Xuân Bằng Hữu & Xuân Cố Sự (Tùy Bút & Thơ – Trần Tuấn Kiệt)

Xuân Bằng Hữu & Xuân Cố Sự (Tùy Bút & Thơ – Trần Tuấn Kiệt)

XUÂN BẰNG HỮU
* Tùy bút

Lúc Thanh Tâm Tuyền còn ở Việt Nam, có lần ngồi chơi, Lê Nguyên Đại đưa ông đọc một bài thơ tựa “Sài Gòn Cũ” không có tên tác giả. Thanh Tâm Tuyền đọc thơ xong, suy nghĩ một lát rồi nói:

– Lời bài này chỉ có thể của Bùi Giáng hay là Trần Tuấn Kiệt mà thôi. Tuy nhiên vì câu cuối có nhắc tới bằng hữu nên biết chắc là của Trần Tuấn Kiệt. Bùi Giáng xưa nay không có bạn, nhưng Trần Tuấn Kiệt thì ngược lại.

Quả đúng như thế. Về sau, anh Diên Nghị, tác giả “Xác Lá Rừng Thu” có bình bài thơ này trên báo Nguồn của Song Nhị. Cuộc đời của Kiệt quen tính trọng bạn bè hơn cả gia đình và bản thân. Nay nhân mùa Xuân đến, có mấy dòng để Kiệt nhớ lại bao nhiêu bằng hữu xa gần.

Ở quê nhà, tôi thường liên lạc với nhà thơ lão thành từng viết rất nhiều báo văn học trước 75 là thi sĩ Hạc Thành Hoa (vừa in thi phẩm có giá trị là “Tuyến Tập Thơ Hạc Thành Hoa“), Ngô Nguyên Nghiễm, Phạm Cung, và nhất là bạn họa sĩ Hồ Hữu Thủ.

Việt Nam còn có Hoài Khanh dạy ngoại ngữ ở Biên Hòa, Nguyễn Đức Sơn ở rừng núi Bảo Lộc lâu ngày không gặp.

Quê hương cũng đã mất đi nhà thơ Kim Tuấn hay tận tình giúp anh em, như Trần Áng Sơn trước khi mất đã in một tập thơ Kiệt đề bạt.

Hải ngoại có bạn thơ Phù Hư Dật Sĩ Võ Thạnh Văn, Phạm Nhã Dự… nhất là bạn Nguyễn Đức Liêm rất hào sảng. Tất nhiên là không quên Phan Nhật Nam và cả Vũ Uyên Giang… Xa xôi còn có Nhã Ca, Mai Vi Phúc, Trần Dạ Từ… vẫn còn hoạt động báo chí hăng hái như Phạm Quốc Bảo và Viên Linh vậy.

Rất nhớ Nguyên Khai, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Đinh Cường, Phan Diên, Thanh Thương Hoàng… Các bạn họa sĩ vẽ giúp Kiệt trình bày các quyển “Thơ Trần Tuấn Kiệt” (Nguyễn Trung), “Nai Thơ” (Đinh Cường), “Cổng Gió” (Động Đình Hồ), “Nàng Tôn Nữ” (Nguyên Khai). Bạn Nguyễn Văn Hạng vừa rồi in thơ cũng có viếng thăm.

Lâu nay không có tin tức của Hương Sa Mạc. Đất Mỹ có Phạm Tường, chẳng biết bạn còn làm thơ không. Bà Tuyết Linh cũng có liên lạc.

Trở lại Lê Nguyên Đại là người duy nhất viết về Bùi Giáng sâu sắc nhất mà từ trước đến nay tôi mới đọc được. Nếu bài đó phổ biến rộng thì những người biết về Bùi Giáng xưa nay chắc phải cần thẩm định lại bài của mình như thế nào mới đúng vậy.

Hễ đến mùa Xuân thì tôi lại nhớ tới những người tình xưa và nhất là những người bạn thân mà đời mình không thể nào quên. Nhất là khi nhắc họa sĩ Nghiêu Đề (Nguyễn Tiếp) thì lại nhớ tới Hồ Đắc Tâm, Đào Trường Phúc, Bùi Ngọc Tuấn. Nhớ tới cô bạn dễ thương có những vần thơ nhẹ nhàng tình nghĩa là Nguyễn Vũ Đan Vy. Khi đó anh em quây quẩn ở sau trường Đại Học Văn Khoa tổ chức vui mùa xuân có hội chợ và một sòng xì phé. Có cả Nguyễn Vạn Hồng, Phạm Quốc Bảo, Mai Vi Phú, Hồ Thành Đức. Bọn văn nghệ báo chí chúng tôi mặc dầu không học ở Văn Khoa nhưng luôn có mặt, như Nguyễn Nghiệp Nhượng đến chơi với Nguyễn Tuyển, Nguyễn Hữu Lượng, Nguyễn Khắc Nhân lúc nào cũng léng xéng ở sòng phé ở sau giảng đường. Những mùa xuân đó tôi thường đi chung với Trần Lam Giang cà phê cà pháo la cà ở đường Gia Long Ngã Bảy cho đến Tản Đà Chợ Lớn. Đi vòng vòng đã rồi thì cũng quay lại Văn Khoa với anh em.

Trụ sở CPS trong Văn Khoa thường tổ chức các buổi nói chuyện về chiến tranh và hòa bình, các buổi bình thơ, hát nhạc Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly lúc này mới ở Đà Lạt xuống. Có lần anh em bắt được con chó của nhà gần trường học định đem vào đánh chén. Trịnh trọng hơn cả bọn còn ra ngoài vác cả mấy két bia vào để đánh chén. Ai ngờ cầy tơ tụt giây chạy mất. Anh em không có mồi nhậu đành khiêng mấy két rượu bia đem trả lại tiệm. Bà chủ nhà chủ con chó biết được la mắng một trận nên thân. Ai nấy ôm bụng cười trừ được một bữa nghe mắng no nê hơn cả nuốt thịt cầy.

CPS tổ chức Đêm Thơ Chiến Tranh, anh em đều có mặt, có cả Viên Linh, Đỗ Quí Toàn, Đằng Giao, Trần Dạ Từ, Nhã Ca. Họ đọc thơ chiến tranh quy tụ thật nhiều thanh niên, ai nấy đều hăng hái vì đó là đêm đọc thơ đầu tiên. Trần Tuấn Kiệt không làm thơ chiến tranh mà chỉ có mấy câu thơ ngăn ngắn đọc lên cho anh em nghe ai nấy đều thích. Tuy nhiên vì hòa bình lúc đó ngắn ngủi nên thơ cũng ngắn như thế. Đại khái như bài:

Con chim
Hót ban đêm
Nó gọi vầng trăng
Chiếu vào phòng em”.

Hay
“Em hát trong rừng sao
Tôi ngủ dưới cội đào
Chợt mùa đông tuyết phủ
Biết tìm em phương nào”.

Hay
“Mai ta về sau núi
Mà cất am tỵ trần
Vẽ hình nàng lên gối
Ngồi ngắm suốt mùa Xuân”
.

Trần Dạ Từ có bài thơ chiến tranh tựa “Ru Con” thật hay, thật thê lương và điêu tàn:

“Ru con mượn bóng thay người
Mượn bia làm gối mượn trời làm chăn
Mượn cơn giông bão làm màn
Mượn nơi chiến trận làm miền rong chơi
Mượn xương máu bọc nụ cười
Mượn cơn bom đạn làm lời ru con”.

Bài thơ này đã ảnh hưởng khiến Trịnh Công Sơn cảm hứng viết bài “Ru Con Hai Lần“.

Viên Linh với “Cúc Hoa“, Đỗ Quí Toàn và một số anh em sinh viên lên đọc thơ đặc biệt để đả phá chiến tranh kéo vào từ miền Bắc. Đỗ Quí Toàn có dịch một thi bản tựa là “Nàng” của Holderlin. Thơ Cung Trầm Tưởng hay và rất được anh em tán thưởng. Khi thấy Cung Trầm Tưởng, tôi bèn đọc luôn bài thơ lục bát của anh nay còn nhớ mấy câu:

“Tàu đi dưới tỉnh núi còn vọng âm
Sân ga mái giọt âm thầm
Máu đi có nhớ hồi tâm đêm nào…”

Nghiêu Đề cũng góp mặt với anh em, thường đi với Đào Trường Phúc như cặp bài trùng. Đào Trường Phúc với cặp kính cận như cụ già với những vần thơ đẹp và những phút vui cười hết mình với bạn bè trong Văn Khoa. Nghiêu Đề có tính hay nói xiên nói xỏ nói móc họng người khác mà chẳng hề biết nể nang ai, Đào Trường Phúc hay chiều và thương bạn, Bùi Ngọc Tuấn cũng có tính cưu mang giúp đỡ bạn bè. Có lần cùng một đám anh em tụ nhau lại ở Đông Huê trà gia, quán Tàu ở ngã tư Cao Thắng, uống café, có cả Mặc Tưởng, Thùy Dương Tử và Tống Minh Phụng, anh này sau 75 có cha làm lớn trong “cách mạng” được bảo lãnh đi Hải Quân CS và đôi khi quay mặt lại với bạn bè.

Đang ăn uống vui vẻ chợt có một cô gái độ 19 – 20 tuổi xinh đẹp, đi vào quán ngồi xuống tự nhiên ở bàn bên cạnh. Nghiêu Đề lên tiếng mời sang nói chuyện chơi. Cô ta đến ngay, ngồi lại không chút ngại ngùng gì. Cô gái bảo không cha ở với mẹ ghẻ xấu tính nên bỏ nhà đi hoang. Nghiên Đề bảo về ở với anh em, cô ấy chịu, rồi sau đó kéo nhau về nhà tôi. Bà xã tính tự nhiên hay thương người nên cứ cho ở không thắc mắc gì cả. Độ một tuần cô ấy đi theo một anh chàng gù lưng làm ở Rex và bị anh ta hãm hại đến mất cả trinh tiết, từ đó cô ả đi làm gái giang hồ luôn. Khổ nỗi đến đâu cô ta cũng đều xưng là em gái của Trần Tuấn Kiêt. Một ông chủ báo đến gặp nói cho Kiệt biết cô hay la cà các nơi làm báo cho nên tiếng đồn mau lan xa là Kiệt có cô em làm gái giang hồ. Ban đầu Kiệt rất khó chịu nhưng sau đó cũng không để ý, lại thấy tội nghiệp nên chỉ nhắn các bạn hễ gặp cô thì bảo cô đừng xưng là em Trần Tuấn Kiệt nữa mà thôi.

Kiệt làm báo Sống với Chu Tử một thời gian. Thật sự đầu tiên là đến chơi với anh, có Tú Kếu Trần Đức Uyển và Đằng Giao là rể Chu Tử. Con nuôi của Chu Tử sau lấy Nguyễn Thụy Long rồi bỏ. Ban đầu có Duyên Anh, Trần Dạ Từ và Hồ Nam cũng thường đến chơi với Chu Tử. Hồ Nam làm báo Quyết Tiến thì phải. Duyên Anh và Trần Dạ Từ theo Chu Tử làm báo khác. Trong giới có người cho họ là phản. Mặc dù Chu Tử có tính cưu mang bạn nhưng kế bên Chu Tử lại có tay làm báo cho Công an xưa là Anh Quân thường to nhỏ nói xấu anh em như một tên nịnh thần ngày xưa. Vì thế mà anh em bỏ đi dần chỉ còn lại Đằng Giao, Tú Kếu mà thôi. Tú Kếu cứng cỏi ngay thẳng chẳng ai dám đụng tới nên dù Anh Quân có nói gì đi nữa thì Chu Tử cũng nể nang không nghe theo.

Hằng ngày Kiệt đi làm báo thường nhất có báo của ông Nguyễn Vỹ vốn sống một mình có xe hơi riêng. Lúc đó báo Phổ Thông bán chạy tới con số 25 ngàn mỗi kỳ.

Sau đó có nhiều báo khác ra đời cũng loại bán nguyệt san và nguyệt san như tờ Truyện Hay chuyên về tiểu thuyết dường như Viên Linh làm tổng thư ký (không biết tôi nhớ có đúng không), Duyên Anh viết báo rất ăn khách nhất là tiểu thuyết. Trần Dạ Từ làm Báo Đen có nhiều anh em chung vui.

Cứ xong việc, Kiệt lại vào Văn khoa chơi với Trần Lam Giang, Đào Trường Phúc… Đôi khi kéo Bùi Ngọc Tuấn lang thang vào Chợ Lớn ăn mì và tìm mua sách võ Tàu về cho Bùi Ngọc Tuấn dịch ra mà xuất bản. Phạm Quốc Bảo cũng dịch nhiều sách, nhiều bài báo võ học thế giới cho nhà xuất bản Hồng Lĩnh in. Quyển “Tuổi Trẻ Và Chiến Tranh Tây Phương” dịch ra bán rất chạy. Có tiền cả bọn cùng nhau ra quán ăn nhậu hết. Anh em lúc bấy giờ đang thời niên thiếu rất hăng và dễ đụng chạm với người khác. Bạn thường ăn ngủ ở nhà Trần Tuấn Kiệt ở đường Phan Đình Phùng Cao Thắng có cả Bùi Hồng Sỹ và Nguyễn Vương.

Lúc đó Kiệt thường đi đá gà ở 73 Nghĩa Địa Đô Thành. Trại gà là khu đất hoang. Ngoài các tay đá gà cơm gạo còn có anh chàng được gọi là “thiếu tá gà”. Thiên hạ kháo là nhờ giỏi coi gà cho Nguyễn Cao Kỳ nên được phong hàm thiếu tá!

Khi không có đề tài gì cho mục “Nói Chuyện Với Đầu Gối” thì Chu Tử thường đem Kiệt ra làm đề tài. Cho nên mới có chuyện Trấn Tuấn Kiệt nổi tiếng nhất nước là đá gà, còn người thật thứ nhì mới đến Nguyễn Cao Kỳ. Sở dĩ có chuyện đó là vì mỗi chiều thứ bảy đi đá gà về, Kiệt đều mua mấy con gà chết trận về cho bà xã nấu cà-ri đãi anh em ăn no nê sảng khoái. Nhằm lúc không có gà chết mà bạn bè tới nhà đông quá, Kiệt phải làm luôn con gà cưng nhất của mình đãi anh em nhậu.

Ở Chợ Cũ ngày xưa vốn là chợ chim chợ chó, cả khỉ vượn đều đem ra bán. Kiệt có lần mua được một con công bị thợ săn gài bẫy bắt được. Con công tuy nhỏ nhưng nó cũng bay được hay bay lên đậu ở nóc nhà hàng xóm. Cao hứng, Kiệt bảo Nghiêu Đề nhắn tin anh em hay đến thứ bảy sẽ làm nem công cho mọi người nhậu. Nhưng đến chiều thứ Sáu, con công bay vuột mất. Nó bay không xa, có lẽ bị người ta bắt mất. Thất hứa món nem công nhưng Kiệt mua rẻ được một con bê nhỏ vì có người quen làm ở lò mổ. Có con bê thui ngày đó anh em cũng thỏa lòng vui vẻ cả làng.

Tôi không quên các buổi nhậu say. Nhớ lúc nhậu say mềm ở nhà gần chợ Vườn Chuối, Phạm Quốc Bảo say quá, cười ngất lên không thôi vang động cả khu hẻm ở đấy khiến cả nhà đều sợ anh bị đứt hơi mà chết. Hồ Đắc Tâm tướng lùn tịt, bạn chí thân cùng quê ở Sa Đéc quận Nha Mân là nơi nổi tiếng con gái đẹp nhất miền Tây. Tâm uống rượu như hũ chìm giống như Mặc Tưởng và lúc say cứ tìm xó kẹt góc nhà mà ngồi khóc hu hu. Anh em cười đau bụng cứ để mặc. Mặc Tưởng cao lớn, tướng đẹp như Tây uống rượu bao nhiêu càng tỉnh táo bấy nhiêu. Trùng Dương, Phan Minh Hồng lúc ấy ở Hải Quân thường ăn nhậu với anh em, có cả Nguyễn Trung họa sĩ. Trùng Dương rất quí Mặc Tưởng, khi nghe bạn chết ở An Lộc rất buồn. Cả Uyên Thao, Phan Minh Hồng, Tú Kếu, Trùng Dương, Chu Tử… đều viết điếu văn cho bạn, in đầy lên trang giữa tờ báo Sống.

Tờ Sống này sau khi Nguyễn Cao Kỳ thất thế bị Nguyễn Văn Thiệu vùi dập. Chu Tử thất bại mất giấy phép cả chục lần đổ nợ lớn. Tôi không thấy ai kiên cường liều mạng làm báo như Chu Tử cả. Có lần bị bắn bể hàm hạ được sang Nhật cấp cứu. Sau mỗi ngày cận Tết, Chu Tử ngồi đau đớn vì vết thương gặp lạnh đau nhức khôn cùng.

Lúc Kiệt đi tù gần 10 năm ở trại Gia Trung về ở nhà, các bạn thường giúp đỡ: Trần Lam Giang, Bùi Ngọc Tuấn, Phương Triều, Thái Dương, Đào Trường Phúc… gởi về.

Trải qua một cuộc bể dâu. Nay nhiều bạn đã ra đi. Còn lại đều đã già, có kẻ vừa đi vừa phải vịn vào tường, nhưng sự độ lượng, nét hào hùng, tinh thần đấu tranh cho chính nghĩa cho nhân quyền cho tự do của dân tộc vẫn còn đó.

Mùa xuân năm Thân, năm Con khỉ Mậu Thân ngày nào, Trần Tuấn Kiệt có làm mấy câu thơ ngắn lúc đó:

“Giặc Bắc rút khỏi thành
Để lại nhiều xác thối”.

Thắng bại gì, dân tộc còn thì chân lý tự do vẫn còn đó, cuộc chiến đấu vẫn còn cho quê nhà phải không các bạn ta.

Sức tàn lực kiệt cầm cây bút không còn nổi nữa, nhưng sự tinh anh và lòng yêu tổ quốc vẫn còn đó. Xin chào tất cả bằng hữu và anh em mai sau.

Bài này nhờ có Đào Trường Phúc gợi ý nên mới được viết ra.

Trần Tuấn Kiệt (Sài Gòn, 1-2016)

XUÂN CỐ SỰ
* Thơ cuối năm

Gió từ vạn cổ rủ rê ta
Trăng sáng chim sương động hải hà
Lịch sử khép hờ trang giấy mỏng
Nghe chừng thiên địa cũng phôi pha

Áng thư bút mực hoen màu đỏ
Xương trắng đồi tranh nhục nước non
Thắp nến soi mờ tin cố sự
Bia đá mờ phai bụi phố phường

Người đi từ lúc hoàng hôn loạn
Ba bốn mươi năm một ván cờ
Ba bôn mươi mùa xuân huyết hận
Xuân tàn mái tóc bạc phơ phơ

Gió ơi xao xuyến từ thiên cổ
Thiên đạo trời cho giấc mộng hùng
Đất nước trăm chiều sông biển thẳm
Nghe hồn vời vợi giữa đêm không

Khép áo trông trời khuya vẫn khuya
Oan hồn bay dậy khắp sơn khê
Bao giờ vó ngựa chinh phu lại
Cho mảnh trăng xanh rọi bốn bề.

Trần Tuấn Kiệt (Sài Gòn, 12-2016)

Share this post