Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 8

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 8

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 8

Trăm nghìn gửi lậy Tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
…”

Bốn mươi năm xưa ở Sài Gòn, năm 1960, tôi có một người vừa là bạn vừa là đàn anh, anh X. Anh hơn tôi mười tuổi, luật sư, từng du học ở Pháp. Làm đại diện cho một công ty thương mãi Pháp, anh sống nhàn hạ, phong lưu. Anh rất hào hoa nhưng chưa một lần có vợ. Tôi mê anh vì phong thái công tử trí thức văn minh thành thị thứ thiệt. Nhờ anh, tôi biết được nhiều chuyện. Anh không sáng tác văn nghệ, tức không viết truyện, không làm thơ, nhưng anh biết nhiều về văn chương nghệ thuật. Anh từng nói với tôi về kỹ thuật viết truyện “La comparaison donne la clarté” – Việc so sánh đem đến sự trong sáng, tức việc so sánh cái này với cái kia làm cho sự việc rõ ràng hơn, cho người hiểu việc xẩy ra trong truyện rõ hơn, dễ hơn. Một câu khác anh nhắc tôi nhớ mãi “L’imitation est la forme la plus haute de la réussiste”, và anh nói:
– Toa viết phóng sự có người đọc, có tên bắt chước viết như toa, cũng phóng sự tiểu thuyết đấu hót, toa phải kiêu hãnh vì toa được bắt chước, sao toa lại khó chịu?
Tôi cũng nhớ một câu nhắc khác của anh:
– Tây nó có câu đại khái: Viết báo, phải viết sao cho người đọc hoan hô anh, công kênh anh, hoặc là vác gậy đến đánh anh. Viết mà chẳng ai đọc hoặc có đọc người ta cũng chẳng thấy gì lạ, vô thưởng vô phạt, sìu sìu ển ển thì chán chết. Đấy là viết báo. Về văn, muốn nổi trội phải viết cái gì khác người, phải có văn phong riêng. Vừa đọc là người ta biết ngay văn của anh. Thiếu gì người viết cả đời, viết thật nhiều vẫn không nổi lên được, vẫn vô danh, vẫn không được ai coi là văn sĩ!
Tôi vẫn lấy làm lạ về việc người hào hoa như anh mà đời sống không có đàn bà. Đúng ra anh cũng có đàn bà đi lại nhưng dường như anh không yêu thương, không tha thiết với ai. Đời anh đã có một mối tình, anh đã có người yêu, người đàn bà ấy là một người đàn bà đẹp nổi tiếng trong giới thanh lịch Sài Gòn. Tôi biết nàng, nhưng chỉ biết nàng thôi, không được quen nàng. Tôi được gặp nàng những chiều thứ Bẩy, những sáng Chủ nhật nắng vàng ở đường Lê Lợi, đường Tự Do, được ngồi xa bàn nàng ngồi nhưng cùng trong nhà Ngân Đình Tửu Gia những đêm Sài Gòn trăng sáng. Nàng ở vào tuổi đàn chị của tôi, tôi thấy nàng thật đẹp. Anh X và nàng yêu nhau nhưng họ không có duyên với nhau. Nàng có chồng, một ông làm lớn trong chính phủ. Tôi hỏi anh X về cuộc tình của anh với nàng, anh chỉ cười buồn mà không nói.
Lui tới nhà anh cả năm tôi mới được vào phòng ngủ của anh. Bên giường anh có tấm hình Nàng – tôi phải viết hoa chữ Nàng – Nàng bận áo cưới đầm trắng, khăn voan trắng trên đầu. Hình Nàng có hàng chữ viết:
Trăm nghìn gửi lậy Tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!

Dưới lời thơ là ngày tháng và chữ ký. Không cần hỏi, tôi biết đó là chữ Nàng viết, là chữ ký của Nàng.
Năm ấy tôi còn trẻ quá, mới có ba mươi tuổi, đang ở trong thời đỉnh cao phong độ nhất của đời tôi…
Mùa xuân xưa ấy tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần.
Đời chỉ có hoa và mật ngọt
Da thịt thơm mùi phấn ái ân…

Tôi chưa biết khóc, tôi chưa đau thương, chưa một lần vỡ tim, chưa một lần đứt ruột, thơ Kiều chưa làm tôi xúc động bao nhiêu. Vậy mà đọc lời Nàng Lẩy Kiều trong bức ảnh Nàng ngày cưới, ngày Nàng lên xe bông, gửi cho người Nàng yêu, tôi ngơ ngẩn cả người.
Mèn ơi! Lẩy Kiều đến như dzậy là tuyệt vời, là siêu lẩy. Phải là người đa tình lắm lắm, người đọc Kiều kỹ lắm, thấm thơ Kiều vào gan ruột, ngấm vào phèo phổi, hòa vào máu lệ mới có thể Lẩy Kiều tài như thế.
Hơn hai mươi mùa sầu riêng nở hoa đi qua cuộc đời đến những đêm tù đầy. Đêm khuya, nằm trên nền xi-măng Nhà Tù Chí Hoà, tôi mới thấm Thơ Kiều. Tôi nhớ tấm ảnh Cô Dâu của Nàng, nhớ lời Nàng Lẩy Kiều, rồi tôi nghĩ đến làm thơ Vịnh Kiều. Và ở đấy, tức Nhà Tù Chí Hoà, đêm khuya tôi mần những bài thơ “Tại Ngục Vịnh Kiều”.
Tôi hỏi anh X về chuyện nghe nói ngày Nàng đi Paris, chàng đưa tiễn Nàng ở phi trường Tân Sơn Nhất. Trước khi lên máy bay Air France, Nàng vào toilette. Khi trở ra Nàng đưa cho chàng gói giấy:
– Kỷ vật của em. Em đi rồi anh hãy mở.
Cánh chim sắt đưa Nàng bay lên trời xanh. Chàng mở gói. Trong đó là cái slip của Nàng, cái slip Nàng mặc dở, Nàng vừa tuột ra trong toilette.
Rồi những mùa sầu riêng, mùa xoài, mùa măng cụt, mùa cóc lại theo nhau qua…
Đi tù như mọi người, như mọi công dân Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa bại trận, năm 1980, tôi trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền. Anh X không còn ở Sài Gòn. Tôi gặp lại một người bạn, Tòa C. tù cải tạo từ miền Bắc trở về Sài Gòn năm 1981. Anh là thẩm phán, chúng tôi vẫn gọi anh là Tòa C. Một tối trời mưa ngồi uống rượu đế rẻ tiền quán mái hiên ở vỉa hè Trương Minh Giảng, nhân kể chuyện tù đầy sống chết, chuyện anh em trong tù, C. nói:
– Cậu còn nhớ cái truyện cậu viết về cái slip đưa cho nhau ở Tân Sơn Nhất không? Chắc chuyện ấy có thật chứ không phải chuyện bịa đâu. Tôi chung phòng, chung đội với thằng T. Nó bị đau, phù người, tưởng chết. Tôi đến trạm xá thăm nó, nó nói C. ơi, tao chết, nó bảo tôi về lục giỏ của nó, lấy cái gói vải xanh mang đến cho nó. Trên đường đi tôi tò mò mở gói ra xem, trong đó là cái slip của vợ nó.
Đấy là chuyện “giữ si-líp lại để dành hơi… ” của những anh con Hồng, cháu Lạc te tua năm 1977-1978, những anh công dân Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa bại trận bị Bắc Việt Cộng cho đi tù mút mùa Lệ Thủy. Nhân vật T. cũng là thẩm phán.
Rồi những mùa lá rụng lại theo nhau qua…
Tòa C. mất tích trên đường vượt biên. Tôi nghe nói ông thẩm phán T. không chết trong trại tù cộng sản. Ông đi HO. Sang Hoa Kỳ, ông bị bà vợ cho dze. Mấy chục năm rồi, không biết bây giờ ông còn giữ cái slip cải tạo cộng sản ngày xưa? Cái slip valisère thơm chút hương thừa ông mang theo trên đường khổ nạn, ông muốn nó và thân xác ông cùng xuống đáy mồ đen tối! Cũng không biết bà vợ ông có biết khi bị đi cải tạo ông chồng mang theo cái slip của bà và khi bệnh tưởng chết, ông đã nhờ bạn tù lấy bảo vật ấy đem đến cho ông! Lại cũng không biết nếu biết bà vợ ông có cảm động chút nào không! Nhưng…
Tất cả những chuyện tôi vừa kể đều là chuyện bịa, đều là tiểu thuyết. Không có chuyện anh X, không có chuyện Tòa C. Chuyện cái slip Air France Tân Sơn Nhất lại càng không có. Tôi chỉ kể những chuyện bầy đặt đó để viết về Truyện Kiều. Tôi đã viết “Tại Ngục Vịnh Kiều”, Làng Văn Canada xuất bản, hôm nay tôi viết thêm về một chuyện trong Kiều mà tôi chưa đề cập đến trong “Tại Ngục Vịnh Kiều” – vấn đề pháp luật trong Truyện Kiều.
Theo kể trong truyện Kim Vân Kiều của ông Tầu Thanh Tâm thì Mã Giám Sinh mua Thúy Kiều về làm thiếp, tức vợ bé. Việc mua bán ấy có giấy tờ đàng hoàng, Tú Bà không thể bắt Thúy Kiều làm gái chơi một cách khơi khơi như ta thấy kể trong truyện. Nếu Tú Bà không thể bắt Thúy Kiều làm gái chơi thì toàn bộ truyện Kim Vân Kiều sẽ không xẩy ra. Đây là chuyện được tả trong Kim Vân Kiều, bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm do Nha Văn Hóa Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hoá Việt Nam Cộng Hòa xuất bản năm 1971 ở Sài Gòn:
Mã sinh có vẻ ngần ngại, Chung công hiểu ý, nói:
– Quí khách đừng sợ.Vương ông là người đứng đắn, Chung Sự này có thể đảm bảo chắc chắn. Nếu có xẩy ra chuyện gì, cứ mắng vào mặt lão. Hay là lão xin viết giấy làm bằng?
Mã sinh đáp:
– Vâng, nếu được như vậy tôi xin cân bạc trao ngay.
Chung công viết tờ bảo lãnh như sau:
“Người đứng thay lập tờ văn ước này tên là Chung Sự.
Nay tôi thấy người hiếu nữ tên gọi Vương Thúy Kiều vì việc cứu cha nên phải bán mình làm thiếp cho ông khách họ Mã, lấy số tiền sính lễ là bốn trăm năm mươi lạng bạc, hẹn sau ba ngày, việc quan kết liễu, sẽ theo Mã khách ra đi không dám sai thù. Vì sợ lòng người bất trắc nên lập văn ước này làm tin.
Văn ước viết ngày 15 tháng Tư năm Gia Tĩnh thứ 11.
Người viết giấy: Chung Sự ký tên.
Người trung gian: Bà mối Hàm ký tên”.
Chung Sự viết xong văn ước, trao cho họ Mã. Mã sinh nhận giấy, coi lại, rồi nói:
– Việc này có ông Chung đảm nhận, tôi xin vâng. Nay xin viết hôn thư, tôi trao bạc.
Ông Chung giục ông già Vương viết. Vương ông khóc nức lên. Vương bà, Thúy Vân, Vương Quan cùng khóc. Thúy Kiều nghẹn ngào nói với Chung công:
– Lão gia ơi. Lão gia dậy thế chứ đời nào cha lại viết giấy bán con. Việc bán mình tự tôi xướng xuất thì chính tay tôi viết giấy cũng được chứ sao.
Thúy Kiều viết:
“Người lập tờ hôn thú này là con gái, tên Vương Thúy Kiều.
Vì phụ thân tôi bị kẻ gian vu hãm nên phải giam cầm, lẽ nào không cứu. Nay tôi tình nguyện cậy người làm mối bán mình làm thiếp cho nhà họ Mã, lấy tiền sính lễ bốn trăm năm mươi lạng bạc. Sau khi nhận đủ số bạc thì tôi thuộc về nhà họ Mã, hoặc để ở lại, hay phải đi theo, tùy ý họ Mã định đoạt. Vì sợ sau này không có bằng cớ nên lập tờ hôn thú này chấp chiểu.
Gia Tĩnh năm thứ 11 tháng 4 ngày 15.
Người lập hôn thư: con gái là Vương Thúy Kiều, người đứng trung gian là Chung Sự, người mối: Họ Hàm, cha là Vương Tử Trinh, mẹ là họ Hà, em là Vương Quan cùng ký tên
“.
Năm Gia Tĩnh thứ 11, triều Minh, tại nước Ba Tầu, mại dâm được coi là nghề hợp pháp. Những nhà mại dâm, như nhà Tú Bà, được hành nghề công khai, nhưng phải được phép hành nghề, phải có cái gọi là môn bài, phải đóng thuế, phải kê khai danh sách những cô gái trong nhà, phải hành nghề theo luật, phải chịu sự kiểm soát của nhà đương cục. Nói thời quân chủ, dân đen không được pháp luật bảo vệ, như cộng sản vẫn nói, là nói nhảm. Thời quân chủ, xã hội có pháp luật và trọng pháp luật, dân đen được pháp luật bảo vệ hơn thời cộng sản cầm quyền rất nhiều. Ta thấy Mã Giám Sinh mua Thúy Kiều về làm thiếp, tức vợ bé, không mua Thúy Kiều về làm gái mại dâm. Cũng là bán mình nhưng bán mình để làm vợ bé và bán mình để làm đĩ khác nhau. Trong tờ hôn thư Thúy Kiều viết rõ “bán mình làm thiếp cho nhà họ Mã…”. Tờ bảo lãnh của anh Lại già họ Chung viết “…người hiếu nữ tên gọi Vương Thúy Kiều, vì việc cứu cha nên phải bán mình làm thiếp cho khách họ Mã…”
Thường thì bọn chủ nhà mại dâm ở kinh đô về các vùng quê mua những em có thể làm gái chơi đem về kinh đô hành nghề. Trong Kim Vân Kiều, chuyện xẩy ra ngược lại: Mã Giám Sinh về Bắc Kinh mua Thúy Kiều đem đi Lâm Tri tỉnh lẻ. Nhưng khi Tú Bà khai trình về em gái chơi mới đến là Thúy Kiều thì Mụ phải trình giấy mua người về làm điếm. Mụ không thể cho Mã Giám Sinh gạt Thúy Kiều bằng cách nói mua nàng về làm vợ bé rồi bắt nàng làm đĩ. Dù người bán mình ngu si, pháp luật cũng không cho bọn mua cô gái lừa gạt, bắt ép phải làm điếm. Thúy Kiều thông minh, biết chữ. Nàng có tờ hôn thư ghi rõ bán mình làm thiếp, Tú Bà không cách nào bắt nàng phải làm điếm. Tại sao nàng lại chịu ép một bề?
Khi đưa Thúy Kiều ra khỏi nhà Tú Bà, truyện kể Thúc Kỳ Tâm nhờ Vệ Hoa Dương, một tay giang hồ anh chị, bảo vệ chàng chống lại Mụ Tú nếu Mụ gây sự cướp lại Thúy Kiều hay đi thưa chàng quyến rũ gái nhà Mụ trốn đi. Đây là lời Vệ Hoa Dương đem pháp luật ra luận:
– Tên Mã Bất Tiến đi mua con gái nhà lương thiện về bắt làm việc đê hèn là phạm luật “mãi lương vi tiện”, Mụ Tú phạm vào luật “hãm liệt vi xướng”. Nếu Mụ biết điều ta sẽ tha thứ, bằng không ta sẽ tố cáo, Mụ sẽ lãnh cả hai tội. Tùy Mụ chọn.
“Hãm liệt vi xướng” là tội ép buộc con gái nhà tử tế làm ca nhi. Vậy là thời Gia Tĩnh triều Minh có Luật Mại Dâm đàng hoàng, không phải Luật chung chung mà đi vào chi tiết. Sau đó, Vệ Hoa Dương nói đến chuyện “Thúy Kiều nộp đơn xin phép hoàn lương…” tức nàng đã có tên trong Sổ Gái Mại Dâm của huyện Lâm Tri, từng được chủ chứa ghi tên tuổi, khai lý lịch và xin phép cho nàng hành nghề mại dâm. Như thế, Mụ Tú phải khai trình lý lịch của nàng với nhà chức trách khi nàng mới đến Lâm Tri và bắt buộc phải đưa ra tờ giấy bán mình của nàng. Nếu Mụ làm giấy giả, Thúy Kiều không ngu đến độ chịu để Mụ dùng roi da đánh thê thảm và bắt làm điếm.
Thúy Kiều đã nghe ba người – Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà – thề không lừa gạt nàng và đã thấy cả ba người ấy lừa gạt… Vậy mà khi gặp Bạc Hạnh, truyện kể:
Thúy Kiều nói với Giác Duyên:
– Chỉ e người ấy gian hoạt, chẳng phải người trung hậu, lợi dụng em làm món hàng thì em lại mắc vào tay lũ quỉ dạ xoa.
Bạc Bà bèn nói:
– Cháu tôi là người trung hậu. Nếu hồ nghi, tôi bảo nó viết tờ giao ước đưa nàng giữ.
Thúy Kiều nói:
– Việc ấy không cần, miễn là anh ấy đứng trước thiên, địa, quỉ, thần mà thề một câu: “Suốt đời không phụ bạc…” thì tôi bằng lòng theo
“.
Lưu lạc giang hồ đã bẩy, tám năm, bị lừa đến dở chết, dở sống mà vẫn chỉ đòi đàn ông phải thề thôi! Chỉ một câu thề là xong, là yên trí! Người ngớ ngẩn thế không thể bảo là thông minh, không thể là Vương Thúy Kiều!
Đến chuyện Hoạn Thư cho hai tên Khuyển, Ưng đi bắt cóc Thúy Kiều. Truyện Kim Vân Kiều kể:
Hai tên Ưng, Khuyển nhà họ Hoạn vốn là dân sống ở trên mặt bể, thấy quyền thế nhà họ Hoạn đang mạnh, nên xin vào làm gia nô. Hoạn Lại Bộ thấy chúng làm việc lanh lẹ, dũng mãnh hơn người, nên cưới cho mỗi tên một con vợ. Hai tên cảm ơn gia chủ, nguyện dốc lòng báo đáp.
Hôm ấy Hoạn Thư gọi chúng vào nói chuyện đi bắt Thúy Kiều, hai gã nói:
– Được phu nhân sai bảo, việc này không khó khăn gì. Chúng tôi theo đường Thái Thương vượt bể, chưa hết năm ngày đã tới Lâm Tri, chỉ cần tìm chỗ cô ấy ở, bắt đem xuống thuyền trở về, trong vòng nửa tháng chúng tôi có thể nộp cô ta
“.
Sự kiện ly kỳ nhất trong vụ bắt cóc Thúy Kiều là việc bọn Khuyển, Ưng dùng cái xác người bỏ bên sông giả làm Thúy Kiều: “Sẵn thây vô chủ bên sông, đem vào để đó lộn sòng ai hay“. Vì tìm thấy xác người chết cháy trong nhà: “Chạy vào chốn cũ phòng hương, trong tro thấy một đống xương cháy tàn. Ngay tình ai biết mưu gian, hẳn nàng thôi lại còn bàn rằng ai…” nên Thúc Kỳ Tâm yên trí Thúy Kiều đã chết và không biết Thúy Kiều bị bắt cóc. Mưu gian ấy thật hay, nhưng ai nghĩ ra? Mưu gian ấy không do Hoạn Thư vì khi sai bọn Ưng, Khuyển đi bắt cóc Thúy Kiểu, ta không thấy Hoạn Thư nói một câu như:
– Đến nơi, bay tìm sẵn một xác người chết, để khi bắt được nàng, đem cái xác ấy bỏ vào nhà rồi hãy đốt nhà.
Không thấy Hoạn Thư nói, và hai tên Ưng, Khuyển không đủ đầu óc nghĩ ra mưu ấy. Cái thây vô chủ không thể có sẵn ở bên sông chờ bọn bắt cóc người dùng đến.
Đấy là những chuyện yếu trong Kim Vân Kiều của Thanh Tâm. Thêm một chuyện vô lý nữa, chuyện tối vô lý: Thúy Kiều bị bắt về Vô Tích, làm người hầu trong nhà Hoạn Bà, rồi sang làm sến sớm khuya khăn lược hầu hạ Hoạn Thư. Thời gian ấy dài cả năm trời. Chỉ cần hỏi nhỏ người xung quanh một câu “Đây là đâu?”, chỉ cần nghe trả lời “Đây là huyện Vô Tích. Đây là nhà họ Hoạn”, người đần độn nhất cũng biết mình bị vợ lớn của chồng bắt về hành hạ. Người thông minh như Thúy Kiều không thể không biết nàng bị bắt về nhà họ Hoạn, chỉ nửa ngày sau khi bọn bắt cóc đưa nàng về tới nơi. Dù Hoạn Thư có ác ôn côn đồ như bọn Bắc Cộng, biệt giam Kiều, tức giam trong sà-lim kín mít, chỉ có một tên ngày ngày đưa cơm nước vào sà-lim, tên này không nói với Kiều nửa tiếng, Kiều không được thấy ai ngoài tên đưa cơm đó, Kiều cũng đoán được nàng đang nằm sà-lim trong nhà Hoạn Thư. Vậy mà truyện kể Thúy Kiều hầu hạ Hoạn Thư cả năm vẫn không biết nàng hầu Hoạn Thư, mãi khi thấy Thúc Kỳ Tâm ngồi bên Hoạn Thư mới té ngửa.
Kim Vân Kiều có nhiều điều vô lý, không đúng, không thể xẩy ra. Nhiều người đã bình loạn về Kim Vân Kiều nhưng dường như chưa có ai viết về những chuyện vô lý như vừa được kể. Mời quí vị đọc trích đoạn này:
Thúy Kiều không còn viện được lẽ gì để thoái thác, nàng lẳng lặng một lúc rồi mới thưa với ông bà Vương:
– Đối với lòng chí thành của chàng Kim, lại có cha mẹ và các em hết sức vun quén, mà con lại cứ nằng nặc chối từ thì chẳng hoá ra con là người kiểu cách lắm sao. Nhưng con xin nói: công việc đuốc hoa con chẳng dám trái lời, việc sửa sang chăn nệm con cũng sẽ làm trọn phận sự.
Đến đây nàng nói với Kim Trọng:
– Duy có việc Vu Sơn mưa chiều, mây sớm thì thiếp là kẻ đã sống một đời lang chạ. Nếu chàng muốn so xuân sắc của bông hải đường để làm hổ nhục cho thiếp thì thiếp quyết không vâng mệnh.
Kim Trọng mừng rỡ:
– Được đuốc hoa xum hiệp, chăn gối cùng chung, tôi mãn nguyện quá rồi, còn dám đòi hỏi gì nữa.
Ông bà Viên Ngoại sai người bầy biện nhang án đuốc hoa, trước án trải tấm đệm mầu hồng. Thúy Vân đỡ Thúy Kiều bước vào đứng bên Kim Trọng. Hai người bái trời, bái đất xong, mọi người phò cô dâu, chú rể vào phòng để hai người uống rượu hợp cẩn.
Chàng Kim dịch cây đèn bạc lại gần để nhìn mặt Thúy Kiều, thấy nàng vẫn còn đôi mắt sao xa lóng lánh, cặp má hồng vẫn đỏ hây hây, chẳng khác hơi sương lồng hoa thược dược, mưa xuân phất phới bông đào. Rồi chàng nhẹ tay nới rộng đai lụa, cởi áo cho Kiều, đỡ nàng vào màn uyên ương, bàn tay chàng sờ mó, mơn trớn đến chỗ tình nồng, dần dần tỏ ý tham hương, tiếc nhụy…Nhưng có ngờ đâu nàng đối với chàng tình nghĩa dẫu tựa keo sơn nhưng đến chuyện giao hoan thì nàng cự tuyệt
…”
Không biết trong nguyên bản Kim Vân Kiều, ông Tầu Thanh Tâm dùng chữ gì, ông Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch là “tình nồng”, “tới chỗ tình nồng”. Không biết rõ cái chỗ “tình nồng” ấy là cái chỗ nào của Thúy Kiều, ta đành tưởng tượng vậy. Nam nữ yêu nhau, phải xa nhau mười lăm năm mới gặp lại nhau, làm lễ thành vợ chồng, đưa nhau vào giường…
Động phòng dìu dặt chén mồi,
Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa.
Những từ sen ngó, đào tơ,
Mười lăm năm mới bây giờ là đây!
Tình duyên ấy, hợp tan này,
Bi hoan mấy nỗi, đêm chày trăng cao.
Canh khuya, bức gấm rủ thao,
Dưới đèn tỏ rạng, má đào thêm xuân.
Tình nhân lại gặp tình nhân,
Hoa xưa, ong cũ
…”
Nàng ba mươi tuổi đang xoan, chàng ba mươi hai tuổi chửa toan về già… Bàn tay chàng đã sờ đến cái chỗ “tình nồng” của nàng, vậy mà nàng vẫn có thể “Em chã… Buông ra… Để em tu”, vậy mà chàng có thể chịu để cho nàng ” em chã.. “, vậy mà chàng và nàng vẫn có thể chỉnh đốn áo xiêm, từ giường ngủ đưa nhau trở ra bàn ngồi uống ruợu, làm thơ, khẩy đờn. Ly kỳ nữa là uống rượu, mần thơ, khẩy đờn, nghe đờn chán rồi chàng và nàng lại đưa nhau vô giường, nằm bên nhau chàng ngủ ngon, nàng ngủ êm một giấc đến sáng. Thế rồi nhiều đêm sau chàng và nàng vẫn cứ vào giường nằm bên nhau để… ngủ!!!
Hết nước! Đừng nói thầy Nhan Hồi một giỏ cơm, một bầu nước trong ngõ hẹp vẫn vui, đến ông Khổng Khâu mà đêm đêm nằm như thế cũng không ngủ nổi!
Kim Trọng – Thúy Kiều vợ chồng “chay”, đêm đêm chỉ nằm cạnh nhau để ngủ, đêm đêm nằm chung giuờng mà yên lành ngủ được… Mèn ơi… Làm gì có chuyện ấy. Đến gỗ đá nằm chung giường thì cũng… phải làm thôi, không làm không được, con người ta thịt da ai cũng là người! Thánh cũng không chịu được, đừng nói người ta! Chuyện Kim Trọng và Thúy Kiều đêm nào cũng nằm chung giường mà không làm cái chuyện trong Liêu Trai Chí Dị gọi là “giao hoan”, và Thúy Kiều đòi “đi tu” – theo tôi – là hai việc giả tạo nhất, không có lý nhất. Trong những đêm nằm buồn ở Chí Hòa, tôi mần những câu thơ cay cay để vịnh Thúy Kiều đi tu:
Sao em trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy em đúc một tòa thiên nhiên
Đào hoa trong bấy nhiêu niên
Mà em ăn nói nghe phiền lắm thay!
Mới ba mươi tuổi trao tay
Tu gì được cái tuổi này mà tu?
Em đòi em khép phòng thu
Đêm thu gió lạnh nó cù… em mở ngay.
Hay gì chuyện đó mà hay
Em tu không khéo có ngày em hoảng chưa.
Tu mà uống rượu đánh cờ
Tu xem hoa nở, tu chờ trăng lên.
Em tu cho phỉ mười nguyền,
Cho tình em đượm cho duyên em nồng.
Tu mà làm lễ tơ hồng
Tu mà hoa chúc, động phòng sánh đôi.
Tu mà dìu dặt chén mồi.
Bâng khuâng kinh cũ, ngậm ngùi kệ xưa.
Em ơi, em tu từ sen ngó đào tơ
Mười lăm năm em tu đã, bi giờ em lại tu!
Ầu… ơ… ví dầu…
Cá lóc thì nấu canh chua
Em đi ở chùa, ai đẻ con anh?
Em tu em độ chúng sanh
Em ăn thịt mỡ, dưa hành ở đâu?
Em tu mà tóc đầy đầu
Nam mô bồ tát Thị Mầu… em tu!

Năm 1960 xanh xưa ở Sài Gòn xưa xanh…
Năm 2004 liêu lạc xứ người…
Thấm thoắt vậy mà đã bốn mươi bốn mùa lá rụng đi qua cuộc đời… Dòng thời gian… trôi chậm, trôi nhanh, nhìn lại như mới là buổi chiều hôm qua, tôi ba mươi tuổi, trinh thì không còn nhưng trắng thì còn sam sám trắng, tôi đứng nhìn tấm ảnh nàng kiều nữ khăn voan trắng cô dâu trên đầu và hàng chữ Thơ Kiều nàng viết gửi người nàng yêu, nàng xin người nàng yêu tha cho nàng cái tội nàng lên xe bông với người khác.
Trăm nghìn gửi lậy Tình quân.
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
“.
Buổi chiều năm xưa khi đọc hai câu Kiều ấy, tôi ngất ngư con tầu đi, tôi nghĩ: “Tuyệt cú mèo! Lẩy Kiều như thế này mới là Lẩy Kiều! Sao lại có người Lẩy Kiều tuyệt vời đến như thế này…”
Nhưng năm xưa ấy tôi còn trẻ, tôi còn đòi hỏi nhiều, tôi còn khó tính, tôi nghĩ: Trăm nghìn gửi lậy tình quân là đủ rồi, được rồi. Cần gì phải Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi! Trăm nghìn gửi lậy tình quân, rồi thôi, hay hơn. Năm nay, tôi đã sống gần hết đời tôi, tôi đã yêu, tôi đã…
Năm nay mái tóc không xanh nữa,
Tôi đã đau thương, đã nợ nần…

Tôi không còn khó tính, tôi không còn đòi hỏi, tôi thấy phải là “Trăm nghìn gửi lậy Tình quân, Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi… ” Năm nay tôi vẫn thấy Nàng là Người Đàn Bà Đẹp Đa Tình Lẩy Kiều hay nhất đời tôi – Người Đàn Bà Đẹp Đa Tình Lẩy Kiều viết hoa cả 8 chữ. Không cần viết Người Đàn Bà Việt Nam Đẹp Đa Tình – cẩn thận thế là thừa vì người đàn bà Việt Nam nào cũng đẹp, cũng đa tình, không đẹp, không đa tình, không phải đàn bà Việt Nam.
Anh X đã qua đời. Tôi không biết Nàng, Người Đàn Bà Đẹp Đa Tình Lẩy Kiều tuyệt diệu nhất đời tôi, năm nay còn ở cõi đời này không. Nếu còn, tuổi đời nàng mới Tám Bó, nếu còn dù nàng Tám Bó, nàng vẫn đa tình, vẫn quyến rũ như năm nàng Bó Tám. Nhưng mà… làm gì có Nàng, chuyện Nàng trước khi lên phi cơ vào toa-lét, khi trở ra đưa kỷ vật cho người yêu. Chuyện Nàng Cô Dâu Voan Trắng Lẩy Kiều em lậy anh ngàn lậy em đi lấy chồng, tình duyên của chúng ta có chừng này thôi… là chuyện tôi bịa ra, chuyện tôi bầy đặt. Cõi đời này làm gì có Nàng.
Vì tôi tưởng tượng ra Nàng nên tôi còn sống, Nàng làm sao chết được! Trong tôi Nàng sống mãi những buổi sáng Chủ nhật nắng vàng rực rỡ trên đường Lê Lợi, môi Nàng hồng, mắt Nàng chan chứa Tình Yêu, những buổi chiều thứ Bẩy gió từ sông đến vờn yêu tà áo Nàng trên đường Tự Do, những đêm Nàng và tôi nhìn trăng lung linh mặt nước sông Sài Gòn, xóm Thủ Thiêm bên kia sông mờ trong sương trắng, đôi mắt Nàng hư ảo trong những đêm mưa lạnh, Nàng và tôi nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn Ngân Đình Tửu Gia, những tiếng chuông nhà thờ Tân Định, chúng tôi nằm bên nhau nghe xa gần trong tiếng thở của nhau trong những sáng Sài Gòn tinh sương… Dù cho vật đổi, sao dời… Dù núi Thái Sơn mòn chỉ còn như cục sà bông Camay, dù biển Thái Bình cạn người ta có thể đi bộ qua biển từ Việt Nam sang Hoa Kỳ, trong tôi mãi mãi Nàng hai mươi bẩy tuổi, tôi mãi mãi ba mươi.

(Hết Chương 8)

Share this post