Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 100

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 100

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM
Cầm tù quốc tặc anh hùng nộ,
Thúc bá gian hùng bất khả dung.
(Cầm tù giặc nước anh hùng giận,
Chú bác gian hùng cũng chẳng tha)

Hôm sau, giờ thìn, xa giá Thượng hoàng (Trần Thánh tông), hoàng đế Thiệu bảo (Trần Nhân tông) cùng tới cửa bắc thành Thăng long. Các vương, hầu, đại tướng quân tề tựu.

Lễ nghi tất.

Ngay chính giữa cửa thành, một bàn thờ Quốc tổ, liệt tổ giòng họ Đông a, khói hương nghi ngút. Trên cửa thành treo lủng lẳng thanh kiếm Trấn Bắc. Thượng hoàng đến trước bàn thờ thắp hương quỳ xuống khấn:

– Trần Hoảng đức bạc, lĩnh nhiệm vụ giữ nước, chăm lo cho trăm họ lấy làm lo lắng. Việc nước có hai nhiệm vụ quan trọng là trấn bắc, bình nam. Nhưng không biết ai là người có đủ tài lĩnh nhiệm vụ trọng đại này. Xin liệt tổ chọn cho người xứng đáng.

Các vương theo thứ tự đi qua, thanh kiếm bất động. Tiếp theo chư tướng, thanh gươm cũng không mảy may chuyển di. Cuối cùng tới các tước hầu danh tiếng như Dã Tượng, Yết Kiêu, Cao Mang, Địa Lô, Trần Tú Hoãn, Trần Quang Kiện, Trần Quốc Kiện, Trần Bình Trọng, thanh kiếm vẫn không chút chuyển di. Đến lượt các tước hầu trẻ, khi Hoài Văn hầu đi qua, thì tự nhiên có tiếng vi vu như sáo diều, rồi thanh Trấn bắc quay thành vòng tròn thực đẹp.

Trên từ Thượng hoàng, hoàng đế Thiệu bảo, chư vương, đến chư tướng kinh hãi cùng quỳ xuống. Thượng hoàng hô lớn:

– Hoài Văn hầu Quốc Toản quỳ xuống.

Ngài hướng bàn thờ, gỡ thanh kiếm Trấn Bắc rồi khấn:

– Tuân theo thánh chỉ của Quốc tổ, của Liệt tổ, xin phong cho Trần Quốc Toản chức Trấn Bắc đại tướng quân, nhận thanh linh kiếm này.

Ngài trao thanh Trấn Bắc cho Quốc Toản.

Xa giá lại tới cửa nam. Hoàng đế Thiệu bảo quỳ xuống khấn:

– Trần Khâm tài hèn, đức bạc, được phụ hoàng nhường ngôi. Tuổi trẻ khó đảm được trọng trách. Nay treo tranh kiếm Bình Nam. Nếu chư vương, hầu, tướng nào xứng đáng lĩnh nhiệm vụ bình nam; xin liệt tổ cho kiếm di động.

Các vương, hầu đi qua, kiếm không rung. Chư tướng hầu hết đi qua, kiếm cũng im lìm. Đến Phạm Ngũ Lão vừa tới thì có tiếng vi vu như sáo diều phát ra, rồi thanh Bình Nam quay tròn.

Thiệu Bảo hoàng đế hướng bàn thờ bái lậy, gỡ kiếm xuống, ngài hô:

– Phạm Ngũ Lão quỳ xuống.

Phạm Ngũ Lão quỳ xuống hướng bàn thờ lậy tám lậy. Thiệu Bảo hoàng đế trao kiếm cho Phạm Ngũ Lão. Ngài tuyên chỉ:

– Tuân thánh chỉ của Quốc Tổ, kể từ lúc này Phạm Ngũ Lão được lĩnh ấn Bình Nam đại tướng quân; mang thanh linh kiếm Bình Nam.

Phạm Ngũ Lão lĩnh kiếm.

Tại ấp phong Hàm tử tối hôm đó, Hoài Văn hầu thiết tiệc mời thân hữu. Hai người điều khiển nhà bếp là Tuyên cao Thái phi Mai Đông Hoa, Ôn Từ Thánh mẫu Hồng Liên nhũ danh Vũ Nguyệt Hương. Ba nàng Hoàng, Bích, Hồng Phương cùng các bộc phụ, phụ giúp. Chủ tọa là Thái sư thượng phụ Trung Thành vương. Khách gồm Hưng Vũ vương, Hưng Nhượng vương, Hưng Hiếu vương, Hoài Nhân vương, Công chúa An Tư, Vũ sơn công Tạ Quốc Ninh và phu nhân Hoàng Liên. Bốn trong Thiên trường Ngũ Ưng: Dã Tượng, Yết Kiêu, Cao Mang, Địa Lô và các phu nhân. Các di thần Tống triều: ba anh em Triệu Nhất, Triệu Trung, Triệu Hòa, công chúa Ngọc Hoa; các tướng Tống: Mạnh Khánh Nguyên, Lưu Thâm, Tôn Thắng Phu. Thái tử Chiêm Bổ Đích, công chúa Nang Tiên; đề đốc Võ Văn Sáu.

Khai mạc, Tuyên cao Thái phi Mai Đông Hoa đứng lên cảm ơn tất cả quan khách tới dự tiệc để Quốc Toản chính thức nhận ấp phong Hàm tử. Phi nhấn mạnh:

“Già này theo hầu đức Thái tông trên 40 năm, sinh hai con, một nam, một nữ. Nam là Vũ Uy vương, từng trấn thủ Bắc cương, viện Tống, làm con tin Mông cổ, lập không biết bao nhiêu công lao với xã tắc. Vợ chồng Vũ Uy vương chỉ có một con trai là Quốc Toản, đã bị những cái lưỡi ác độc vu cho là gian tế của Thát đát, mưu giết. Già này mong Thượng hoàng sớm diệt trừ bọn vô lại hung bạo. Nếu không thì từ nơi xa xôi vạn dặm Vũ Uy vương, vương phi Ý Ninh sẽ về tru diệt chúng. Nếu như Vũ Uy vương không về tru diệt thì mong các vị hiện diện hôm nay sẽ giúp Quốc Toản phục thù”.

Phi nói với Quốc Toản:

“Sách có nói: Quân tử trả thù mười năm chưa muộn. Nay võ công cháu cao. Cháu có thanh linh kiếm Trấn Bắc. Cháu có thể chặt đầu chúng”.

Lời nói của phi tuy nhẹ nhàng, nhưng mọi người đều cảm thấy rờn rợn. Không biết bao nhiêu cái đầu sẽ rơi! Không biết bao nhiêu máu sẽ chảy!

Hôm sau, Hồng Liên tâu với Tuyên cao Thái phi:

– Trước đây khi Quốc Toản sinh ra, Vũ Uy vương, vương phi có đính ước với Thanh Nga, Ngột A Đa rằng nếu hai người sinh con gái thì sẽ gả cho Quốc Toản. Sau quả hai người sinh ra cháu gái. Không biết Vũ Uy vương có tâu với phi không?

– Có, tôi vẫn ghi nhớ điều đó. Hôm rồi được tin đạo quân chống Hốt Tất Liệt ở Đại lý bị bại. Ngột A Đa với Thanh Nga dẫn tàn quân xin vào kiều ngụ ở Bắc cương. Triều đình phong Ngột A Đa tước vương, trao cho phụ trấn với Hưng Ninh vương. Tôi đã sai sứ lên gặp Thanh Nga nhắc lại ước cũ. Vì Quốc Toản đã 16 tuổi. Con gái của Thanh Nga cũng 15 tuổi rồi, rất xinh đẹp, nhu mì. Võ công cao, bút mặc văn chương quán chúng. Tên là Trần Đại Như Vân.

– Tâu phi, vì lòng dạ nhân từ, Hoài Nhân vương với Hoài Văn hầu đã cứu ba thiếu nữ bị cha mẹ dâng cho bọn Thát đát làm đồ chơi. Thượng hoàng ban ba cô gái đó làm tỳ nữ cho Quốc Toản. Thế nhưng ba nàng đã vượt quá địa vị của mình, muốn chiếm Quốc Toản, muốn đoạt địa vị phu nhân. Thần đã can thiệp, nhưng ngọn lửa vẫn âm ỉ, chưa tắt hản. Ba nàng đó được Quốc Toản hứa gả cho anh em họ Triệu. Thần đã khuyên bảo, ba nàng rất vui lòng kết hôn với họ Triệu. Nhưng còn Ngọc Hoa!

Phi than:

– Con bé này cùng chơi với Quốc Toản tại Trường sa suốt thời thơ ấu. Bây giờ nó theo Quốc Toản vào Chiêm dự trận. Nó với Quốc Toản khăng khít với nhau như đôi chim. Mình phải làm sao? Cưới Ngọc Hoa cho Quốc Toản thì bỏ ước cũ, điều không thể được. Còn cưới con gái Thanh Nga thì không dễ gì gỡ Quốc Toản ra khỏi Ngọc Hoa.

Hồng Liên cười lớn:

– Xin phi cho Quốc Toản thu nhận cả Ngọc Hoa với con gái Thanh Nga. Trai năm thê bẩy thiếp là sự bình thường.

– Sợ hai cô không chịu mới khổ. Mà Quốc Toản cũng khó mà chịu được một lúc hai cô. Một cô có nền giáo dục Trung thổ, một cô chịu nền giáo dục Thảo nguyên. Tính khí cương cường!

– Thôi thì mình đành chờ sứ đi Bắc cương về xem con của Thanh Nga ra sao, rồi ta liệu. Cùng quá, cứ đem Như Vân về Hàm tử, rồi trao quyền phu nhân. Tự nhiên Ngọc Hoa phải bỏ đi.

Theo chỉ dụ của Tuyên cao Thái phi, Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu cùng bốn anh em họ Triệu, tổ chức một buổi gặp riêng nhau. Cùng ăn với nhau bữa cơm gia đình trước khi lên đường bắt Di Ái. Hồng Liên cho ba nàng Phương trang điểm thực lộng lẫy. Trong tiệc Hồng Liên đứng lên nói:

– Ba vị Thế tử. Ba vị thuộc giòng dõi Tống đế. Lại là những người tài trí, văn võ kiêm toàn. Nhất là phong lưu tiêu sái. Từ ngày nhập Việt đã cùng các cựu văn thần Tống mở trường dậy học, khiến học phong Bắc cương như trăm hoa đua nở. Bây giờ ba vị thống lĩnh ba hiệu binh Thiệu Hưng, Văn Thiên Tường, Tường Hưng, hùng mạnh vô cùng. Tôi đáng tuổi thân mẫu ba vị. Tôi thấy ba thế tử tuổi đã trên 20, cần yên bề gia thất. Cần có người sớm khuya bầu bạn. Không biết ba thế tử nghĩ sao?

– Đạ tạ thánh mẫu, đã lo toan cho anh em thần.

– Khi lên đường vào Chiêm gần năm trước. Hoài Văn hầu hứa gả ba cô Hoàng cho ba thế tử. Ba thế tử đã bằng lòng rồi phải không?

– Dạ, anh em thần rất vui mừng được Hoài Văn ban cho ân huệ. Nhưng không biết ba đài gương Phương có soi đến dấu bèo không?

Nghe đến đây, ba nàng Phương quỳ gối:

– Ba đứa con gái bị cha mẹ đẩy vào đường ô trọc, được Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu ra tay nghĩa hiệp. Sau được Thượng hoàng chiếu cố mà có ngày hôm nay.

Ba nàng lạy Hồng Liên, lạy Tuyên cao Thái phi, Hoài Nhân vương, lạy Hoài Văn hầu, mỗi người bốn lạy.

Hoài Nhân vương móc trong bọc ra cái túi nhỏ, trong túi có một con phượng bằng bạc trên dát bốn viên hồng ngọc, một đôi xuyến dát kim cương và một dây chuyền móc tượng Phật ra. Vương trao cho ba nàng:

– Trong trận đánh đèo Trưởng, công chúa Nang Tiên thu được mấy bảo vật này của bọn Thát đát. Công chúa ban thưởng cho tôi. Nay nhân ba em vu quy, tôi tặng cho ba em.

Vương cài con phụng lên tóc Hoàng Phương. Đeo dây chuyền vào cổ Bích Phương. Đeo xuyến vào tay Hồng Phương.

Tuyên cao Thái phi, Thánh mẫu Hồng Liên, Hoài Văn Hầu đều tặng quà cho ba nàng. Thế rồi mấy hôm sau, chọn ngày tốt, Thánh mẫu tổ chức một bữa tiệc thực long trọng tiễn dâu. Chiều hôm đó, trong khi toàn dinh làm cỗ đưa dâu, ba nàng sắp xếp y phục, tư trang lên đường. Nàng Bích thấy Quốc Toản qua phòng mình, thì nắm lấy áo kéo vào trong, cài then cửa lại:

– Anh! Anh thực vô tình quá. Từ ngày về đây, em tự hứa trao thân cho anh, mà không bao giờ anh chú ý đến em. Bây giờ có Ngọc Hoa rồi, anh tống em đi cho rảnh mắt phải không?

Quốc Toản là đấng đại anh hùng thời Đông a, hầu phân trần:

– Không phải thế. Lúc nào anh cũng nghĩ em là em anh. Nên anh tuyển cho em người chồng tài trí, phong lưu, tiêu sái. Em thử nghĩ xem. Nếu như em còn ở Trường yên thì may lắm là kết hôn được với một thầy đồ trong xã là cùng.

– Em yêu anh, em muốn dâng thân mình cho anh, mà anh không nhận. Bây giờ anh phải đứng im, em muốn thay y phục cho anh một lần này nữa thôi.

Quốc Toản hoàn toàn tê liệt. Bích Phương thay y phục cho hầu, rồi ôm lấy hầu. Hương thơm trinh nữ làm hầu mê mê, tỉnh tỉnh. Thình lình nàng ghé miệng cắn vào vai hầu một miếng:

– Em cắn anh, ghi lại trên người anh một cái thẹo, để không bao giờ anh quên em.

Nàng kéo Quốc Toản ngã xuống giường:

– Người vô tình với ta. Nhưng ta phải làm vợ người đêm nay, ta nhất định trao thân cho người. Ta nhất định ngắt nhụy hoa trinh nữ dâng cho người. Nào! Người nhận đi chứ.

Quốc Toản năn nỉ:

– Không phải em không đẹp, không hấp dẫn. Nhưng em ơi! Trước sau anh vẫn yêu em như cô em gái. Em sắp làm vợ họ Triệu. Anh em họ Triệu là bạn với anh. Muôn ngàn lần anh không thể để đóa hoa lan bị hoen ố.

– Không! Người phải yêu ta như cô vợ.

Quốc Toản điếng người, trong lòng hầu nổi lên cơn bão tố:

– Ừ! Người đẹp dâng cho ta! Tội gì không hưởng?

Nhưng lòng kiêu hãnh nổi dậy:

– Anh em họ Triệu là bạn thời thơ ấu của ta. Ta không thể làm ô uế tấm thân của vợ bạn mình. Ta là Hoài Văn hầu! Là con của anh hùng Vũ Uy vương! Là cháu một hoàng đế có tâm Phật! Không! Không!

Hầu vội gỡ tay nàng, mở cửa bỏ chạy ra ngoài sân thì đụng Hoàng Phương. Hoàng Phương nắm lấy áo hầu, chỉ vào gốc cây:

– Chỗ này là chỗ năm trước anh đã ôm em. Em đã ôm anh. Anh còn nhớ không?

– Nhớ chứ, quên sao được.

– Nhớ, mà anh tống em ra khỏi ấp, làm vợ Triệu Hòa. Nhớ gì mà lạ quá. Bây giờ anh trả lời cho em đi.

– Trước sau anh vẫn coi Phương như cô em. Anh hứa sẽ tìm đấng quân tử gả chồng cho em. Bây giờ anh thực hiện đúng lời hứa rồi còn gì nữa!

– Anh vô lương tâm thực. Trước sau anh không hề yêu em bao giờ!

– Đúng! Anh vẫn coi em như cô em gái mà thôi!

Nàng òa lên khóc:

– Anh tàn nhẫn thực! Em cũng đẹp, cũng nhu mì như Ngọc Hoa mà anh không hề yêu em! Tàn nhẫn!

Thình lình nàng cắn vào môi hầu một cái, đau thấu tâm can. Môi hầu chảy máu. Nàng lấy khăn lau máu cho hầu:

– Em sẽ giữ cái khăn máu này bên cạnh suốt đời để nhớ anh.

Quốc Toản đang tìm cách thoát khỏi nàng Hoàng thì có tiếng Hồng Phương kêu lên lanh lảnh trong phòng bên cạnh. Hầu chạy vào hỏi:

– Cái gì vậy?

Hồng Phương mặc bộ quần áo tứ thân của cô dâu đang ôm chân:

– Em bị con bọ cạp cắn vào chân.

Rồi nàng ngồi lên bên cạnh dường, ôm lấy chân rên rỉ:

– Anh hút nọc độc cho em đi.

Quốc Toản ngay thực, vén váy nàng lên, tay xoa vào chỗ nàng chỉ:

– Chỗ này phải không?

Nàng Hồng Phương rên hừ hừ:

– Đau quá! Anh ơi em đau đến chết mất.

Hầu ngỡ ngàng, choáng vàng, như ngây như dại, vận khí ra tay xoa lên bắp chân nàng. Nhưng hầu chợt để ý, bắp chân nàng không hề có vết do bọ cạp cắn.

Quốc Toản bừng bừng như người say rượu, muốn chạy ra sân, mà lại không muốn. Hầu nhắm mắt hít hương thơm trinh nữ của nàng. Cứ như vậy hơn khắc hầu mới bừng tỉnh, chạy ra sân.

Hầu than:

– Mình vì lòng tốt, cứu giúp ba nàng mà sinh ra ba mối oan nghiệt. Mẹ mình dậy: Quân tử phải nhớ đạo Trung dung. Không nên để cái gì quá. Bây giờ mình tốt quá mà thành mối hận tình cho ba cô gái.

Hầu lững thững chậm bước quanh hồ sen thì gặp Hồng Liên. Hồng Liên tát yêu hầu:

– Giỏi! Con đã thoát khỏi ba cái lưới của ba nàng rồi phải không?

Quốc Toản se sẽ gật đầu:

– Nguy thực!

Chiều hôm đó, ba chiếc kiệu hoa, có đoàn tráng đinh Hàm tử hộ tống, có ban nhạc đưa ba kiệu chở các nàng Phương ra con thuyền lớn. Thuyền nhổ neo đi Bắc cương. Dù không yêu nàng nào trong ba nàng, nhưng Quốc Toản cũng cảm thấy như mất một cái gì. Ngược lại kiêu khí về cha mẹ, về ông bà nội, Quốc Toản nhủ thầm:

– Mình đã tạo được hạnh phúc ít nhất cho sáu người. Đêm nay bộ ba Triệu Nhất, Triệu Trung, Triệu Hòa; ba nàng Hoàng, Bích, Hồng Phương xuân tình phơi phới, hạnh phúc tràn ngập. Mẹ mình thường nói: đừng bao giờ hỏi người thân làm gì cho mình; mà phải hỏi: mình đã làm được gì cho người thân?

Hai hôm sau, ba tướng Mạnh Khánh Nguyên, Lưu Thâm, Tôn Thắng Phu, cùng theo Hưng Nhượng vương lên vùng Tây Bắc cương. Quốc Kiện, Quốc Toản, Nang Tiên, Ngọc Hoa sẽ di sau cùng ba anh em họ Triệu.

Công chúa An Tư nói với Quốc Toản:

– Cháu được Thượng hoàng trao cho nhiệm vụ đón bắt gian thần tặc tử Di Ái, diệt Sài Thung. Cháu cho cô cùng dự trận được không?

Quốc Toản lễ phép:

– Cô là đệ tử của Vô Huyền bồ tát, kiếm thuật thần thông, thì cô ra trận sẽ giúp cháu chiến thắng dễ dàng.

Dọc đường ba anh em họ Triệu luôn miệng thuật lại mấy ngày hạnh phúc cùng ba nàng Phương. Triệu Hòa kể:

– Anh Quốc Toản này, mình xin với anh một việc!

– Việc gì vậy?

– Vợ mình (Hoàng Phương) thuật rằng: bố nàng là Đinh Thành Trân được Nhân Hòa vương sung vào sứ đoàn. Còn mẹ nàng thì bỏ bố nàng theo Sài Thung. Trong lần xuất trận này, nếu anh có bắt được bố mẹ nàng, thì xin nhẹ tay một chút. Vậy mình xin với anh trước!

Quốc Toản nhận lời:

– Mình hứa. Nhưng trên mình còn Hưng Nhượng vương, còn cô An Tư. Hưng Nhượng vương thì có thể xin nới tay. Chứ cô An Tư thì e khó đấy. Mình hiểu bà cô đẹp như tiên nữ này của mình lắm. Tuy nhiên mình sẽ cố gắng.

Hầu hỏi An Tư:

– Cô! Cô có vì Triệu quốc công mà nới tay không?

An Tư mở to mắt phượng:

– Đối với bọn gian thần tặc tử thì cần thẳng tay, không khoan nhượng. Ngay Di Ái, là chú ruột của cô. Nếu bắt được chú, cô sẽ giam vào cũi như chó, rồi chở đi khắp nơi cho dân chúng xem. Còn cái gã Đinh Thành Trân, tuy là cha của Hoàng Phương, nhưng Thượng hoàng đã phế bỏ quyền làm cha rồi, thì ta phải trị tội như những tên quốc tặc khác. Còn mẹ nàng, chạy theo dâng xác cho tên Sài Thung, ta phải cho voi dầy, cho ngựa xé mới đúng tội.

Hưng Nhượng vương họp bộ Tư lệnh chiến dịch trên một soái thuyền của hạm đội Bạch đằng, đậu tại bãi biển Tiên yên. Tất cả nghe Cao Mang báo tình hình:

– Đại Hành gửi thư báo cho biết, bọn Di Ái từ Đại đô đã vượt qua sông Trường giang, đang ở thành Trường sa. Trường sa là nơi Thoát Hoan đặt Chinh tiễu An nam hành doanh (Bộ tư lệnh chiến dịch chinh tiễu An nam). A Lý Hải Nha tuyển cho Sài Thung một Thiên phu thiết kị thiện chiến nhất. Ngoài thiên phu Thiết kị, bọn tùy tùng kể cả Sài Thung, có 72 người, đi trên 160 ngựa và 100 xe chở lương thực, vật dụng. Ước tính, bọn này đi từ Trường sa, vượt Ngũ lĩnh tới Côn luân phố mất 10 ngày. Chúng nghỉ ở Côn luân phố một ngày, rồi vượt núi Hỏa giáp vào thung lũng Ngọc tuyền. Từ núi Hỏa giáp xuống Ngọc tuyền, Đại giáp không có lính Nguyên đồn trú. Tới Ung châu mới có một Vạn phu kị binh và 2 vạn phu bộ binh người Quảng.

Trước đây Tôn Thắng Phu là một sư trưởng của hiệu binh Quảng Tây nam lộ Tống, từng đồn trú tại Côn luân. Ông trải lên bàn một tấm lụa vẽ chi tiết địa hình từ Côn luân tới Ung châu. Ông trình bầy:

– Đây là núi Hỏa giáp, Đại giáp. Hai núi nằm dài theo hướng Đông-Tây. Con đường từ Côn luân phố đi Ung châu phải băng qua hai ngọn núi này. Từ chân núi Đại giáp bên này sang bên kia dài 60 dặm. Đường đi ngoằn ngoèo men theo sườn núi, chỗ cao nhất khoảng 1.500 trượng. Từ núi Hỏa giáp đến núi Đại giáp là thung lũng Ngọc tuyền dài 250 dặm. Trong thung lũng dân chúng sống bằng nghề chăn nuôi, hầu hết nuôi cừu, bò, trâu, gà, vịt, ngan.

Triệu Hòa tiếp:

– Tại Côn luân phố, cũng như thung lũng Ngọc tuyền, mình có đến 10 toán nghĩa quân rất trung thành. Mình có thể nhờ họ hướng đạo. Quân sĩ của Tôn tướng quân đều là người vùng này. Tướng quân Lưu Thâm từng trấn tại Côn luân phố.

Hưng Nhượng vương ban lệnh:

– Quốc công Triệu Hòa làm trưởng đoàn, phó là tướng quân Lưu Thâm, ẩn tại Côn luân phố. Thông báo tình hình của bọn Sài Thung cho Hành doanh khi chúng tới đây, cũng như khi chúng khởi hành.

Vương hỏi Nguyễn Địa Lô:

– Trung lang tướng, Văn sơn hầu cung cấp cho Hoài Nhân vương một số thuốc đủ để đánh thuốc 1100 ngựa, sao cho ngựa ăn vào giờ sửu thì đến giờ tỵ, ngọ, sẽ bị đau bụng, mất hết sức lực. Liệu trong ba ngày có chế kịp không?

Địa Lô cung kính:

– Thuốc đó chỉ cần một ngày thần sẽ chế xong.

Vương gọi:

– Mời Hoài Nhân vương, công chúa Nang Tiên, Quốc công Triệu Nhất, Đại đởm đại tướng quân Nguyễn Thiên Sanh, tướng quân Mạnh Khánh Nguyên nhận lệnh.

5 người đứng dậy. Vương tiếp:

– Đoàn người ngựa của Sài Thung khi vượt qua Tiểu giáp sẽ ngừng lại qua đêm tại thung lũng Ngọc tuyền, sáng hôm sau lên đường sớm. Quốc công Triệu Nhất làm trưởng đoàn, tướng quân Mạnh Khánh Nguyên làm hướng đạo, có Hoài Nhân vương, Đại đởm đại tướng quân, công chúa Nang Tiên trợ chiến. Quốc công âm thầm di chuyển vệ Đại đởm đến ẩn tại thung lũng Ngọc tuyền giả làm dân chúng. Bọn Kị binh Mông cổ thế nào cũng bắt dân chúng tắm ngựa, cung cấp cỏ cho ngựa ăn. Các đại đởm, các chiến sĩ Cần vương ngoan ngoãn phục vụ cho chúng. Âm thầm cài hỏa khí vào các xe chở người, chở lương thảo của chúng. Sáng sớm, giờ sửu trộn thuốc vào cỏ, vào nước cho ngựa của chúng ăn uống. Khi đoàn xe lên đỉnh núi Đại giáp, giữa lúc chúng ta tấn công chúng thì ra tay châm ngòi cho các xe nổ tung.

Vương hỏi Lưu Thâm:

– Có con đường nào từ biên giới Hoa-Việt tới Đại giáp mà không qua các thị trấn, có quân Nguyên đóng không?

Lưu Thâm chỉ vào tấm vải:

– Đây, có con đường này. Nếu đi từ biên giới Hoa-Việt tới Đại giáp phải mất bốn ngày.

– Quốc công Triệu Trung làm chánh tướng, tướng quân Tôn Thắng Phu làm phó tướng dẫn 2 nghìn chiến sĩ Cần vương. Có Hoài Văn hầu, công chúa Ngọc Hoa, công chúa An Tư, thượng tướng quân Cao Mang theo trợ chiến. Phục trên núi Đại giáp, đợi cho đoàn quân của Sài Thung lên tới đỉnh núi, người ngựa trúng độc mệt mỏi thì lăn đá, cung tên tấn công. Tướng quân không phải đối thủ của Trần Di Ái. Việc tấn công vào sứ đoàn Việt để cho Hoài Văn hầu, công chúa Ngọc Hoa, công chúa An Tư. Đối phó với Sài Thung để cho tướng quân Cao Mang.

Sau một thời gian xa quê hương, bây giờ các chiến sĩ Cần vương Tống được về đánh giặc trên quê hương. Người người đều bừng bừng niềm vui không bút nào tả siết. Họ âm thầm, len lỏi vào làng xóm lên đường tới Đại giáp.

Bộ chỉ huy Hành doanh của Hưng Nhượng vương đi theo cánh quân của Triệu Trung. Khi đến chân núi Đại giáp, Tôn Thắng Phu quen địa hình, địa vật dẫn vương, Triệu Trung, Cao Mang, Quốc Toản, Địa Lô leo núi nghiên cứu địa thế.

Triệu Trung với Tôn Thắng Phu chia ba vệ cần vương phục làm ba khu: khu đỉnh cao trao cho Địa Lô, Quốc Toản, An Tư, Ngọc Hoa. Với lệnh: khi đám xe cộ, người ngựa của Di Ái tới thì bắn pháo thăng thiên, lăn đá tấn công. Đợi cho ngựa của chúng bị bệnh nằm ẹp xuống, mới đổ đồi trực tiếp tấn công. Khu phía nam đồi trao cho Cao Mang. Khi đạo quân đồ đồi, thế nào Sài Thung cũng đi đầu. Khi thấy pháo thăng thiên của Địa Lô bắn lên thì lăn đá chặn đường, tấn công. Tuyệt đối không cho một người một ngựa chạy thoát. Khu phía bắc chính Triệu Trung chỉ huy. Khi thấy hỏa pháo của Địa Lô bắn lên, thì lăn đá chặn đường rút lui rồi tấn công.

oOo

Sáng hôm sau khi bình minh ló dạng, ánh sáng ban mai chiếu chói trang trên thung lũng Ngọc Tuyền, thì Sài Thung được Thúy Vi đánh thức. Y sang lều của Di Ái, đã thấy Di Aí, Lê Tuân, Lê Mục, Đinh Thành Trân đang ăn điểm tâm. Sài Thung hỏi viên hướng đạo:

– Người nói phía trước mặt ta là núi Đại giáp. Muốn vượt qua núi phải mất 3 giờ. Bây giờ là giờ thìn. Vậy sang giờ mùi chúng ta mới đi vào địa phận Ung châu phải không?

– Vâng! Khâm sứ với Quốc vương vào thành Ung nghỉ. Ngày kia sẽ lên đường lúc giờ dần, thì giờ ngọ sẽ vào địa phận An nam.

Sài Thung gọi viên thiên phu trưởng:

– Chúng ta phải chuẩn bị nhiều nước cho ngựa. Vì con đường sắp đi sẽ phải băng qua núi, trên núi không có nước.

Viên thiên phu trưởng trình:

– Dân chúng thung lũng này rất ngoan. Hôm qua chúng cử ra hơn 100 người cắt cỏ, tắm cho ngựa. Bọn tráng đinh tắm ngựa rất giỏi. Sáng nay chúng cắt nhiều rau cho ngựa ăn, lại múc nước đầy các bầu đeo trên lưng, để ngựa qua núi có nước uống.

Đinh Thành Trân thắc mắc:

– Hôm qua, tôi chú ý đến bọn trai tráng tắm ngựa, thấy hình như chúng không phải người vùng này. Người vùng này da trắng, mắt một mí. Đây da chúng cháy đen. Lại nữa chúng khỏe mạnh, cử chỉ linh hoạt khác thường. Coi chừng Khu mật viện Thăng long gửi người lên đây dò la, theo dõi sứ đoàn cũng nên!

Di Ái mắng:

– Người đa nghi quá. Ta cũng thấy thế, nhưng những tên tráng đinh này là nông dân thì da đen, khỏe mạnh là sự thường. Người khéo lo bò trắng răng.

Từ hồi cống vợ cho Sài Thung, gã Đinh Thành Trân được Di Ái lệnh cho Trần Văn Lộng thăng y từ Đại tư lên An phủ sứ Nho quan. Y lại được Di Ái sung vào sứ đoàn. Di Ái hứa kỳ này về làm vua Đại việt sẽ thăng y lên chức Tuyên vũ sứ. Cho nên Đinh Thành Trân mặt trai mày đá, xum xoe nịnh bợ, ngày ngày nhìn vợ ăn nằm với Sài Thung, mà y hãnh diện ra mặt.

Sài Thung ra lệnh cho thiên phu trưởng:

– Trong các tráng đinh, người tuyển lấy mấy trăm tên khỏe mạnh, đem theo để phụ sức ngựa đẩy xe lên dốc núi.

Một lát thiẽn phu trưởng trở lại báo:

– Bọn trai tráng vui vẻ giúp Kị binh. Chúng chỉ xin cho ăn no là đủ. Tất cả 150 đứa.

Sài Thung lên ngựa, cùng viên hướng đạo dẫn đầu đi về hướng nam. Phía sau y, một thiên phu Kị binh nối đuôi nhau trên một giải đồng mênh mông. Các xe dành cho Di Ái và tùy tùng đi giữa đoàn quân. Bọn trai tráng thung lũng Ngọc tuyền bị bắt làm lao binh, tay bám vào thành xe, rảo bước theo sau.

Ngựa của Kị binh là chiến mã Mông cổ, nhưng đi trên con đường gồ ghề, núi dốc, chúng cũng phải bước từng bước rất khó khăn. Bốn bách phu đã lên tới đỉnh đèo, rồi từ từ đổ đèo. Bách phu thứ năm theo đoàn xe của sứ đoàn, xe chở lương thực. Đám này ỳ ạch lên dốc. Năm bách phu đi đoạn hậu. Đám trai tráng bị bắt làm phu theo, ghé vai đẩy phụ với ngựa kéo. Khi chiếc xe chở Di Ái, Lê Tuân, Lê Mục, Thúy Vi, Đinh Thành Trân vừa tới đỉnh núi, thì Di Ái ra lệnh ngừng lại nghỉ. Mã phu tháo xe ra khỏi ngựa. Người ra khỏi xe, hít thở không khí trong lành của đỉnh núi.

Di Ái vui vẻ nói với Lê Mục:

– Chỉ nội ngày mai trẫm sẽ về tới Thăng long. Thiên sứ phế thằng Khâm, thằng Hoảng xuống. Trẫm sẽ lên ngôi vua. Vì chúng là con cháu, trẫm không nỡ giết, mà cho chúng về Thiên trường làm ruộng. Trẫm sẽ phong cho khanh làm Bình chương chính sự. Tước Quốc công. Còn Tuân, trẫm sẽ phong cho làm Tham tri chính sự, tước Công. Đinh Thành Trân sẽ được phong tước hầu, ban cho chức Tuyên vũ sứ Trường yên.

Cả bốn cười ha hả, khoái trá cực điểm.

Thình lình có tiếng nổ xé không gian, rồi một cái pháo thăng thiên vọt lên cao, nổ đùng một tiếng, tỏa ra hình con chim ưng chân cặp thanh kiếm. Di Ái kinh hoàng:

– Pháo lệnh của Đại việt.

Rồi đá từ đỉnh núi lăn xuống ầm ầm. Tên bay vi vu. Máy bắn những tảng đá khổng lồ bay xuống con đường đi. Ngựa bị trúng tên, bị đá lăn phải, hí inh ỏi. Kị binh ngã lổng chổng. Không hổ là đoàn Kị binh vô địch Mông cổ, Kị mã biết bị trúng phục binh. Chúng bỏ ngựa, núp vào các ụ đá, dương cung hướng lên sườn núi. Trên đỉnh núi có cây cờ Tống bay phất phới. Một tướng đang cầm cờ chỉ huy.

Viên bách phu kị binh kêu:

– Bọn Cần vương Tống.

Di Ái nói bằng tiếng Việt:

– Bọn quân Việt! Không phải Tống.

Ông ta vừa than dứt thì đám tráng đinh bị bắt làm phu cùng nhau đánh đá châm lửa đốt lên. Những chiếc xe của sứ đoàn, xe chở lương thực phụt cháy, phát ra những tiếng nổ kinh thiên động địa. Có những chiếc xe tuột dốc, ầm ầm đụng vào đám Kị mã dưới dốc núi. Phục binh đổ đồi chém Kị binh phầm phập.

Trong đám phục binh, con Bạch Viên xử dụng cây côn sắt. Mỗi chiêu nó đánh ra là một Kị mã tan xương nát thịt. Di Ái cùng bọn Lê Tuân, Lê Mục nép mình vào các hốc tránh đá, tránh tên. Khi những chiếc xe đã bị nổ hết, ông ta đứng dậy thì đám lao phu đã biến vào rừng.

Đứng nhìn đám Kị binh đang chiến đấu tuyệt vọng, ông cảm thấy như trời sập: cái mộng làm vua Đại việt tan ra như cát bụi. Mà lạ lùng thay, đám ngựa chiến đang nằm ẹp xuống đất, nước mắt dàn dụa, tỏ ra đau đớn. Viên bách phu chỉ vào ngựa nói:

– Ngựïa của chúng tôi bị trúng độc.

Di Ái nhìn lên đỉnh núi: người đang cầm cờ chỉ huy là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Cạnh Quốc Tảng là Địa Lô, Quốc Toản. Ông ta chợt hiểu: đoàn của ông bị trúng phục binh của quân Việt. Ông ta nghĩ rất nhanh:

– Thôi rồi! Cái bọn lao binh chính là bọn Đại đởm, chúng đánh thuốc độc ngựa. Chúng cài, đốt chất nổ phá xe chở lương thực! Muốn thoát chết hôm nay, thì phải khống chế Quốc Tảng, Địa Lô.

Hưng Nhượng vương hô lớn:

– Hãy bắt tên phản quốc, phản nhà Di Ái.

Di Ái tung mình lên đỉnh núi, thì Bạch Viên cầm ngang cây côn sắt cản đường. Nó hướng đỉnh đầu ông dáng một chiêu. Ông rút kiếm gạt. Choang một tiếng, kiếm suýt vuột khỏi tay ông. Ông múa kiếm đấu với Bạch Viên. Kể về chiêu số thì ông bỏ xa Bạch Viên. Nhưng công lực của Bạch Viên cao hơn ông. Đấu được hơn 20 chiêu thì có tiếng hú của Hoài Nhân vương gọi. Bạch Viên ôm côn hướng nơi có tiếng gọi lao tới.

Di Ái vọt lên sát với chỗ Hưng Nhượng vương đứng chỉ huy. Tay ông ta rút kiếm chỉ vào mặt vương:

– Thằng ôn con kia. Đến bố mi là Quốc Tuấn, thấy trẫm cũng phải kính trọng, hành lễ. Mà mi hỗn láo với trẫm ư? Mi có biết rằng trẫm được thánh Thiên tử phong cho làm An Nam quốc vương. Trẫm đang trên đường về nước lên ngôi. Mi có ra lệnh thu quân không?

Hưng Nhượng vương cười rất lễ phép:

– Khi có người chú phản lại cháu. Khi có một tước vương phản nước thì có đứa cháu coi ông chú như thú, như vật.

Vương hô:

– Hãy bắt sống tên phản quốc Di Ái!

Di Ái giận cành hông. Ông ta vung kiếm tấn công Hưng Nhượng vương bằng một chiêu kiếm hung hiểm. Kình lực rít lên đến véo một tiếng. Quốc Tảng nhảy lùi lại sau tránh, thì Di Ái phát một chiêu Đông a chưởng mạnh như bài sơn đảo hải. Hưng Nhượng vương kinh hãi xuất một chiêu đỡ. Binh một tiếng, vương bật tung về sau. Tai phát ra tiếng vo vo không ngừng. Di Ái không nhân nhượng, ông ta đánh một chiêu định kết liễu tính mệnh vương, thì một chiêu kiếm thúc vào sườn ông, nhanh không thể tưởng tượng được. Ông trầm người xuống tránh thì kiếm theo ông như bóng với hình chĩa vào cổ ông. Ông vọt người lên cao, thoát khỏi vòng kiếm quang. Choang một tiếng, áo giáp của ông bị trúng kiếm. Tuy kinh hoảng, nhưng ở trên cao, ông nhìn xuống, thì thấy người tấn công mình là một thiếu nữ sắc nước hương trời mặt còn non choẹt. Ông đá gió một cái, người vọt ra xa, rơi xuống sau tảng đá. Tảng đá ngăn cách ông với thiếu nữ. Ông thoát nạn. Thiếu nữ nhảy tới xỉa kiếm vào ngực ông. Ông vung kiếm đỡ. Choang một tiếng, kiếm của thiếu nữ vuột khỏi tay nàng.

Thiếu nữ tấn công Di Ái là công chúa An Tư. Tuy An Tư được chân truyền Mê linh kiếm pháp, nàng ra tay trước nên chiếm được tiên cơ. Nhưng vì chưa có kinh nghiệm chiến đấu, nàng bị văng mất kiếm.

Căn bản của Mê linh kiếm pháp là lấy mau thắng chậm, lấy động chế tĩnh. Thế nhưng công lực của nàng không làm bao, mà để kiếm mình chạm vào kiếm Di Ái. Công lực Di Ái cực kỳ thâm hậu, nên kiếm của nàng bị hất văng ra xa.

Hưng Nhượng vương thoát chết, lại tiếp tục cầm cờ chỉ huy. Di Ái bỏ An Tư tấn công Hưng Nhượng vương. Một thiếu niên đứng cạnh vương phát chưởng đỡ chiêu của Di Ái. Chưởng phong như có, như không. Hai chưởng lực gặp nhau, Di Ái cảm thấy công lực của mình biến mất. Chân tay bải hoải.

Thiếu niên đó là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.

Kinh hoảng, Di Ái biến chiêu tấn công Quốc Toản bằng chiêu trấn môn của phái Đông a tên Đông hải lưu phong. Chưởng phong như bài sơn đảo hải chụp lên đầu Quốc Toản. Quốc Toản kinh hãi nhủ thầm: phen này mình tan xương nát thịt. Nghĩ vậy hầu dùng cả hai tay phát đại một chiêu, đó là chiêu Nhân ngưu câu vong trong Tán lạc tiêu hồn chưởng, một chiêu rất thô kệch đỡ. Lạ thay chưởng phong của Di Ái như bị biến mất. Trong khi kình lực của Quốc Toản làm Di Ái cảm thấy đau nhức không thể tưởng tượng được. Cả hai cùng bật lui gườm gườm nhìn nhau.

Sự thực, tuy Quốc Toản có cơ duyên học được bộ Tiêu hồn chưởng, nhưng công lực không làm bao. Trong khi Di Ái đã có trên 50 năm công lực. May mắn nội công phái Đông a xuất phát từ thiền công. Còn nội công của Quốc Toản là Vô ngã tướng thiền công, một loại nội công cao nhất của nhà Phật. Chiêu của Quốc Toản là Nhân ngưu câu vong, nên chân khí của Di Ái bị hút mất.

Lợi dụng lúc Quốc Toản bàng hoàng, Di Ái vọt tới chụp lấy vai hầu, định bóp cổ cho chết. Kinh hãi, Quốc Toản chụp lấy hai cổ tay ông ta. Vô ngã tướng thiền công hút công lực của Di Ái. Ông ta dồn ra bao nhiêu, bị hút hết bấy nhiêu. Thấy công lực bị hút mất, Di Ái buông Quốc Toản ra. Quốc Toản không nhân nhượng, hầu phát chiêu Kỵ ngưu quy gia tấn công. Di Ái vòng tay đỡ. Binh một tiếng, cả hai lảo đảo lùi lại. Quốc Toản rút thanh Trấn Bắc chĩa vào cổ Di Ái, hầu hô:

– Đầu hàng bằng không ta nhả kình lực.

Lòng Di Ái nguội như tro tàn. Ông ta cau mặt hỏi:

– Thiếu niên này là ai? Ta tự thị võ công cao nhất Đại việt, hôm nay bại về tay người mà lòng ấm ức.

Có tiếng thanh thoát trả lời:

– Người này là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.

– À thì ra tên ranh con, con của thằng Nhật Duy với Ý Ninh. Người thấy ông mà không chịu quỳ gối hành lễ ư? Đồ mất dậy.

Di Ái lại phát chiêu tấn công Quốc Toản. Quốc Toản không đỡ, mà phát chiêu Kiến tích dã ngưu, đánh thẳng vào người y. Binh một tiếng, Di Ái loạng choạng lùi lại. Y giẫm phải viên đá, trượt chân ngã ngồi xuống, quằn quại không bò dậy được. Y thều thào:

– Ôi tuổi già! Chỉ trượt chân ngã, mà không dậy nổi.

Quốc Toản thương tình thu kiếm lại, cúi xuống đỡ Di Ái. Chỉ chờ có thế, Di Ái xỉa tay phát một chiêu, trúng ngực Quốc Toản. Thân hình Quốc Toản bay tung lên cao, rồi rơi xuống. Di Ái xê dịch tới xả một chiêu kiếm mong kết liễu tinh mạng hầu. Quốc Toản rút thanh Trấn Bắc đỡ. Chịt một tiếng, kiếm của Di Ái bị cụt tận chuôi. Ông ta phát một chiêu chưởng đánh xuống đầu hầu. Thình lình có tiếng quát muốn vỡ màng nhĩ:

– Coi chưởng này!

Rồi một người bịt mặt từ hốc đá xuất một chiêu hướng Di Ái. Chưởng phong cực kỳ ác liệt, trọn đời ông ta chưa từng nghe, từng thấy. Di Ái nghiến răng đỡ, binh một tiếng, ông ta bật lùi ba bước. Người kia đánh chiêu thứ nhì, Di Ái nghiến răng đỡ, bật lui bốn bước, người lảo đảo, ông ta ọe một tiếng, miệng phun máu ra. Người kia đánh chiêu thứ ba, Di Ái bị bật tung lên cao, rơi xuống, nằm đứ đừ. Người kia phóng ba chỉ điểm huyệt Đại chùy, Dương lăng tuyền Di Ái. Người ông ta cứng đơ. Ông ta bị Địa Lô trói lại.

Quốc Toản thoát chết, nhờ Vô ngã tướng thiền công hút công lực Di Ái, nên hầu chỉ đau nhức nhẹ nhàng. Hầu nhìn người cứu mình, tuy không thấy mặt, nhưng thân hình rất thân ái, rất quen thuộc. Chợt hầu kêu lên:

– Bố! Bố đến đây bao giờ vậy?

(Còn tiếp Hồi 100)

Share this post