mới biết giá trị nó, ông làm cỗ cúng nó nhưng than ôi, nó đã chết rồi, nó đâu có còn ăn được. Cỗ bàn cúng nó lại để cho bọn chó hèn nhát kia ăn“.

Kinh nghiệm tôi có về chuyện ngụ ngôn Chuột Bò Mèo làm tôi không quả quyết chuyện con chó hy sinh vì chủ là chuyện do những nạn nhân của cộng sản ở miền Bắc sáng tác. Nhưng dù đó là chuyện do nhân dân Bắc Kỳ cay cú cộng sản đặt ra hay của thiên hạ họ lấy dùng, ta cũng thấy chuyện đó nói lên sự uất ức của người dân miền Bắc bị Đảng bỏ đói, đày đọa, họ uất hận khi thấy bọn đảng viên không có công lao gì mà được ưu đãi, được no đủ trong khi họ bị hy sinh mà chịu đói rét.

Tôi có một théc méc: Dường như dân tộc ta khá nghèo về loại chuyện tiếu lâm. Ta chỉ có một số chuyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn không ý nhị, không sâu sắc gì lắm, vì những chuyện Ba Giai, Tú Xuất chỉ là những chuyện nhảm nhí về hành động của hai nhân vật ba que, xỏ lá, đùa cợt đểu giả, đa số chuyện còn có tình tiết vô lý, ngu xuẩn – những năm 1900 ở đồng đất Bắc Kỳ tên lưu manh nào chơi trò phá người như Ba Giai, Tú Xuất chỉ có thể bị người ta đánh cho hộc máu. Những chuyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn của ta xẩy ra vào thời Lê Trịnh:

Trạng chết, Chúa cũng băng hà
Dưa gang đỏ đít, thì cà đỏ trôn…

Chuyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn không nhạo báng Vua Lê, chỉ làm lố bịch Chúa Trịnh và hạ thấp cung đình Lê Trịnh xuống hàng xã tổng. Trạng thành anh lẻo mép ở trong làng, vợ Chúa Trịnh thành bà vợ Chánh Tổng:

Trạng Quỳnh đứng bên bờ ao. Kiệu Bà Chúa đi qua, Bà Chúa ngồi trong kiệu, hỏi Trạng:

– Ông Trạng đứng làm gì thế?

Trạng trả lời:

– Tôi đứng đá bèo”.

Những chuyện tiếu lâm Trạng Quỳnh, Trạng Lợn của ta được nhân dân sáng tác vào cuối đời Lê thì đến nay thời gian đã bao nhiêu năm? Cứ cho là hai trăm năm mươi năm đi, đã hơn hai thế kỷ! Bao nhiêu hưng phế, bao nhiêu triều đại: Nhà Nguyễn Tây Sơn, nhà Nguyễn Gia Long, một trăm năm thuộc Pháp, Nhật cầm quyền, Nhật đầu hàng, Tầu Phù sang, Pháp trở lại, Pháp cuốn gói, Mỹ đến, Mỹ cuốn cờ, Mỹ trở lại v.v… Bao nhiêu cười khóc nhưng kho tàng chuyện tiếu lâm của ta vẫn chỉ èo uột có mấy chuyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn ngày xửa, ngày xưa.

Tôi lấy làm lạ: tại sao chuyện tiếu lâm của ta chỉ có ở thời Lê Trịnh rồi ngừng luôn. Trong cả trăm năm ông cha ta không sáng tác chuyện tiếu lâm nữa? Người Pha-lang-sa làm chủ đất nước ta trong cả trăm năm, những ông Tây, bà Đầm gần như sống chung với dân ta, vậy mà trong cả trăm năm ấy ông cha ta không có qua một chuyện nào chế nhạo ông Tây, bà Đầm, không một chuyện nào dùng nhân vật Tây Đầm làm trò cười. Vài chuyện có dính dáng đến Tây Đầm chỉ là những chuyện chế nhạo những anh Việt Nam làm bồi hầu hạ Tây, Đầm, những chú bồi Tây nói tiếng Tây bồi. Chẳng hạn như chuyện Phủ Vĩnh:

Thằng cha Phủ Vĩnh thế mà thâm
Nịnh Bố Cu Tây, cõng Mẹ Đầm.
Đôi vú ấp vai, đầu nghển nghển
Hai tay ôm đít, mặt hầm hầm.
Phen này cứng gối nhờ ơn tổ
Lúc ấy sa chân chết bỏ bầm.
Chẳng thiết mề đay cùng tưởng lục
Đưa tay lên mũi, miệng cười thầm.

Không biết chắc ai là tác giả Bài Thơ Ôm Đít độc đáo trên. Hai câu “Đôi vú ấp vai, đầu nghển nghển / Hai tay ôm đít, mặt hầm hầm” tả cảnh cõng đàn bà đáng được kể là tuyệt diệu hảo từ, là hai câu tuyệt cú tả cảnh cõng đàn bà hay nhất thi văn Việt Nam. Không ai lấy làm lạ khi thấy Bài Thơ Ôm Đít đã thành bài thơ được coi là thi hiệu của nhiều Hội Thơ Việt, mở đầu cuộc họp hội, các thi nhân hội viên trang trọng đồng ngâm Bài Thơ Ôm Đít.

Bài thơ nhạo một ông tri phủ nào đó ở Bắc kỳ ngày xưa cõng bà đầm Công Sứ phu nhân qua chỗ lội – tôi nghi chuyện Tri Phủ cõng Đầm này không có thật – không phải là chuyện nhạo bà Đầm. Tây Đầm thời ông Tú Xương có vẻ được dân Việt kính trọng, ít nhất cũng để qua một bên, ta thấy ông Tú Xương mần thơ:

Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông Cử ngỏng đầu rồng…

Đầu các ông cử nhân, tiến sĩ ta được ví với đít bà Đầm. Các ông Cử của ta im re.

Vài chuyện khác:

Ở một tỉnh miền thượng du, trong đêm có con hổ về gần tỉnh kiếm mồi. Anh Bếp của ông Tây báo cáo chuyện hổ về với chủ:

– Lúy com siêng mè pa siêng, lúy com sa mè pa sa, lúy tí ti dzôn, tí ti noa… Lúy gầm, lúy gừ… Lúy sực me-sừ, lúy sực cả moa…

Lui comme chien mais pas chien, lui commme chat mais pas chat… Lui tí ti jaune, tí ti noir… Lui sực Monsieur, lui sực cả moa…

Phụ đề Việt ngữ:

– Nó giống chó mà không phải chó, nó giống mèo mà không phải mèo, da nó có tí ti vàng, tí ti đen. Nó gầm, nó gừ. Nó ăn thịt ông, nó ăn cả tôi

Hay câu “Lèo lèo mè-dzồng lô, bố cu tết bớp – Elève maison l’eau beaucoup tête boeuf: Học trò nhà nước đầu bò lame…” là chuyện chế nhạo những anh bồi Tây, không phải chuyện chế nhạo Tây chính cống.

Bẵng đi trong hơn hai trăm năm, đến những năm 1960, 1970, 1980 ta thấy chuyện tiếu lâm được nhân dân ta sáng tác thật nhiều ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta nhạo báng không trừ, không nể một anh nào trong tập đoàn đảng viên cộng sản cầm quyền. Chuyện tiếu lâm Bắc kỳ XHCN đã thành chuyện Tiếu Lâm Chính Trị, không còn là những chuyện chế nhạo suông, chuyện tục gây cười ngày xưa. Chuyện Tiếu Lâm chính trị ở miền Bắc thật nhiều, và thật hay. Các anh đảng viên ộng cộng dản rất cay cú, khi nhân dân sáng tác chuyện nhạo báng Vua Chúa, quan lại xưa mấy anh cho việc đó là hay, là đúng, mấy anh luôn luôn nhận nhân dân ở vào phe mấy anh. Khi nhân dân đặt chuyện, làm vè chửi bố mấy anh thì mấy anh gọi đó là việc làm của bọn phản động.

Điều tiếc của tôi là không biết trong tác phẩm cuối cùng của mình, Nắng Chiều, tác giả Phan Khôi đã viết những gì. Nhưng tôi có thể nói chắc là nội dung Nắng Chiều khó thể nằm ngoài cái dòng chảy chung đã được khơi ra bởi những người tha thiết tạo những chuyện tiếu lâm như tôi vừa nhắc.

(Hết Chương 23)

Share this post