Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 25

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 25

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 25

Năm 2001, Nguyễn Chí Thiện và tôi ở gần nhau, tại Virginia, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Hai chúng tôi ở hai thị trấn quanh Washington DC. Hai năm 1999-2000, Nguyễn Chí Thiện sống ở Pháp, ba tháng hè về Mỹ sống với ông anh H.O.

Mỗi lần Thiện về Mỹ chúng tôi đều gặp nhau.

Tất nhiên chúng tôi có trao đổi về chuyện văn nghệ nhưng có một lần thứ chúng tôi nói chuyện qua điện thoại cả hai, ba tiếng đồng hồ về cả chuyện đời tư lẫn chuyện sáng tác thơ văn.

Tôi hỏi, Thiện trả lời và bây giờ, tôi ghi lại những lời Nguyễn Chí Thiện nói.

– CTHĐ: Bài thơ “Ôi Mảnh Đất…” anh làm năm 1967. Đây là nguyên thơ:

Ôi mảnh đất nửa trên hình chữ  S
Ước lìa ngươi, ta muốn được lìa ngươi,
Ta chót yêu ngươi từ thuở lên mười
Ngươi lừa phản nên đời ta mắc kẹt.
Tình yêu đã trở thành thù ghét
Nếu rời ngươi, dù cụt mất một chân
Chặt nốt một tay, ta cũng không cần
Mà coi đó là điều may mắn nhất!
Vì sống gần ngươi là ta mất tất
Vì sống gần ngươi, ta thành súc vật.

Đất nước ta có tội tình gì mà ta thù ghét đất nước ta? Đất nước ta đâu có hãm hại ta, đâu có lừa phản ta? Đất nước ta bị bọn cộng sản tàn phá, tôi nghĩ ta phải thương xót đất nước ta hơn mới phải chứ? Sao ta lại chuyển lòng thù ghét cộng sản của ta vào đất nước? Tôi nghĩ chúng ta có tội khi để đất nước rơi vào tay cộng sản, ta càng có tội hơn khi không cứu được đất nước khỏi tai họa cộng sản.

– NCT: Đất nước ta chẳng bao giờ có tội, nhưng khi bị cộng sản chiếm, đất nước ta trở thành cũi chó, chuồng trâu. Năm 1967, tôi sống trong địa ngục ấy, tăm tối, tuyệt vọng, tôi thấy tôi chỉ có thể sống xứng đáng là sống khi thoát ra khỏi đất nước. Tôi căm giận cộng sản nên tôi hờn giận tất cả, tôi làm thơ:

Giận thân rồi lại giận đời.
Giận thời chuyên chính, giận người hèn ngu.
Giận trời, giận đất âm u.
Giận sông, giận núi quân thù dọc ngang.

Nhiều người cũng nghĩ như tôi. Phải chạy trốn quê hương vì cuộc sống ở quê hương làm ta khổ quá. Để cho cộng sản chiếm quê hương, tất cả chúng ta đều có tội. Có thể khi làm bài thơ ấy tôi dùng từ không được chính xác.

– CTHĐ: Năm 1986 anh làm bài:

Mặt trời về phương Tây
Xà-lim chiều thứ bẩy.
Ôi phương Tây giờ này
Thực mà như mộng ấy!
Kiếp này không được thấy
Kiếp sau đành chờ vậy!

10 năm trước khi anh đến Hoa Kỳ, anh cho là kiếp này anh không được thấy phương Tây, anh đành chờ kiếp sau. Đến hôm nay anh đã sống năm, sáu năm ở phương Tây, anh thấy phương Tây thế nào, anh cho biết đôi chút về cuộc sống của anh ở phương Tây. Phương Tây có đáng để anh mơ ước đến sống không, anh có thấy thương nhớ quê hương không? Anh có thấy tiếc đã bỏ nước ra đi không? Những gì trong cuộc sống của anh ở phương Tây làm anh hài lòng, những gì làm anh thất vọng, bất mãn?

– NCT: Từ ngày mới lớn những hình ảnh của phương Tây, sông Seine, vườn Luxembourg, thành phố Cựu Kim Sơn… đã hấp dẫn tôi. Tôi muốn được thấy tận mắt những cảnh ấy. Năm 1995 tôi rời quê hương sang phương Tây. Sau sáu năm, tôi thấy phương Tây không thích hợp với những người có tuổi, nhiều bệnh, như tôi. Khi đã thấy phương Tây, tôi không còn thích nó nữa. Phương Tây chỉ tốt khi ta du học, du lịch, phương Tây không phải là nơi để tôi sống vĩnh viễn. Ở các nước phương Tây khoa học kỹ thuật phát triển, nhân dân có đời sống vật chất cao, được hưởng nhiều quyền tự do, nhưng cùng lúc, tội ác cũng gia tăng, bạo loạn không ngừng, an ninh của người dân không được bảo đảm. Người phương Tây có thể bị chết đột ngột ở nơi làm việc, trong trường học, trong cả nhà thờ, đời sống tinh thần sa sút, số người chán đời càng ngày càng nhiều. Thống kê cho thấy năm 2000 có 12.000 người tự tử ở Pháp. Sống ở phương Tây, tôi không phải lo về cơm áo, nhưng như những người cùng tuổi, tôi phải sống cô đơn. Tôi không tiếc đã bỏ nước ra đi vì tôi ra đi với ý định tôi sẽ làm ở nước ngoài một số công việc tôi nghĩ có ích cho nhân dân, cho tổ quốc, những việc tôi không thể làm khi tôi sống trong nước. Có xa mới thấy nhớ. Sáu năm rồi, tôi rất nhớ Hà Nội, Hải Phòng, tôi nhớ Sài Gòn dù tôi chỉ sống ở Sài Gòn ít ngày. Tôi rất mong có ngày tôi được trở về quê hương.

– CTHĐ: Từ ngày sang Hoa Kỳ anh có làm bài thơ nào không? Nếu có, anh có thể cho bạn đọc thưởng thức một vài bài thơ mới làm ở hải ngoại của anh không? Nếu không có bài thơ nào mới anh có thể cho biết tại sao?

– NCT: Tôi ngừng làm thơ từ năm 1988 khi tôi ở trại tù B-14, thường gọi là Sà-lim Bộ, ở Hà Đông. Từ năm đó, tôi dành thì giờ và trí óc vào việc học cho thuộc lòng thật kỹ những bài thơ tôi đã làm, sửa chữa, hoàn chỉnh những bài thơ đó. Cho đến năm 1988 tôi đã làm khoảng 700 bài thơ. Thơ Tù quanh quẩn ở mấy đề tài cùm kẹp, đói khổ, khoai sắn, bệnh hoạn chết chóc, tôi đã làm thơ về tất cả những đề tài đó. Với tôi, đề tài tù đày đã cạn kiệt. Đời sống ở xứ người chưa thâm nhập trong tôi đủ để tôi có cảm xúc làm thơ. Từ ngày sang Hoa Kỳ, tôi chỉ làm hai bài thơ. Bài thứ nhất tôi làm ở San Jose năm 1995, mấy tháng sau ngày tôi đặt chân lên đất Hoa Kỳ, khi tôi gặp ở đó bà con gái cụ Vũ Thế Hùng, một tù nhân chính trị đồng tù với tôi. Cụ Hùng có mang vào tù mấy tấm ảnh gia đình, trong số có ảnh cô con của cụ. Trong tù buồn không có việc gì làm, mỗi lần cụ Hùng nhớ gia đình lấy ảnh ra xem, mấy anh tù trẻ xúm lại xin xem ké. Khi đến San José, tôi gặp người tôi đã nhìn thấy trong ảnh mười mấy năm xưa ở Nhà Hỏa Lò. Năm 1995, bà con gái cụ Hùng khoảng năm mươi tuổi. Nhớ lại khi ở trong tù nhìn thấy ảnh bà chụp năm bà mười sáu, mười bẩy tuổi, tôi làm bài thơ “Bóng Hồng Dương Thế“:

Có người con gái mắt bồ câu
Lưu lạc, ly hương từ thuở xuân thì
Đất Mỹ
Trời Âu
Xa lắm!
Nơi rừng sâu
Người cha rầu rầu
Thường mang ảnh con mình ra ngắm
Đêm tù
Âm khí âm u
Mấy chàng trai mắt trũng, chân phù
Thờ thẫn cầm nàng trong tay
Cầm cả mùa xuân hạnh phúc
Bóng hồng dương thế xa bay…

Còn sau đây là bài thơ thứ hai tôi làm ở Hoa Kỳ, năm 1995, “Hồng Vân“:

Bao lâu rồi, có thấy gì đâu
Anh thôi đợi, nhưng cà-phê nguội đắng.
Anh ngồi lặng, nhìn ra phố vắng
Làm bận lòng em, anh biết lỗi từ lâu.
Buổi gặp em như một phép nhiệm mầu
Lòng anh, cảnh trời Đông bảng lảng.
Em hiện ra, thành mượt mà Hè sáng
Tưng bừng huyết phượng nở ngàn bông.
Nhưng thời gian không hơi ấm tình nồng
Hoa phượng đỏ thâm bầm tiết đọng
Trời Đông về, ảm đạm, mênh mông
Lãng đãng bay xa, xa mãi, vết mây hồng.

– CTHĐ: Theo anh, những người chống Cộng như anh có thể làm được những việc gì để tiếp tục sứ mạng của mình ở nước ngoài? Anh có nghĩ rằng những người chống Cộng khi bỏ quê hương ra sống ở nước ngoài là tự chấm dứt sự nghiệp chính trị, văn học của mình không?

– NCT: Vấn đề dư luận người thế giới đối với chế độ cộng sản ở nước ta rất quan trọng. Ta có thể, và ta có bổn phận, làm cho người thế giới biết rõ hơn thảm trạng của nhân dân ta, thấy sự bạo ngược của bọn cộng sản cầm quyền ở nước ta. Tôi không nghĩ rằng những người làm văn học, chính trị khi ra nước ngoài là chấm dứt sự nghiệp của mình. Chúng ta có thể làm được nhiều việc phục vụ nhân dân ta ở nước ngoài lắm chứ. Ngoài việc tố cáo chế độ cộng sản bạo tàn, ta có thể ủng hộ những người đang chống cộng sản trong nước. Như Bùi Ngọc Tấn, khi viết Chuyện Kể Năm 2000 và gửi tác phẩm 600 trang ấy ra nước ngoài, anh chấp nhận hy sinh, có thể lại bị tù tội. Ở nước ngoài chúng ta phải ủng hộ, phải cổ võ những người như Bùi Ngọc Tấn, những người phản tỉnh đang đòi đảng cộng sản phải từ bỏ độc tài, sự giúp đỡ không những chỉ tinh thần mà cần cả tiền bạc. Không phải cứ sống trong nước mới có thể, và là có thể, chống cộng sản. Muốn chống cộng ở trong nước, ta phải có tài, ta phải có can đảm, phải chấp nhận hy sinh, không những chỉ nguy hiểm bản thân mà còn nguy hại cho cả vợ con. Sống ở nước ngoài, ta không viết được về đời sống hiện tại ở quê hương, ta không nắm bắt được ngôn ngữ thời đại, ta không biết những khát vọng của nhân dân, ta không viết được những chuyện hôm nay, chuyện ngày mai của dân tộc, nhưng ta có thể viết về những ngày đã qua, như tôi đã viết về Hỏa Lò, và tôi sẽ viết về đời sống của nhân dân ta dưới ách cộng sản từ ngày tôi mới lớn đến năm 1995 tôi đi khỏi nước. Tôi nhắc lại: đừng quan niệm người làm văn học, chính trị khi đi khỏi nước là chấm dứt sự nghiệp của mình.

– CTHĐ: Xin anh kể vài chuyện chung quanh vụ anh vào Tòa Đại Sứ Anh ở Hà Nội gửi gấm bản thảo Hoa Địa Ngục. Tại sao anh chọn vào Tòa Đại Sứ Anh mà không chọn vào Tòa Đại Sứ Pháp?

– NCT: Tôi đã kể chuyện này năm 1995 khi tôi mới sang Hoa Kỳ, nay tôi kể lại. Tôi vẫn có ý định vào Tòa Đại Sứ Pháp gửi tập thơ nhờ họ mang đi, nhưng Tòa Đại Sứ Pháp có cái sân rộng bên trong, lại có nhiều người làm trong đó là người Việt. Phần lớn những người này làm việc cho công an. Tôi khó vượt qua được khoảng sân rộng để vào tòa nhà mà không bị ngăn chặn. Tối ngày 13 tháng Bẩy năm ấy, năm 1979, Tòa Đại Sứ Pháp mở liên hoan chiêu đãi nhân ngày 14 Juillet, tôi định lợi dụng lúc quan khách ngoại giao đoàn đến dự liên hoan, khi họ xuống xe tôi trà trộn vào họ để chạy vào sứ quán, hy vọng có quan khách ngoại quốc bọn công an sẽ không dám làm dữ. Tối ấy tôi dắt tập thơ trong bụng, đến nơi thấy không thể vào được vì xe hơi không đậu ở ngoài đường mà đi thẳng vào trong sân. Tôi chuyển ý định sang Sứ Quán Anh. Tòa Đại Sứ Anh có sân trước nhỏ hơn, chỉ năm bẩy bước từ cổng là vào đến nhà. Cổng có một tên công an đứng gác. Sáng ngày 16 tháng 7 tôi đi uống cà-phê với anh cháu con bà chị tôi, nó biết tôi sắp liều mạng vào Tòa Đại Sứ Anh. Khi chia tay, tôi bảo nó đi làm đi, mặc cậu. Tôi đi bộ đến Tòa Đại Sứ Anh. Khi đi, tôi lấy dáng bộ tự nhiên, không trông ngang trông ngửa, không quay nhìn lại đằng sau, nên cháu tôi vẫn dắt xe đạp lẽo đẽo đi theo tôi mà tôi không biết. Từ vỉa hè nhìn vào thấy sứ quán mở cửa, trong cửa có cái bình phong che. Tôi tưởng vào đó là tôi gặp ngay nhân viên người Anh của sứ quán, thấy tên công an gác cửa không nhìn ngó, tôi chạy luôn vào. Nhưng vào sau bình phong tôi thấy một căn phòng rộng, có cái bàn lớn kê ở giữa phòng, có ba tên người Việt, hai đàn ông, một phụ nữ, ngồi ở bàn, tôi thấy cánh cửa phòng bọc da đỏ. Vì tấm bình phong che tôi không thấy ba người Việt này, nếu thấy họ, tôi đã không chạy vào. Thấy tôi, một tên hỏi: “Đồng chí có chuyện gì?” Tôi nói tôi là nhân viên Bộ Ngoại Giao, có việc sang gặp ông Đại Sứ. Y hỏi giấy đâu. Làm gì có giấy, tôi nói tôi vẫn gặp ông Đại Sứ luôn, cứ cho tôi gặp ông ấy. Thấy bại lộ, tôi tạt sang một bên, thấy cái phòng nhỏ không có cửa, loại phòng tiếng Pháp là boudoir, trong có một phụ nữ Anh rất trẻ, chỉ ngoài hai mươi, đang đứng chải tóc. Tôi nói tiếng Anh với cô: “Xin cô cứu tôi…” Cô ngạc nhiên nhìn tôi, sợ hãi, tôi nói: “Tôi là người lương thiện, tôi không hại cô, xin cô giúp tôi…” Khi ấy một trong hai tên đàn ông chạy ra ngoài báo động, mụ đàn bà nhào đến ôm tôi, tôi lên gối vào bụng mụ, mụ ngã lăn ra, tôi nhẩy tới lấy hết sức lật cái bàn. Bàn đổ, những đồ vật trên bàn rơi xuống loảng xoảng. Cánh cửa phòng bọc da đỏ mở ra, ba người Anh từ trong phòng bước ra. Tôi nói: “Tôi có tài liệu quan trọng gửi quí ông, xin cho tôi vào phòng…” Tôi lọt ngay vào căn phòng làm việc đó. Vào phòng, tôi rút vội tập thơ dắt trong bụng ra, để xuống chân tường sau cánh cửa, để khi cửa mở người nhìn vào sẽ không thấy tập thơ. Ba người Anh trở vào phòng, hai người trẻ tuổi, một ông trạc bốn mươi, họ đóng cửa lại. Về sau, tôi được biết ông trung niên ấy là vị đại biện lâm thời Tòa Đại Sứ. Tôi nói với ba ông tôi là tù chính trị, tôi có tập thơ nhờ các ông mang về Luân Đôn, xin đừng đưa nó cho bất cứ người Việt nào ở trong nước. Tôi lấy tập thơ đưa cho ông trung niên. Rồi tôi hỏi các ông có thể cho tôi tị nạn trong Tòa Đại Sứ được không? Ông đại diện nói không được, bên ngoài công an đã vây kín Tòa Đại Sứ. Tôi lại đề nghị cho tôi ngồi trong xe hơi từ trong Tòa Đại Sứ chạy ra, đến chỗ nào đó tôi sẽ nhẩy xuống. Ông đại diện cũng nói không thể được. Tôi lấy bịch thuốc vấn của tôi ra lấy một điếu hút. Lúc ấy, tôi có cái bật lửa Zippo đã mất nắp, tôi phải bọc nylon cho xăng khỏi bay. Mấy ông nhìn ngây cái bật lửa quái dị của tôi. Tôi nói nhờ các ông mang tác phẩm của tôi về Anh, trao cho tổ chức người Việt chống Cộng ở bên ấy. Ông đại biện bảo tôi viết tên tuổi, địa chỉ, để lại. Khi tôi cám ơn và từ biệt, tôi bắt tay ba ông. Ông đại biện bắt tay tôi bằng cả hai tay, tôi thấy mắt ông có ánh thán phục. Vừa ra khỏi cổng tôi bị hai công an nắm cổ đi luôn. Họ đưa tôi lên xe hơi, chở tôi vào thẳng Hỏa Lò. Dù tôi có ngồi xe hơi sứ quán chạy ra cũng không thoát được.

Vào Hỏa Lò, tôi bị thẩm vấn ngay. Tôi khai tôi chạy vào sứ quán xin tị nạn. Bọn công an trong sứ quán nghe được câu tôi nói lúc đầu với ba người Anh là tôi có tài liệu quan trọng muốn đưa, nên họ vặn hỏi tôi đưa tài liệu gì vào Sứ Quán Anh. Tôi nói tiếng Anh của tôi loại giả cầy, tôi nói tôi có chuyện quan trọng muốn nói chứ tôi có nói tài liệu gì đâu. Những ngày đầu bọn thẩm vấn rất ngọt với tôi, chúng nói “Anh có đưa tài liệu gì cứ nói, chúng ta sẽ lấy lại tài liệu đó cho tổ quốc không bị thiệt hại, chúng tôi hứa sẽ trả tự do cho anh ngay“. Tôi vẫn nói tôi không có đưa tài liệu gì cả.

Mấy tháng sau đó tôi chờ đợi tin tác phẩm của tôi được xuất bản ở hải ngoại, nếu được xuất bản, bọn công an sẽ biết, chúng sẽ hành tội tôi ngay. Ruột tôi như có lửa đốt mà hết tháng này sang tháng khác, không thấy có gì mới cả. Tôi vẫn bị gọi ra khai cung nhưng chỉ toàn là hỏi những chuyện vớ vẩn. Mãi đến 16 tháng sau, tháng 10-1980, lần ấy ra làm việc tôi được đưa vào một phòng lớn, trong có ba bốn tên công an bự chờ sẵn, tôi hồi hộp biết là có chuyện mới. Lần này, họ cho tôi thấy trang thư tiếng Pháp tôi viết trên đầu tập thơ. Lúc ấy tôi biết tác phẩm Hoa Địa Ngục của tôi đã được xuất bản và đến lúc ấy tôi mới nhận tôi vào sứ quán Anh là để trao cho nhân viên sứ quán tập thơ ấy. Sự việc sau đó diễn ra như tôi đã kể.

Tôi sang Anh Quốc nhiều lần, lần nào tôi cũng đến thăm trụ sở Pen International ở Luân Đôn. Gặp tôi, những ông bà Văn Bút Anh đều nói họ xấu hổ vì nhân viên sứ quán của họ năm 1979 đã không bảo vệ tôi, đã không cho tôi được tị nạn trong Tòa Đại Sứ. Tôi có tìm, và nhờ tìm, ba vị nhân viên sứ quán Anh năm xưa, nhất là ông đại biện, để tôi được cám ơn các ông, nhưng Bộ Ngoại Giao Anh từ chối không tiết lộ danh tính, địa chỉ của ba ông.

– CTHĐ: Phản ứng và thái độ của cộng sản ra sao khi họ biết anh là tác giả bài thơ “Ngày 19-5“?

– NCT: Tôi bị bắt ba lần, lần thứ nhất tù từ 1961 đến 1964, lần thứ hai từ 1966 đến 1977, lần thứ ba từ 1979 đến 1991. Tôi làm thơ, tôi không chép thơ tôi xuống giấy nhưng tôi có đọc thơ tôi cho nhiều người nghe, nhiều người thuộc thơ tôi, phổ biến chúng cho những người khác, có người chép thơ tôi xuống giấy. Những thơ này đến tay công an và tôi bị bắt vì tội sáng tác thơ phản động. Trong lần bị bắt thứ hai, 1966-1977, công an hỏi có phải tôi là tác giả bài “Ngày 19-5” không? Tôi chối. Họ cho tôi xem bài thơ, tôi giả vờ ngơ ngác, nói “Thơ gì mà chửi bới thô tục quá…” Tháng 10 năm 1980, tập thơ của tôi được xuất bản ở Hoa Kỳ. Có quyển thơ ấy, công an vào Hỏa Lò, gọi tôi ra hỏi. Họ cho tôi xem bức thư chữ Pháp viết tay của tôi. Tôi nhận đó là chữ tôi, nhận thư đó tôi viết và thơ trong tập là thơ tôi. Họ nghi không phải chỉ toàn là thơ tôi mà trong tập còn có thơ của người khác, họ khai thác tôi để bắt những người đó. Họ nói nếu là thơ của tôi, tôi phải thuộc, phải nhớ, tôi nói tôi nhớ hết. Họ yêu cầu tôi chép lại những bài thơ của tôi. Tôi nhận lời. Họ thu xếp một căn phòng nhỏ trong Hỏa Lò, ngày ngày một anh công an trên Bộ vào lãnh tôi ra đó ngồi chép thơ. Tôi có trà, thuốc lá, thuốc lào hút thoải mái. Tôi cố tình câu giờ, mỗi ngày chép vài bài, kéo dài những ngày được ra ngồi viết để uống trà, hút thuốc, ăn kẹo bánh bồi dưỡng. Anh công an vào lãnh tôi cùng ngồi với tôi, nhắc chừng tôi viết, đưa giấy bút, thu những trang tôi viết đem ra. Có lần thấy tôi ngồi lâu quá không viết, anh giục tôi. Tôi nói tôi đang nhớ lại. Anh mở cặp lấy ra tập thơ tôi, bản đánh máy, mở xem, nhắc tôi “Bài Đảng dậy tôi… anh chưa chép  lại“! Tôi nói “Đảng đầy tôi! Đảng dậy tôi thế nào được. Vì tôi có trà, thuốc lá nên khi anh công an canh tôi có việc đi ra khỏi phòng, nhiều anh công an Hỏa Lò lợi dụng lẻn vào phòng tôi uống chạc chén nước trà, hút gỡ điếu thuốc, có những anh xem thơ tôi, nói “…Chơi hay quá…“, “Anh ghê thật!“, có anh nói: “Anh là dũng sĩ…” Tôi chép lại được chừng 100 bài thì họ ngưng không bắt tôi ra chép nữa. Khi tôi bị bắt lần thứ hai, 1967-1977, họ không có bằng chứng đích xác bài “Ngày 19-5” là của tôi, nhưng họ biết tôi làm nhiều thơ phản động, họ nói “Lần trước, để anh ra khỏi tù là một sai lầm lớn của chúng tôi, lần này chúng tôi không phạm sai lầm đó nữa…” Năm 1979, khi nghi tôi vào Tòa Đại Sứ Anh gửi tập thơ, họ mỉa tôi “Diêm Vương sẽ xuất bản tác phẩm của anh, giun nó sẽ đọc thơ anh!” Khi tôi phù thũng, họ cười hỉ hả “Béo tốt quá nhỉ?” Họ nói rõ “Đảng không cần giết các anh, các anh sẽ chết trong tù…!” Nếu Đông Âu không tan, Liên Xô không đổ, nếu chủ nghĩa cộng sản không thất bại, tôi chết trong tù thôi, làm sao tôi trở về đời được!

oOo

Nguyễn Chí Thiện tới Mỹ năm 1995.

Năm 1996, thi phẩm Hoa Địa Ngục Tập II được xuất bản trong đó Nguyễn Chí Thiện kể lại nơi bài Tựa về một số nỗ lực của anh để có được những bài thơ:

– Vì năng lực hạn chế, tôi làm thơ rất vất vả, mất nhiều công sức, thời gian… Làm xong mỗi bài thơ phải sửa chữa rất nhiều. Tập thơ này tôi làm từ năm 1978 tới năm 1988, được hơn bốn trăm bài. Năm 1988 vì quá yếu tôi không làm thơ nữa, dành thì giờ để học thuộc. Ngày nào tôi cũng đọc lại trong đầu trọn vẹn hơn bốn trăm bài. Cứ đọc như thế trong gần một ngàn ngày, tôi thuộc làu làu như một cuộn băng. Có những ngày mưa rét, vừa nhẩm đọc, vừa ứa nước mắt, lưng dựa vào tường, người run rẩy. Tới cuối năm 1990, tôi từ trại Thanh Liệt chuyển đi Ba Sao. Lúc đó tôi bị bệnh đau đầu, không nhẩm đọc thơ nữa. Tôi cũng chủ quan cho rằng thuộc đến thế, thời không thể quên nổi. Tháng 10-1991 tôi được tha. Về nhà, định chép thơ ra giấy rồi giấu đi, tôi thấy quên gần hết. Thì ra đầu óc tôi không còn như trước nữa, suy yếu nhiều. Tôi phải mất hơn một năm trời nằm vặn óc ra mới nhớ lại được hơn ba trăm bài. Còn độ một trăm bài thì không thể nhớ nổi“.

Và, sau đây là vài bài thơ của Nguyễn Chí Thiện trích từ thi phẩm Hoa Địa Ngục, tập II:

Tôi không tiếc khi bị đời sa thải
Thân thể vùi, tan rữa, hóa bùn đen.
Nhưng vần thơ trong đêm tối đê hèn
Cùng rệp, muỗi viết ra mà bị mất
Tôi sẽ tiếc, khóc âm thầm trong đất!
(1974)

Cuộc chiến đấu này chưa phân thắng bại
Ta vẫn còn đây và sắt thép còn kia.
Chết tróc thầm câm, cốt nhục chia lìa
Ta vẫn sống mà không hề lẫn lú.
Ta muốn nói với loài dã thú
Khúc hát khải hoàn ta sẽ hát thiên thu!
(1975)

Khi Mỹ chạy, bỏ miền Nam< cho cộng sản
Sức mạnh toàn cầu nhục nhã kêu than.
Giữa tù lao, bệnh hoạn, cơ hàn,
Thơ vẫn bắn, và thừa dư sức đạn
Vì thơ biết một ngày mai xa xôi nhưng sáng lạn
Không giành cho thế lực yêu gian.
Tuyệt vọng dẫu lan tràn
Hy vọng dầu tiêu tan
Dân nước dẫu đêm dài ai oán
Thơ vẫn đó, gông cùm trên ván
Âm thầm, thâm tím, kiên gan
Biến trí tim thành “chiếu yêu kính” giúp nhân gian
Nhận rõ nguyên hình cộng sản.
Tất cả suy tàn, sức thơ vô hạn
Thắng không gian, và thắng cả thời gian
Sắt thép quân thù năm tháng rỉ han.
(1975)

Hôm nay 19 tháng 5
Tôi nằm
Toan làm thơ chửi Bác
Vần thơ mới hơi phang phác
Thì tôi thôi.
Tôi nghĩ Bác
Chính trị gia sọt rác
Không đáng để tôi
Đổ mồ hôi
Làm thơ
Dù là thơ chửi Bác.
Đến thằng Mác
Tổ sư Bác
Cũng chưa được tôi nguyệch ngoặc vài câu.
Thôi hơi đâu
Mặc thây bọn văn sĩ cô đầu
Vuốt râu, xoa đầu, mơn trớn Bác.
Thế rồi tôi đi làm việc khác
Kệ cha Bác!
(1964)

Bài thơ vừa trích là bài “Ngày 19 Tháng 5“, ngày mà cộng sản Việt Nam gọi là Ngày Kỷ Niệm Sinh Nhật Bác.

(Hết Chương 25)

Share this post