Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 26

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 26

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 26
GIANG TẢ CẦU HÔN

Ngô Thục thành hôn thử thủy tầm,
Minh châu bộ chướng, ác hoàng kim.
Thùy tương nhất nữ khinh thiên hạ,
Dục hoán Lưu lang đỉnh trĩ tâm?
“Lưu Lang Phố” – Bến Chàng Lưu – Thơ Lữ Ôn đời Đường Tầu.

Chàng Lưu đây không phải là chàng Lưu Thần, người may mắn ngàn năm một thưở đã có nhập cảnh vào được Thiên Thai xuân mãi không già, không ngỏm, sống thoải mái với những nàng tiên nữ thơm hơn múi mít lại dở chứng nằng nặc đòi trở về trần thế, mà là chàng Lưu Huyền Đức, tên cúng cơm là Lưu Bị, đời Tam Quốc cũng ở bên Tầu.

Dịch đại bài thơ ra tiếng Việt:

“Cuộc hôn nhân Ngô Thục được thực hiện ở bến này.
Rèm xe giát minh châu, màn đính vàng bạc.
Có ai vì một người phụ nữ lại coi nhẹ thiên hạ,
Mà hòng thay đổi chí tam phân của Chàng Lưu?”

Chuyện kể rằng trong cuộc tranh dành quyền bá chủ Trung Quốc cuối đời Hán, Lưu Bị, Tôn Quyền, Tào Tháo diệt tất cả những sứ quân khác, chia Trung Quốc ra làm ba, lập nên ba nhà Ngụy (Tào Tháo), Thục (Lưu Bị), Ngô (Tôn Quyền). Lưu Bị, nhờ có Quân sư Khổng Minh giúp mưu, chiếm đuợc đất Kinh Châu. Tôn Quyền, có Chu Du hiến kế, cho Kinh Châu theo công pháp quốc tế là của mình nên đòi lại. Lưu Bị nhùng nhằng, nhủng nhẳng không chịu trả. Chu Du hiến cái gọi là “Mỹ nhân kế” với Ngô chủ Tôn Quyền: nhân Lưu Bị mới góa vợ, đặc phái ông mai Lỗ Túc sang Kinh Châu đề nghị gả Ngô Quận chúa, em gái Tôn Quyền, cho Lưu Bị. Nếu nhận lời Lưu Bị phải đích thân sang Đông Ngô rước dâu. Diệu kế của Chu Công Cẩn là chờ cho Lưu Bị dẫn xác sang, không có cưới, có xin, có hôn, có hít chi ráo trọi, tóm cổ chú rể và làm chú rể mất chỗ đội mão liền một khi.

Nhưng như các em nhỏ lên ba, các cụ già Chín Bó đều biết, kế sách của Đông Ngô thì như dzậy nhưng việc thực hiện kế sách thì lại hổng như dzậy. Không những chỉ hổng như dzậy suông mà thôi, nó còn một ly ông cụ cũng hổng như dzậy. Tam Quốc Chí diễn nghĩa cho ta thấy Thuyền Trưởng Hai Tầu Lưu Bị – Lưu Lang hai vợ: Cam phu nhân, mẹ A Đẩu Lạc bất tư Thục, quy tiên trong trận Đương Dương Trường Bản, My phu nhân đi tầu suốt sau khi Lưu Lang đã ngồi ấm chỗ ở Kinh Châu. Năm mới, đầu xuân, ta dùng những tiếng quy tiên, đi tầu suốt nghe dzui hơn – Nhưng khi Thuyền Trưởng Hai Tầu Lưu Bị, nay là Thuyền Trưởng Không Tầu vì không có tầu nào để chạy, nghe lời Khổng Minh, cùng Triệu Tử Long sang Đông Ngô lãnh tầu mới, mưu kế của Chu Du lại không được thi hành. Nói đúng hơn là không được thực hiện trọn vẹn.

oOo

Bốn mươi mùa cóc xanh biếc, cóc chín vàng trên những chiếc xe ba bánh trong đường phố Sài Gòn, thành phố thủ đô đã mất của chúng ta, khi đọc Tam Quốc Chí bản dịch Tử Vi Lang, đến đoạn Lưu Bị sang Đông Ngô cưới em Ngô Quận chúa thơm hơn múi mít, phây phây, ở lại dzui cuộc tân hôn động phòng hoa chúc kiêm tuần trăng mật, trăng đường, hô-ni-mun, hô-ni-min cả năm trường rồi lại phây phây đưa vợ trẻ về Kinh Châu an toàn xa lộ, người viết ở Rừng Phong đã théc méc:

– Tại sao Tôn Quyền, Chu Du lại không thực hiện phần hai, phần quan trọng nhất, của Mưu Kế Cúp-pê La Tết Lưu Bị? Mưu kế định trước: dụ Lưu Bị sang để giết. Lưu Bị dẫn xác sang đúng như dự mưu, tại sao không giết? Lưu Bị sang sông chỉ có Triệu Tử Long và 500 quân đi theo. Nếu Đông Ngô cho các tướng Cam Ninh, Chu Thái, Từ Hoảng, Đinh Phụng thống lĩnh 5000 quân vây đánh ngay từ lúc thuyền Lưu Bị mới cập bến thì chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch là tính mạng Lưu Bị, Triệu Vân nhất định sẽ – văn huê cải lương là trôi theo dòng Trường Giang ra biển Đông, nôm na là tiêu tán thoòng..

Nhưng Ngô Quyền, Chu Du – không hiểu tại sao – đã không thi hành kế sách và kết quả là: “Chu Du diệu kế an thiên hạ. Bồi liễu phu nhân hựu chiết binh…” và Chu Du thổ huyết. Lập mưu, giăng bẫy dụ con mồi, con mồi chui dzô bẫy, không xuống tay còn chờ gì nữa ? Trên cõi đời may tay có lời này những anh vừa đé vừa run như Chu Công Cẩn thì thổ huyết là đúng thôi.

Chuyện Lưu Bị từ Kinh Châu, bên phải sông Trường Giang nên có tên là Giang Hữu, sang bờ bên trái sông Trường Giang – Giang Tả – cưới vợ, được soạn thành vở tuồng “Giang Tả Cầu Hôn”. Người viết ở Rừng Phong mù tịt về bộ môn nghệ thuật dân tộc Tuồng Cổ, Tuồng Kim nên không dám nói chắc vở “Giang Tả Cầu Hôn” đích xác thuộc loại Tuồng gì – Tuồng Tầu thì chắc là Tuồng Tầu rồi đó. Nói rõ hơn là Tuồng chuyện Tầu nhưng hát ca bằng tiếng Việt, do đào kép người Việt diễn, cho khán giả đàn bà, con gái, trẻ em Việt xem. Song dường như “Giang Tả Cầu Hôn” không phải là Tuồng Hát Bộ, Hát Bội, Hát Quảng, Hát Tiều, cũng không phải là tuồng cải lương như “Dưới Mái Tây Hiên”, “Lan và Điệp”, “Sơn nữ Phà Ca”, “Sầu lên ngọn cỏ”… Người viết không biết rõ vì một lý do đơn giản là trong thời gian vở tuồng “Giang Tả Cầu Hôn” được trình diễn người viết đang ở trong cái tuổi được ông Duyên Anh trên tuần báo Tuổi Ngọc gọi là tuổi Ngày Xưa Còn Bé, tức tuổi đời mới khoảng Một Bó, tuổi hãy còn trinh tiết. Người viết chỉ được nghe nói là ngày Tết những năm xa xưa đồng bào ta có lệ đi coi hát đầu năm gọi là Bói Tuồng. Vở tuồng đang diễn người đi coi Bói Tuồng bất chợt vào xem. Gặp đoạn tuồng vui là cả năm vui vẻ, gập đoạn tuồng buồn là cả năm sui sẻo. Những ông Bầu gánh hát biết tâm lý đó của khán giả nên trong mấy ngày Tết chỉ cho diễn toàn những vở tuồng vui.

“Giang Tả Cầu Hôn” là một vở tuồng vui điển hình thường được diễn trong những ngày Tết năm xưa ở Bắc Kỳ để khán giả bói Tuồng đầu năm. Đó là chuyện những năm xưa, còn nguyên nhân tại sao năm nay – Năm Quý Tỵ, 2013 – bài thơ “Lưu Lang Phố” và chuyện Lưu Bị Giang Tả Cầu Hôn lại xuất hiện trên trang báo này? Xin thưa:

Số là theo đúng truyền thống và thủ tục không biết có tự bao giờ của làng báo Việt Nam báo Xuân, báo Tết phải có những bài viết về Tết. Người viết ở Rừng Phong trong khi tìm kiếm trên những trang sách đề tài về Tết bắt gập bài thơ “Lưu Lang Phố”, nên nhớ đến chuyện bói tuồng ngày Tết của đồng bào ta những năm xưa và thấy có đôi điều cần nói nhân bài thơ.

Có ai vì một người con gái lại coi nhẹ thiên hạ,
Mà toan thay đổi chí tam phân của Chàng Lưu?

Thi sĩ Lữ Ôn cho rằng trên đời này – đúng ra là trên đời Đường, hoặc đời Hán bên Tầu – chẳng có anh đàn ông nào vì một người đàn bà mà coi nhẹ thiên hạ. Thi sĩ đưa ra bằng chứng Lưu Bị sang Giang Đông cưới vợ nhưng không chịu ở rể Giang Đông, hưởng thụ phú quí, vẫn trở về Kinh Châu tính chuyện khôi phục giang sơn nhà Hán. Lời nói quyết của Thi sĩ đúng trong trường hợp Lưu Bị và chỉ đúng trong trường hợp Lưu Bị mà thôi. Trên cõi đời này có rất nhiều anh đàn ông không làm như Lưu Bị.

Cuối đời Minh quân Mãn Thanh đe dọa xâm lăng Trung Quốc. Đại tướng quân Ngô Tam Quế được phong làm Tổng Binh trấn thủ Sơn Hải Quan ngăn chặn quân Mãn Thanh. Ngô Tam Quế yêu Trần Viên Viên một kỹ nữ nổi danh thời ấy. Khi Ngô Tam Quế đang chỉ huy đại quân chống địch ở Sơn Hải Quan, Viên Viên sống ở kinh đô Bắc Kinh.

Năm 1644 Trung Hoa ngoài bị ngoại xâm, trong có nội loạn. Lý Tự Thành lãnh đạo quân khởi nghĩa đánh chiếm Bắc Kinh. Vua Minh Tự Tông, vị vua cuối cùng của Nhà Minh, tự vận. Nhà Minh đến đó là tiêu vong. Ngô Tam Quế lúc đầu đã định đầu hàng nghĩa quân nhưng được tin người tình Trần Viên Viên ở Bắc Kinh bị Lưu Tông Mẫn, một tướng của Lý Tự Thành, bắt làm vợ. Mất người yêu Ngô Tam Quế đi một đường Táczăng nổi giận, bèn mượn tiếng cầu viện quân Mãn Thanh để trả thù cho Vua Minh nhưng thực ra là đầu hàng quân Mãn Thanh, mở Sơn Hải quan cho quân Mãn Thanh tiến vào nước. Ngô Tam Quế nhờ lực lượng quân Mãn đánh tan quân Lý Tự Thành. Nhân cơ hội ngàn năm một thưở quân Mãn Thanh đánh chiếm trọn lãnh thổ Trung Quốc, lập nên nhà Thanh, ngự trị trên cái giang sơn giữa thế giới của những chú tự nhận là Con Trời đến ba trăm mùa táo Tầu. Ngô Tam Quế Đại Hán Gian, Đại Phản Tướng, cướp lại được Trần Viên Viên, trở thành một vị vương của nhà Thanh, Y chết già với người đẹp.

Không thể nào thay đổi được những gì đã xẩy ra. Ta dư biết việc đặt ra những tiếng “nếu” trong những sự kiện lịch sử chỉ là những giả thuyết nghe qua rồi bỏ. Như nếu năm xưa ấy cuộc đời ái tình và sự nghiệp của Đại Tướng quân Ngô Tam Quế không có người đẹp Trần Viên Viên, hoặc có mà người đẹp của Đại Tướng quân không bị anh Tướng khác vồ mất, những chuyện gì có thể đã xẩy ra? Khí số nhà Minh đã tận rồi. Nhà Minh phải đi ô tô bương thôi – đi chỗ khác chơi để cho người khác làm vua. Một nhà làm vua mãi đâu có được. Tại sao lại cứ nhất định phải là những anh bị thịt con cháu Chu Nguyên Chương mới được làm Vua Tầu? Lý Tự Thành lên làm Vua Tầu thì đã sao? Biết đâu họ Lý lên làm Vua nước Tầu đã chẳng khá hơn, dân Tầu đỡ khổ nhục hơn? – Nếu Ngô Tam Quế đang nắm đại binh theo về phe nghĩa quân Lý Tự Thành, quân chính quy nhà Minh có nghĩa quân tham gia nên thêm sức sống, đã chắc gì quân Mãn Thanh vượt được Sơn Hải Quan? Không những chỉ không chắc mà có thể là còn lâu, sức mấy, nhờ anh tí. Nói rõ hơn nếu không có em Trần Viên Viên gây ra ân oán mưa máu, gió tanh, long tranh, hổ đấu, dân Hán – giống dân bá quyền nước lớn kiêu căng nhất loài người – có thể đã không phải chịu cái nhục quì gối, cúi đầu trước một lô những anh Vua không phải là dân Hán, không nói tiếng Hán, không bận y phục Hán.

Dân Hán, huỵch toẹt là những anh Ba Tầu, từ ngàn năm vẫn huynh hoang cho đất nước mấy ảnh là nước trung tâm trái đất, vẫn khinh miệt gọi những giống dân những nước chẳng may phải sống gần đất nước mấy ảnh mà Man, Di, Nhung, Địch. Mấy ảnh coi những giống dân ấy là thứ người cao cấp hơn loài vật nhưng không hẳn là người như mấy ảnh. Mấy ảnh chuyên đi chinh phục, xâm lăng, tiêu diệt, đồng hoá các nước láng giềng, bắt đàn bà, con gái các nuớc lân bang về làm nô tì. Đau đớn cho mấy ảnh là trong một ngàn năm lịch sử cận đại hai lần mấy ảnh bị ngoại nhân đô hộ, hai lần mấy ảnh phải quì gối trước những kẻ mấy ảnh khinh là mọi rợ.

Ngô Vĩ Nghiệp, nhà thơ cuối Minh, đầu Thanh (1609-1672) làm bài thơ thất ngôn trường thi “Viên Viên Khúc” kể lại chuyện Ngô Tam Quế – Trần Viên Viên:

Đỉnh hồ đương nhật khí nhân gian
Phá địch, thu Kinh, há Ngọc Quan.
Đồng khốc lục quân câu cảo tố,
Xung quan nhất nộ vi hồng nhan.
Hồng nhan nhất lạc phi ngô luyến.
Nghịch tặc thiên vong tự hoang yến.
Điện tảo Hoàng Châu, định Hắc Sơn,
Khốc bãi quân thân tái tương kiến….

Bài thơ dài. Trên đây chỉ là mấy câu thơ đầu. Dịch đại:

“Đấng Chí Tôn – Vua Minh Tự Tông. Lại một cái tên tiền định: Tự Tông vợ chồng với Tự Vẫn, Tự Tử – ngày ấy từ bỏ nhân gian. Nôm na là đi tầu suốt, hai năm mươi, suôi sáu tấm. mặc áo bà ba gỗ…
Đại Tướng quân – Đại Hán gian Ngô Tam Quế – phá quân địch – quân địch đây là anh em Nghĩa quân Tầu – thu lại Kinh đô, vượt Ải Ngọc Quan.
Khóc than thảm thiết Sáu quân – sắp đầu hàng, tan hàng – mặc áo trắng, để tang.
Tướng quân – phản quân đội, phản quân vương, phản quốc, phản dân, phản đủ thứ -nổi giận dựng ngươc cả tóc vì kẻ má hồng…
Không phải vì ta yêu thương mà người đẹp bị vất vả, trôi nổi.
Bọn nghịch tặc bị Trời diệt tan hoang như bữa tiệc tàn.
Quét tan bọn Giặc Khăn Vàng nhanh như chớp, bình định Hắc Sơn,
Khóc Vua xong Tướng Quân đi tìm Nàng…”

Khóc Dzua xong Tướng Quân đi tìm nàng… Có thể câu thơ này tả chuyện xưa không được đúng lắm. Tướng Quân anh dũng đi tìm Nàng trước, ôm được Nàng về cất kỹ rồi Tướng Quân mới y mão. cân đai, kiếm kích, cờ quạt đến khóc Vua có lẽ dễ tin hơn. Vả lại Vua đã chết rồi, để Vua nằm đó năm bẩy tháng cũng chẳng sao, Vua không thể nào vì thế mà chết hơn được, còn việc đi tìm Nàng là việc cần làm ngay liền tù tì tút suỵt.

Đây là mấy câu thơ tả cảnh Tứớng Quân Đầu Hàng hào hùng đi đón đàn bà:

Nhược phi Tráng sĩ toàn sư thắng
Tranh đắc nga mi thất mã hoàn.
Nga mi mã thượng truyền hô tiến,
Vân hoàn bất chỉnh kinh hồn định.
Lạp cự nghênh lai tại chiến trường,
Đề trang mãn diện tàn hồng ấn.
Chuyên trưng tiêu cổ hướng Tần Xuyên,
Kim Ngưu đạo thượng xa thiên thặng.
Tà Cốc vân thâm khởi họa lâu,
Tán Quan nguyệt lạc khai trang kính.
Truyền lai tiêu tức mãn giang hương…

Dịch đại:

“Nếu chẳng phải quân đội của Tráng sĩ toàn thắng
Thì làm sao giành lại được gái mày ngài đặt trên lưng ngựa trở về.
Đặt Nàng lên ngựa, hô quân thẳng tiến,
Tóc mây bị xô lệch, Nàng định thần trở lại.
Đốt đuốc hoa thành thân ngay tại chiến trường.
Ngấn lệ còn đọng trên khuôn mặt.
Thổi tiêu, gióng trống tiến về Tần Xuyên,
Nghìn cỗ xe đi trên đường Kim Ngưu.
Ở Tà Cốc mây dàn dựng lên lâu đài lộng lẫy,
Ở Tán Quan trăng lặn còn đặt đài gương trang điểm.
Tin tức truyền khắp miền quê hương, sông nước…”

Chuyện đời… Có những chuyện đời giống nhau, có những chuyện đời hổng giống nhau. Bài thơ “Lưu Lang Phố” cho ta thấy đàn ông Tầu coi thường đàn bà Tầu, coi đàn bà Tầu như “nơ pa”, như không có ký-lô nào cả. Bài thơ “Viên Viên Khúc” cho ta thấy đàn ông Tầu coi đàn bà Tầu nặng như đá đeo, nặng hơn tổ quốc, nặng hơn dân tộc, nặng hơn bất cứ cái gì được coi là nặng trên cõi đời này.

Bạn có thể phân biệt thời gian – bỉ nhất thời, thử nhất thời – đàn ông Tầu đời Tam Quốc khác, đàn ông Tầu đời Minh Thanh khác. Có thể bạn nói có lý. Bởi vì dường như từ đời Minh Thanh – Thế kỷ 17 – trở lại đây đàn ông – chẳng phải chỉ đàn ông Tầu mà là đàn ông nói chung – càng ngày càng coi trọng đàn bà, con gái. Phải vậy chăng, không phải vậy chăng? Phải chăng càng ngày đôi lông mày của đàn bà đẹp càng có giá? Và phải chăng ta có thể nói Trần Viên Viên là nguyên nhân làm cho nước Ba Tầu bị ngoại nhân đô hộ cực kỳ khốn nan trong những hơn ba trăm mùa táo Tầu?

oOo

Tiếng trống làng xa dồn mặt nước,
Tháng Giêng, quê bạn, hội đêm rằm.
Hương đồng tỉnh giấc, ta ngồi dậy,
Nhìn ánh trăng xuân đẹp chỗ nằm…

Em ơi… Bây giờ ở quê ta đang là Tháng Giêng cỏ non, mùa xuân, ngày hội… Tháng Giêng ăn Tết ở nhà. Tháng Hai cờ bạc, Tháng Ba hội hè… Em ơi buồn làm chi. Anh đưa em về bên kia sông Đuống… Ngày xưa cát trắng phẳng lì… Anh đưa em về thăm quê anh ở bên kia sông Đuống. Chúng ta đem về làm quà đôi tấm the đen. Anh sẽ mơ thấy lại mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên, những hội hè đình đám trên núi Thiên Thai, trong chùa Bút Tháp,  nghe lại tiếng chuông chùa văng vẳng, tưởng như nhìn thấy những nàng môi cắn chỉ quết trầu, những cụ già phơ tóc trắng, những em sột soạt quần nâu…

Mùa xuân anh đưa em về bên kia sông Đuống, để nhớ từng khuôn mặt búp sen, những cô hàng xén răng đen, cười như mùa thu tỏa nắng… Ngày xưa… Ngày anh còn trẻ… Chúng ta làm chuyến đi này ngược hay xuôi dòng thời gian? Ngược hay xuôi cũng được. Đêm rằm Tháng Giêng trăng đẹp quá chời. Đêm nay Sen Hồ vào đám, có diễn tuồng. Anh đưa em sang đó Bói Tuồng. Em bói tuồng lần nào chưa? Em biết bói tuồng là gì không? Đêm nay diễn tuồng “Giang Tả Cầu Hôn”…!

Hoàng Hải Thủy – Viết Ở Rừng Phong
(Hết)

Share this post