Vòng Tay Yêu Tinh (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 20

Vòng Tay Yêu Tinh (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 20

VÒNG TAY YÊU TINH
* Tiểu Thuyết Phóng Tác Hoàng Hải Thủy
* Tinh Hoa Miền Nam xuất bản (Sài Gòn 1972)
* Nguồn: Blog Hoàng Hải Thủy (https://hoanghaithuy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 20

Sự yên lặng ấy thật đột ngột và đầy đe dọa. Có chuyện gì đã xẩy ra ở trong đền?

Không có lý bọn hắc nô đã giết được hết những người toan giết Ma Vương.

Cũng không có lý bọn hắc nô đã bị đàn áp.

Năm tiếng nổ vừa rồi có thể là 5 tiếng súng. Nhưng ai đã bắn súng, cũng không có lý chỉ có 5 tiếng súng nổ mà chế ngự được ngay cảnh náo loạn khủng khiếp như tất cả mọi người đều nổi điên trên đó?

Kiều Xuân nói như thì thầm:

– Im cả rồi. Sao vậy kìa?

Tôi cũng nói nhỏ:

– Một bên đã thắng…

Tôi cảm thấy Kiều Xuân rùng mình:

– Ma Vương… Anh không nghĩ rằng Ma Vương đã thắng chứ?

Tôi không thể trả lời được nàng. Tôi không thể biết được cuộc chiến trí mạng giữa Ma Vương và Hải Tùng đã kết liễu ra sao… Ma Vương giết chết Hải Tùng hay ngược lại? Tôi hy vọng Hải Tùng đã giết được Ma Vương. Ma Vương tuy mạnh hơn người thường nhưng sức mạnh của Hải Tùng – tôi đã biết – là một sức mạnh vô địch, khủng khiếp. Lão có hai cánh tay bằng thép và khi lão đã siết được cổ Ma Vương, dù hai tay lão có bị chặt rời khỏi thân thể, tôi tin rằng chúng vẫn siết chặt cổ Ma Vương. Ðiều dễ đoán nhất là cả Hải Tùng và Ma Vương đều đã chết. Ma Vương chết vì bàn tay thép của Hải Tùng và Hải Tùng chết vì những mũi dao của bọn hắc nô.

Đoán vậy nhưng tôi không thể nói cho Kiều Xuân biết.

Nhưng tôi cũng cần phải nói lời gì để làm cho nàng bớt sự lo âu:

– Dù cho Ma Vương có thoát chết được hôm nay hay không, thời ngự trị vàng son của hắn cũng chấm dứt rồi. Hắn không còn được người kính sợ hay thần phục nữa. Trò bịp bợm của Ma Vương đã bị lộ tẩy. Tất cả đều thấy hắn chẳng có quyền phép gì hơn chúng ta. Ma Vương không còn đáng sợ nữa.

Qua bàn tay nàng nắm chặt tôi, tôi cảm thấy nàng vẫn còn run rẩy:

– Em không sợ nếu có anh ở bên – nàng run giọng – anh và chú Hiêu. Nếu có ông Hải Tùng cùng ở bên cạnh mình nữa thì nhất.

Bé Hiêu chợt nói:

– Mẹ kiếp… Mình tưởng mình đã biết hết. Nào ngờ…

Câu nói của gã làm tôi lo âu:

– Chú nói chi?

Bé Hiêu quờ quạng vách tường nhẳn thín trước mặt chúng tôi:

– Tôi nói là chúng ta chưa thoát thân. Tôi tưởng là tôi đã rõ biết tất cả đường ngang, ngõ tắt trong sào huyệt này, nhưng cho đến giây phút này tôi mới biết là tôi lầm…

Bé Hiêu thật dễ thương, nhưng gã có một tật hay nói nhiều. Nói nhiều mà còn nói xa xôi, bóng gió nữa. Tôi gằn giọng hỏi gã:

– Chú nói vậy nghĩa là sao đây?

– Chúng ta có thể bị lạc đường – gã đáp – chúng ta có thể cứ đi quanh quẩn trong này cả đêm. Tôi không biết con đường này dẫn chúng ta đến đâu.

Tôi ngạc nhiên:

– Ủa… Tôi tưởng chú biết…?

Gã phớt tỉnh:

– Tôi cũng tưởng như ông.

Tôi đề nghị:

– Chúng ta cứ việc đi thẳng tới. Sau lưng chúng ta là đền may rủi. Ðiều đó chúng ta biết chắc rồi, con đường này chắc chắn phải đưa chúng ta tới một nơi nào chứ?

Gã chặc lưỡi:

– Tất nhiên. Nhưng nó có thể đưa ba chúng ta tới chỗ chết. Ông thấy không..chúng ta ba người mà chỉ có mỗi một cây súng, lại thêm cô Kiều Xuân yếu đuối không thể chiến đấu được… Nếu bọn hắc nô cả trăm thằng ập tới thì sao? Ðừng nói gì cả trăm thằng, chỉ cần 10 thằng thôi, chúng ta cũng có thể bị chết. Chết lúc nào chứ chết lúc này, khi chúng ta đã hạ được Ma Vương thật là đáng tiếc… Chết vì bọn hắc nô ngu si như súc vật nữa lại càng là một cái chết đáng hối hận…

Tuy bực tức nhưng tôi cũng thấy Bé Hiêu nói đúng. Chết lúc này và nhất là chết vì bọn hắc nô súc vật thật là lãng nhách.

Ðúng lúc chúng tôi lo sợ thì hành lang đưa tới một ngã tư. Rẽ trái hay rẽ phải đây? Ðường nào đi tới đất sống, đường nào đi vào chỗ chết? Bé Hiêu đứng lại và quay nhìn chúng tôi. Tôi cảm phục gã vì càng những lúc nguy cấp, gã lại càng tỏ ra thông minh, tháo vát, gã nói với Kiều Xuân:

– Cô chọn một con đường… Cô chỉ tay vào đường nào là chúng tôi đi đường ấy.

Hai con đường giống hệt nhau. Không do dự, Kiều Xuân chỉ tay vào con đường bên phải.

– Ðúng rồi… -Bé Hiêu vui vẻ la lên – Chúng ta cứ đường phải mà đi. Có chết cũng là chết phải.

Tôi dắt Kiều Xuân theo gã đi. Vừa đi, gã vừa chăm chú nhìn hai bên vách như để tìm những dấu vết có thể có ở đó.

Tôi thấy đây là lúc thuận tiện để tôi hỏi về những việc xẩy ra trong thời gian tôi bị Ma Vương giam kín một chỗ.

– Bé Hiêu… Anh cho tôi biết anh đã làm cách nào để phá cái máy điện tử của Ma Vương? Trong khi tôi bị giam, anh đã trở lại đền ư?

Tuy chỉ thấy lưng Bé Hiêu nhưng tôi cũng biết là gã đang cười, cái cười làm miệng gã mở rộng đến mang tai.

– Tôi đâu có trở lại đấy, ông… Trở lại đấy khó lắm đâu phải dễ. Ông đã cùng tới đó với tôi, ông biết là khó đến chừng nào…

– Vậy thì chú sửa lại cái máy đó làm Ma Vương ngất ngư lúc nào mà giỏi quá vậy?

– Tôi sửa máy ngay đêm tôi với ông vào đó và khám phá ra nó. Ông tưởng là tôi lắp lại cái máy như cũ nhưng chính lúc đó là lúc tôi phá nó. Tôi cho tất cả bước chân vàng trên trái cầu đều thuộc về bên may mắn. Cho Ma Vương tha hồ nhấn nút, bước chân nào hiện lên trái cầu cũng là vết chân của Phật. Hắn không ngờ là máy bị phá, hắn không kiểm soát lại nên hắn vỡ mặt… Hà… Hà… Thật suốt đời tôi chưa bao giờ tôi thống khoái bằng lúc tôi nhìn bộ mặt ngơ ngác của hắn. Lúc đó ông có nhìn mặt hắn không? Ha… Ha… Hầu như người đang ngủ mê, hắn không tin ở chính mắt hắn…

Tôi cũng cười lớn theo Bé Hiêu mặc dù lúc đó đời sống của ba chúng tôi vẫn còn bị đe dọa, dù lúc đó chúng tôi vẫn còn có thể bị chết. Quả thực giây phút nhìn Ma Vương ngạc nhiên đến đờ mặt ra đó là một khoảng thời gian thống khoái nhất đời. Bé Hiêu có quyền cười. Gã có quyền cười từ lúc đó cho tới lúc gã chết.

– Không hiểu tại sao – gã tiếp – tôi lại có ý nghĩ rằng ông sẽ bị Ma Vương bắt đi lên đài lần tới… Linh tính thật kỳ cục. Tôi nghĩ vậy mà hóa ra đúng. Lúc đó có lẽ tôi cũng nghĩ rằng còn lâu lắm tôi mới có dịp đặt chân vào đền, rờ mó cái máy đó. Nên tôi tiện tay sửa lại nó luôn. Không ngờ tuyệt vời…

Tôi đưa tay lên nắm lấy vai Bé Hiêu, giữ gã đứng lại:

– Chú Hiêu… Chú đã trả lại tôi gấp ngàn lần những gì tôi đã làm cho chú.

Gã giơ bàn tay nhỏ như trẻ con lên ngăn tôi:

– Chờ đến lúc chúng mình thoát ra khỏi đây và có cám ơn tôi cũng chưa muộn.

Gã chợt hất đầu lên như một con rắn nghe thấy tiếng động lạ:

– Chi vậy?

Có một tiếng nổ vừa vang lên, tiếng nổ lớn hơn những tiếng súng chúng tôi vừa nghe thấy nổ trong đền hồi nẫy. Tiếng nổ này cũng gần chúng tôi hơn nữa. Vách hàng lang và cả sàn hành lang dưới chân chúng tôi đều rung chuyển.

Bé Hiêu thì thào:

– Không phải tiếng súng, ông ơi.. Hình như là tiếng bom… Hay là… đúng rồi, tiếng tạc đạn.

Tiếng nổ thứ hai vang lên. Khi âm vang của nó chưa dứt, tiếp theo là tiếng nổ thứ ba.

Bé Hiêu kêu lên:

– Ðúng tạc đạn rồi.

Và như một con chó săn tinh khôn đánh hơi thấy con mồi, gã tíu tít chạy qua chạy lại hai bên vách hành lang. Tôi có cảm giác như toàn thân gã đều tìm lối thoát. Gã sờ bằng tay, dẫm bằng chân và dùng cả mũi ngửi để tìm cửa.

– Phải mau mau ra khỏi đây…

Chợt gã đứng lại:

– Ðây rồi…

Gã la lên và rối rít vẫy chúng tôi lại:

– Ðứng sau tôi. Ông coi chừng khi tôi mở cửa.

Việc tìm ra cửa khó nhưng việc mở cửa thì dễ. Tất cả những khung cửa bí mật hoặc để lộ cho mọi người qua lại trong lâu đài này đều có một hệ thống đóng mở giống nhau. Chỉ vài giây sau Bé Hiêu đã tìm ra chốt điện mở cửa.

Khung cửa bí mật mở ra và trước mặt chúng tôi là một thang máy.

Bé Hiêu thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Tôi và Kiều Xuân theo gã vào thang máy:

– Chúng mình đi lên hay đi xuống, Thiếu Tá?

Gã nhường cho tôi quyền quyết định, nhưng tôi có thể hơn gã ở nhiều nơi, ở đây gã hơn tôi. Tôi hỏi lại gã:

– Anh nghĩ sao, nên lên hay xuống?

Gã lý luận:

– Ðền May Rủi ở từng dưới cùng của lâu đài. Hiện chúng ta đang ở dưới thấp, nếu chúng ta đi xuống nữa, chúng ta sẽ tới sào huyệt của bọn hắc nô. Dại gì mà xuống thấp hơn nữa, chúng ta đi lên…

Tôi đồng ý ngay:

– Ðúng đấy.

Kiều Xuân lại quyết định:

– Chúng ta đã đi theo đường phải. Bây giờ chúng ta đi lên.

Bé Hiêu nhấn nút điện cho thang máy đi lên. Ðúng lúc đó, tiếng nổ thứ tư vang lên. Lần này tiếng nổ còn gần chúng tôi hơn nữa. Cả thang máy rung chuyển. Trong dư vang của tiếng nổ, chúng tôi nghe có tiếng gạch đá rơi ầm ầm..

Kiều Xuân xúc động:

– Chúng ta tới gần hơn…

Tôi thấy hy vọng sáng lên trong đôi mắt đẹp của nàng và hy vọng sáng lên trong đồi mắt Bé Hiêu. Gã nói như người tính toán một mình:

– Nếu lọt vào được phòng riêng của Ma Vương thì chắc chắn là thoát. Vào được đó mình sẽ tìm được đường hầm bí mật thông ra biển.

Gã cho thang máy dừng lại. Cửa thang vừa mở, tôi đã ngửi thấy mùi khói thuốc cháy khét lẹt. Bé Hiêu thận trọng ló đầu ra ngoài nhìn, rồi gã gật đầu ra hiệu cho chúng tôi và gã bước ra khỏi thang máy trước.

Chúng tôi bước vào một căn phòng nhỏ. Trong phòng không có đồ đạc gì hết. Cuối phòng có một khung cửa lớn bằng đồng. Tôi là người đã nhìn thấy nhiều khung cửa lớn trong những tòa nhà lớn, nhưng chưa bao giờ mắt tôi nhìn thấy nhiều khung cửa lớn, vĩ đại, đồ sộ và chắc chắn như khung cửa này. Hai cánh cửa được làm bằng đồng đen, trông nặng đến nỗi tôi nghĩ rằng cửa phải được mở ra, đóng vào bằng máy điện. Sức người kể cà người khỏe, cũng không đủ để làm chuyển động cánh cửa đồng lớn đến như thế.

Trong khi chúng tôi đứng đó do dự, ngần ngại, hai tiếng nổ lớn nữa vang lên. Tiếng nổ như vang lên ở trên từng lầu ngay trên đầu chúng tôi. Tiếp đó là một tiếng ầm dữ dội vang lên. Ðó là tiếng thang máy từ trên cao rớt xuống đất. Khi ra khỏi thang máy: Bé Hiêu đã phá hoại cái thang máy này. Phá hoại là nghề riêng của gã nên chỉ cần mất nửa phút là làm cho thang máy rớt từ trên cao xuống tận cùng hầm lâu đài.

Cánh cửa vào thang máy bật tung. Từ trong vòm thang khói đen bốc lên, bay ra mù mịt:

– Cháy rồi… Cháy rồi… Thiếu Tá ơi…

Bé Hiêu kêu lên và tôi thấy mặt gã trở thành trắng bệch.

Ðột nhiên tôi nghĩ đến Phát.

Những tiếng tạc đạn vừa nổ làm tôi liên tưởng đến những tiếng tạc đạn có hơi độc đã được Phát chế tạo dành để dùng cho cuộc đánh tàu Phượng Hoàng. Chính Ma Vương nói cho tôi biết vài tiếng đồng hồ trước khi bọn hắc nô tới áp giải tôi tới đền may rủi là hiện lúc đó Phát đang ẩn nấp ở một nơi gần phòng thí nghiệm của hắn. Chắc chắn là khi lệnh báo động vang lên trong lâu đài, những tên hắc nô có nhiệm vụ cầm chân Phát tại chỗ đã vội vã kéo nhau ùn ùn chạy đi tiếp cứu Ma Vương. Phát đã nhìn thấy cơ hội để hắn có thể trả thù. Tuy đang cơn điên loạn nhưng rất có thể hắn cũng còn đủ trí khôn và trí nhớ để tìm vào nơi cất những trái bom do chính tay hắn chế tạo ra, lấy chúng đem đi dùng vào việc giết Ma Vương, kẻ thù tối độc của hắn.

Tôi bước tới đẩy thử cánh cửa bằng đồng. Ðúng như tôi nghĩ, cánh cửa không nhúc nhích nửa ly. Bé Hiêu bước tới tiếp tay tôi. Gã tìm thấy một nút điện nằm ngay giữa nắm đấm, nhấn nút, và có tiếng động cơ rè rè chuyển động, cánh cửa lớn từ từ mở ra.

Tôi chĩa súng vào phòng.

Một căn phòng rộng, dài hiện ra, và trước mắt tôi không biết bao nhiêu bảo vật đẹp tuyệt trần. Phòng riêng của Ma Vương. Ðây chính là nơi tôi đã được Ma Vương vời đến hôm nào và tôi đã từ đây bước ra, lòng thán phục Ma Vương. Hôm ấy, nếu không có tình yêu giữ tôi lại, nếu đời tôi không có Kiều Xuân và nếu tôi không được nàng yêu, tôi đã từ bỏ ý định chống đối Ma Vương và tôi đã trở thành đệ tử trung thành của y.

Khói thuốc súng khét lẹt không biết từ đâu bay vào phòng này. Khói làm mờ những bảo vật quí nhất, đẹp nhất trên trái đất. Nơi cuối phòng có treo những tấm thảm Trung Ðông lớn, và trong lúc đứng đó, súng cầm lăm lăm trong tay chờ đợi mọi biến cố, tôi thấy những tấm thảm nơi cuối phòng lay động.

Bé Hiêu cũng trông thấy như tôi, gã la lên:

– Coi chừng!

Tấm thảm rẽ ra và một người loạng choạng bước vào phòng.

Người đó là Ma Vương.

(Còn tiếp Chương 20)

Share this post