Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 101 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 101 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM LẺ MỘT
Đại hội Bình than
(Tiếp theo)

Quốc Kiện, Quốc Toản về Thăng long, vào thành yết kiến Thượng hoàng để tâu trình về trận đánh Sài Thung, thì chỉ gặp Khâm Từ hoàng hậu. Hậu đang chuẩn bị đi dự đại hội Bình than. Hậu nói với hai người:

– Triều đình tổ chức đại hội Bình than nghị kế chống giặc. Hai em có được lệnh của Khu mật viện triệu tập không?

– Bọn em rời Thăng long đã 2 tháng, nên không nhận được lệnh này.

– Vậy hai em cùng đi với chị.

Thấy Như Vân với Nang Tiên đi cùng. Nang Tiên thì hậu đã thấy hôm Quốc Toản được trao kiếm Trấn Bắc. Hôm nay hậu thấy Như Vân thì giật mình:

– Ôi! Tiên nữ ở động nào giáng thế vậy?

Quốc Kiện kính cẩn tâu:

– Vợ của Quốc Toản đấy ạ!

Hậu quở ông em chồng:

– Này, trong tình chị dâu, em chồng thì đùa được, chứ em không nên đùa chính thức như vậy mà mắc tội. Coi chừng chị nọc ra đánh 20 roi bây giờ! Chị nghe Quốc Toản đã vướng vít dây tơ hồng với ba cô gái ở Trường yên, mới thoát ách thì kết với công chúa Tống Ngọc Hoa. Bây giờ lại thêm cô này nữa? Sao lôi thôi vậy?

– Không! Em đâu dám đùa. Chị này là Trần Đại Như Vân, cháu nội của Quốc phụ Trần Tử An, con của công chúa Thanh Nga với Phó tể tướng Mông cổ Ngột A Đa. Bác Vũ Uy vương với bác gái Ý Ninh đã đính ước với cha mẹ Như Vân từ hồi mới sinh. Bây giờ Như Vân với anh Quốc Toản được Tuyên cao Thái phi, Quốc phụ Tử An đứng ra chủ trương cho.

Hậu hỏi:

– Như Vân có biết nói tiếng Việt không?

Như Vân nhỏ nhẹ:

– Tâu hậu, tiếng mẹ đẻ mà em nói không thông thì mẹ em đánh què chân.

Tuy vậy giọng của nàng vẫn lơ lớ.

Hậu ban chỉ:

– Con gái họ Trần đều phải đeo kiếm lên ngựa. Em có học võ không?

– Dạ có ạ.

Không nói không rằng, hậu vung tay ra chiêu Phong ba hợp bích khá trầm trọng hướng Như Vân. Như Vân là gái Việt, nhưng sống ở Mông cổ, việc luyên võ, khảo nghiệm võ công là truyện hằng ngày. Biết mình bị khảo nghiệm, nàng tung mình khỏi lưng ngựa, ở trên cao nàng đánh xuống chiêu Thiên cương đại lực, hùng mạnh vô cùng. Chưởng của nàng cắt ngang chưởng của Khâm Từ hoàng hậu. Khâm Từ cảm thấy tay ê ẩm. Hậu khen:

– Xứng đáng là cháu của Tuyên minh Thái hoàng thái hậu.

Năm ngựa rời Hoàng thành. Quốc Kiện hỏi:

– Chị ra ngoài mà không đem Thị vệ theo à?

Hậu cười:

– Chú em coi thường chị quá. Võ công chị đâu có dở mà phải dùng Thị vệ hộ tống? Từ hồi lên ngôi Hoàng hậu, bất cứ đi đâu chị cũng chỉ một người một ngựa mà thôi. Còn như đem theo nghi vệ, đánh trống, khua chiêng ồn ào thì chị không thích.

Năm người ruổi ngựa lên đường. Đi được hơn giờ, hậu chỉ về phía trước:

– Kia là khu Bình than! Ái chà, Thiết đột, Thị vệ canh phòng nghiêm mật đấy. Nhưng lực lượng quá ít. Nguy hiểm quá.

Hậu ban chỉ cho Quốc Toản:

– Vũ Minh vương Tổng lĩnh Thị vệ quá khinh xuất. Một cuộc họp như vậy mà chỉ dùng trăm Thị vệ hộ tống, lỡ có biến thì sao? Em có thể điều hiệu binh Hàm tử đến canh phòng không?

– Em xin tuân chỉ chị.

Hầu viết lệnh sai một thân binh tùy tùng đem đi liền.

Hoàng hậu, Quốc Kiện, Quốc Toản tới con đường rẽ ra bờ sông, Thị vệ dàn gần trăm người, cực kỳ uy nghi. Qua cái biển có chữ Hạ Mã. Cả 5 xuống ngựa. Một võ quan cấp Tá lĩnh thuộc Khu mật viện hành lễ:

– Bái kiến nương nương. Xin mời nương nương vào.

Ngay bờ sông, một soái thuyền cực lớn, đậu ở đó. Trên thuyền, cây đại kỳ Đại Việt bay phất phới. Khâm Từ trao cương ngựa cho một Thị vệ, rồi đi bộ ra cầu tầu xuống thuyền. Viên võ quan ngăn Quốc Kiện, Quốc Toản lại:

– Xin hai cậu, hai cô ngừng bước. Đây là nơi các vị vương hầu họp nhau nghị kế giữ nước. Các cô, cậu là ai? Đi đâu vậy?

Quốc Kiện nói:

– Ta là Hoài Nhân vương.

Vương chỉ vào Quốc Toản:

– Đây là Trấn Bắc đại tướng quân Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.

Viên Tá lĩnh kính cẩn:

– À thì ra nhị vị là vương, là hầu. Nhưng trong danh sách mời tham dự không có tên hai vị. Nếu họp danh vị vương, hầu thì dĩ nhiên hai vị được vào. Đây họp các vương, tướng cầm quân. Dám hỏi hai vị chỉ huy đạo quân nào?

Quốc Kiện, Quốc Toản ngớ người ra. Vì Quốc Kiện tuy tước là vương, nhưng chưa được phong chức văn, chức võ gì! Còn Quốc Toản tuy được phong chức Trấn Bắc đại tướng quân, nhưng không có quân dưới quyền.

Như Vân bảo Quốc Toản:

– Anh là Trấn Bắc đại tướng quân, lại giữ thanh Trấn Bắc trong tay. Anh đang cầm quân đánh Nguyên, bắt quốc tặc. Như vậy anh là Khâm sai, biên cương đại thần. Ai cản trở anh, anh cứ chặt đầu y.

Nghe Như Vân nói đúng quân luật, viên võ quan bỏ chạy xuống con thuyền. Một lát Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc rời khỏi thuyền hỏi:

– Đâu? Ai định làm loạn đâu?

Như Vân từng theo bố mẹ cầm quân, nên nàng cứng cỏi:

– Nhìn y phục, tôi biết ngài là một thân vương. Nhưng ngài hỏi: Ai định làm loạn đâu? Nghe chướng tai quá. Ở đây có một thân vương Hoài Nhân, một Trấn Bắc đại tướng quân, hai vị bị một viên võ quan cản đường. Nếu là vương tước, hầu tước Mông cổ hay Tống thì viên võ quan đã bay đầu rồi. Bây giờ vương nghe lời y, vương hỏi ai định làm loạn đâu? Bằng giọng điệu vu oan giá họa. Nếu như viên võ quan báo cáo láo thì vương hành xử không đúng với tư cách một vị vương! Thiếu minh mẫn, người dưới nói gì cũng nghe. Còn như ngài nặn ra cái câu làm loạn thì ngài vu oan giá họa cho người.

Chiêu Quốc vương thấy một thiếu nữ đẹp nghiêng thành đổ núi thống trách mình, vương có hơi thẹn. Vương hất hàm cho viên võ quan:

– Ai đe dọa chặt đầu người đâu?

Viên võ quan chỉ vào Quốc Kiện, Quốc Toản.

Ích Tắc nói:

– Viên võ quan này tuân chỉ ta tiếp đón người được mời. Cuộc đại hội này bàn đại kế giữ nước. Ta được Thượng hoàng ủy cho tổ chức. Chỉ những tướng cầm quân mới được tham dự. Hai đứa bay là con nít biết gì mà bàn? Biết gì mà nghe. Đi chỗ khác chơi!

Như Vân cãi:

– Vương gia nói sai rồi! Theo tôi nghĩ, chủ đạo của tộc Việt định: “việc chống giặc giữ nước, dù trai, dù gái, dù già, dù trẻ cũng có trách nhiệm như nhau”. Đời vua Hùng, cậu bé 7 tuổi như Phù Đổng thiên vương từng cầm quân phá giặc Ân. Thời vua Lý Thái tổ, vị viễn tổ Trần Tự Mai khi mới 13 tuổi đã cầm quân giết giặc. Huống hồ Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu tuổi đã 16. Hai vị từng cầm quân đánh Mông cổ tại Chiêm, bắt gian vương Chiêm. Mới đây hai vị được Thượng hoàng trao cho cầm quân đánh Nguyên, bắt gian vương Di Ái. Thế mà vương gia bảo hai đứa bay là con nít biết gì mà bàn? Lời nói sao nghe chướng tai quá.

Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc là người tài kiêm văn võ, cử bút thành văn, bẩy bước thành thơ, đọc thiên kinh vạn quyển, chỉ vì lỡ lời bị một cô gái vô danh dùng đạo lý chỉnh. Vương xấu hổ, nói ngang:

– Ta là người tổ chức đại hội này. Ta từng đạt giấy mời đến những người cầm quân. Hai tên này là tướng không có quân, ta không cho vào.

Nói rồi vương ném cho mỗi người một quả cam:

– Cam đây ăn đi. Kiếm chỗ khác mà chơi!

Quốc Toản bắt lấy quả cam, cùng Quốc Kiện rời bến sông. Hầu nghiến răng bóp mạnh, quả cam nát ra lúc nào không hay. Hai người lủi thủi về Hàm tử, giữa lúc đạo binh Hàm tử đã tập họp xong. Hầu nói với Quốc Kiện:

– Chú Ích Tắc bảo chúng ta không phải tướng cầm quân, chúng ta tuân chỉ Khâm Từ hoàng hậu. Chúng ta đem hiệu binh này đến Bình than cho chú hết rắc rối.

Hầu lấy soái kỳ của đạo binh, đem thiếp vàng viết 6 chữ cực lớn: “Phá cường địch, báo hoàng ân”.

Rồi Quốc Kiện đi bên phải, Quốc Toản đi bên trái, sai thúc trống hướng về Bình than.

Trong con soái thuyền bến Bình than. Thượng hoàng ngồi trên cao nhất, rồi tới Hoàng đế Thiệu bảo. Kế tới:

– Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Tiết chế binh mã.
– Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Phụ quốc Thái úy.
– Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Tổng trấn Tây Bắc cương.
– Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung, Tổng trấn Đông Bắc cương.
– Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang lĩnh Phiêu kị đại tướng quân, Tổng trấn Nam thùy.
– Vũ Minh vương Trần Quang Húc hiện Tổng lĩnh Ngự lâm quân, Thị vệ.
– Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc lĩnh Tổng trấn Thăng long, Quản Khu mật viện.
– Chiêu Hòa vương Trần Quốc Uất, Tổng lĩnh Kị binh, Ngưu binh.
– Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, Tổng lĩnh thiên tử binh.
– Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, Đại đô đốc thống lĩnh thủy quân.
– Các Tướng thống lĩnh 15 hiệu Thiên tử binh:
Tiền thánh dực, Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện.
Tả thánh dực, Hưng Hiếu vương Trần Quốc Uy.
Hữu thánh dực, Bình nam đại tướng quân Phạm Ngũ Lão.
Trung thánh dực, Văn chiêu hầu Trần Văn Lộng, Tổng trấn Trường yên.
Thần cách, Trung lang tướng, Văn sơn hầu Nguyễn Địa Lô. Phó thống lĩnh Nguyễn Lộc.
Củng thần, Chiêu võ thượng tướng quân, Chiêu dương hầu Cao Mang.
Thiên thuộc, Trấn biên tướng quân Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh.
Thiên cương, Chương Hiến hầu Trần Kiện, tổng trấn Nghệ an.
Thiên thánh, Quang nghĩa thượng tướng quân, Hải lộ hầu Trần Bình Trọng, Tổng trấn Lục hải.
Tứ thiên, Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn, Tổng trấn Thiên trường.
Tứ thần, chưa định, Nguyễn Khoái tạm quyền.
Tứ thánh, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền.
Văn Bắc, Thiên tượng đại tướng quân, Nam phương uy dũng công thần, Khâu Bắc đình hầu, Trần Quốc Kinh (Dã Tượng)
Thiệu Hưng, Đông hải Thiên kình đại tướng quân, Nam phương hùng uy, công thần. An biên đình hầu, Trần Quốc Vỹ (Yết Kiêu). Phó: Kinh nam quốc công Triệu Hòa.
Văn Thiên Tường: Trường sa quốc công Triệu Trung.
Tường Hưng: Kinh châu quốc công Triệu Nhất.
– Thủy quân: 4 hạm đội.
Bạch đằng, Võ Văn Sáu, Đề đốc
Âu Cơ, Nguyễn Chế Nghĩa
Thần phù, Phạm Cự Địa
Thăng long, Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn
– Ngưu binh: Hiệu Hoa lư. Ngưu vệ thượng tướng quân, Nam thiên bá Trâu Đen Lý Long Đại, vợ là Quận chúa Cái Hồng Vũ Trang Hồng.

Thượng hoàng mở đầu bằng giọng trầm trầm:

– Kể từ khi Ngột Lương Hợp Thai đem quân vào cướp, đến nay trải 27 năm. Chúng ta đã dùng ngòi bút, viết lời nhún nhường để tránh chiến tranh. Nhưng bọn Thát đát vẫn quyết tâm đòi đủ mọi điều kiện. Điều kiện mới nhất là chúng lập Tuyên phủ ty, như một tiểu triều đình cai trị ta. Ta không chấp nhận. Chúng gây chiến, lập An Nam hành tỉnh ở Kinh hồ. Phong cho hoàng tử thứ chín là Thoát Hoan, đem 50 vạn thủy bộ quân sang đánh ta. Phụ tá cho Thoát Hoan là A Lý Hải Nha, một tướng tài nhất của Mông cổ. Y là khai quốc công thần của Nguyên. Ngoài A Lý Hải Nha còn các tướng khét tiếng là Lý Hằng, Lý Quán, Toa Đô, Ô Mã Nhi, Đường Ngột Đải. Y còn lệnh cho Vân nam vương đem quân vượt biên đánh vào Tây Bắc biên của ta. Cuộc chuẩn bị đã xong. Y còn thâm độc hơn nữa phong cho Chiêu hòa vương Trần Di Ái làm An nam quốc vương, đem quân trực chỉ về nước tạo cuộc nội chiến, hầu gây cảnh trai cò tranh dành, ngư ông hưởng lợi.

Chiêu Quốc vương hỏi:

– Hoàng thượng đã sai Hưng Nhượng vương, Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu, đem đám Cần vương Tống đón đường đánh đoàn quân này. Không biết kết quả ra sao?

Hưng Nhượng vương tâu:

– Tâu, thần bắt sống Chiêu Hòa vương Di Ái, diệt trọn thiên phu hộ tống, bắn mù mắt Sài Thung. Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu đang áp tải tù nhân về Thăng long. Hai người sắp tới đây phục mệnh.

Khâm Từ hoàng hậu nói:

– Khi thần nhi rời Hoàng thành đến đây có gặp Hoài Nhân, Hoài Văn. Hai người nhập Hoàng thành tâu với Thượng hoàng về kết quả trận đánh bắt chú Di Ái. Thần nhi rủ hai người cùng đến đây. Nhưng Chiêu Quốc vương không cho vào vì lý do: đây là buổi hội của các tướng cầm quân. Thần nhi thấy cuộc họp này quá quan trọng, mà chỉ có hơn trăm Thị vệ canh phòng thì đáng ngại. Nên thần nhi ban chỉ cho hai người điều đạo Hàm tử tới đây. Có lẽ cũng sắp tới.

Nghe Trần Di Ái bị bắt, mặt Trần Tú Hoãn, Trần Văn Lộng tái xanh. Hai người tưởng Thượng hoàng sẽ hô Thị vệ bắt trói, rồi ban chỉ cho Cấm quân về Thiên trường, Trường yên bắt toàn gia xử tử.

Thượng hoàng rất tinh ý. Ngài nghĩ:

– Chú Di Ái làm tội, con chú đâu có ngăn được cha? Ta cần phải trấn an hai con của chú.

Để cho Trần Tú Hoãn, Trần Văn Lộng yên tâm, Thượng hoàng nói tránh đi:

– Cái việc chú Di Ái như thế này: Hốt Tất Liệt ép chú làm An nam quốc vương, chú không nhận. Y cứ ban chiếu phong cho chú, rồi sai Sài Thung áp tải về. Chứ chú đâu có nhận cái chức phong kia!

Mặt Tú Hoãn, Văn Lộng tươi tỉnh trở lại.

Thượng hoàng tiếp:

– Chúng ta thà ngọc nát chứ không chịu có vết. Trẫm họp chư vị đây, để bàn kế sách đánh giặc. Xin các vị cho ý kiến.

Chiêu Minh vương Quang Khải bàn:

– Ưu điểm của bọn Mông cổ, bọn Nguyên là dùng trường binh, dàn trận. Thứ nhì là công kiên phá thành. Vậy tuyệt đối ta không thủ thành, cũng không dàn binh thành trận. Ta áp dụng chiến thuật như thời Nguyên phong: “Cả nước là thành, toàn dân thủ thành”.

Chiêu Văn vương Nhật Duật đi vào chi tiết hơn:

– Thời Nguyên Phong, sở dĩ quân Ngột Lương Hợp Thai tan rã mau vì bị tuyệt lương. Bây giờ Thoát Hoan đem tới 50 vạn quân, thì vấn đề tiếp tế sẽ gặp muôn vàn khó khăn. Ta cần rút lui, tránh mũi nhọn của chúng, để bảo vệ chủ lực. Đợi chúng vào sâu trong nội địa, ta chặn đánh các đoàn tiếp lương thảo. Hết lương, quân mạnh đến đâu cũng phải tan.

Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc bàn:

– Một đời Hốt Tất Liệt chinh chiến. Y lại không biết huyết mạch của ba quân là lương thảo sao? Chắc chắn y dự trù việc cung ứng lương thảo, chứ đâu có để cho việc cũ tái diễn?

Thượng hoàng hướng Ngột A Đa:

– Ở đây có Trung Nghĩa vương Trần Đại Việt, người từng cầm quân giao chiến với Hốt Tất Liệt hơn 10 năm qua. Xin vương cho ý kiến.

Ngột A Đa đứng dậy:

– Trước hết thần xin Thượng hoàng cùng chư vị anh em xí xái cho cái tội nói tiếng Việt không sõi của thần. Cha mẹ sinh thần ở Thảo nguyên, nói tiếng Mông cổ. Việc học tiếng Việt tuy chăm chỉ, nhưng ít khi xử dụng. Sau nhờ Thượng hoàng ban chỉ gả Thanh Nga cho, từ đấy thần được vợ dậy nói tiếng Việt, lại nói tiếng Việt với vợ nên cũng quen.

Giọng A Đa lơ lớ, tuy nhiên cử tọa vẫn hiểu hết. A Đa tiếp:

– Kỳ này Nguyên đánh ta bằng ba đạo binh.

Vương nói lớn:

– Đạo thứ nhất là đạo Hồ quảng trực diện theo đường châu Lạng xuyên qua Chi lăng, tới Hà bắc. Đạo này do Toa Đô với A Lý Hải Nha trực tiếp chỉ huy. Quân là quân gốc Thảo nguyên và một phần gốc Hán lấy từ miền Bắc, và các tỉnh Trường sa, Hồ nam, Quảng tây, Quảng đông, Phúc kiến. Đường tiếp vận lương thảo chủ yếu là con sông Tương rồi chuyển vào nước ta bằng đường bộ, hoặc đem xuống cảng Quảng châu, chở theo đường biển. Ta muốn tuyệt đường lương của chúng thì chặn trên biển, hoặc phục kích khi chúng từ biển vào cửa sông. Còn chặn đường vận lương đường bộ, ta phục binh lẻ tẻ dọc các con đường từ Lạng châu, Chi lăng. Nhưng kỳ này quân giặc rất đông, chúng sẽ đóng đồn dọc các con đường tiếp vận. Muốn đốt, cướp lương của chúng, ta cần cho quân sống lẫn với dân, sẽ cùng các đội dân quân hành sự.

Cử tọa gật đầu công nhận lý của vương. Vương tiếp:

– Đạo thứ nhì do Vân nam vương chỉ huy. Quân số trên dưới 10 vạn. Hầu hết là bộ binh, kị binh. Không có thủy binh. Quân Mông cổ chính gốc không đông lắm. Hầu hết là quân tuyển từ vùng Tứ xuyên, Đại lý, Thổ phồn. Bọn này không thiện chiến, không trung thành. Tất cả đều mang trong tâm cái nhục bị cai trị, đi đánh nhau giúp quân thù. Đường tiếp vận lương chỉ có đường bộ. Phải vượt đèo, trèo núi, qua sông lạch. Hồi xưa Vũ Uy vương đã tổ chức cướp lương, làm cho Ngột Lương Hợp Thai thất bại. Nay ta nên dùng lại những phương thức cũ của vương.

Trung Nghĩa vương tiếp:

– Đạo thứ ba do Toa Đô chỉ huy, từ Chiêm thành đánh vào vùng Hoan, Ái. Đạo quân này xuất phát đã 4-5 năm. Bị Chiêm, bị ta giúp Chiêm đánh hao mòn. Sau 4 lần tiếp viện, đều bị phá. Tuy vậy chúng có thể tự túc lương thảo, nhờ các đồn điền. Phục binh cướp lương của chúng dễ như trở bàn tay.

Đến đó Thị vệ vào báo với Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc. Nghe báo xong, Chiêu Quốc vương nói lớn:

– Có một đạo quân khí thế hùng mạnh nghiêng trời lệch đất. Tổ chức, trang bị giống như Thiết đột Mông cổ, đang đánh trống tiến về đây, dường như mưu phạm giá, bao vây bắt trọn những người dự đại hội.

Trung Nghĩa vương Ngột A Đa, cùng Thiên tượng đại tướng quân Dã Tượng nhìn nhau kinh ngạc. Ngột A Đa nói:

– Từ Bắc cương về đây quân ta phòng thủ rất kỹ, làm sao bọn Nguyên tới được? Có thể đây là quân của ta, do một tướng nào của ta làm phản.

Chiêu Văn vương Nhật Duật cũng nói:

– Hệ thống báo động từ Bắc biên về đây rất cẩn mật. Dù bọn Thát đát có cánh cũng không bay nhanh như vậy.

Thị vệ lại báo tin liên tiếp. Chiêu Quốc vương ra khỏi thuyền, một lát vương trở về tâu:

– Đạo quân này không phải quân Nguyên, mà là quân tạo phản. Xin Thượng hoàng ban chỉ dẹp ngay. Chúng đang tiến về đây.

Chiêu Minh vương bàn:

– Trước hết phải biết bọn phản loạn do ai cầm đầu? Quân đó là đạo quân nào? Nếu dùng Thiên tử binh dẹp loạn thì phải mất 6 tiếng mới có thể xuất phát được. Như vậy e trễ. Việc dẹp đạo quân này xin dùng Kị binh. Đạo binh Phù đổng đóng không xa đây. Xin Chiêu Hòa vương ban lệnh cho Kị binh xuất phát ngay. Nhất thời xin cho thuyền nhổ neo đậu giữa dòng sông. Trên bờ dàn Thị vệ trấn thủ.

Vương ban lệnh:

– Xin Chiêu Quốc vương dùng đội Thị vệ dàn trên bờ sông cản không cho giặc bơi ra sông.

Thượng hoàng bình tĩnh ban chỉ:

– Xin Hưng Ninh vương, Hưng Nhượng vương lên bờ quan sát tình hình. Chỉ huy Thị vệ cản giặc.

Hai vương đeo kiếm, rời khỏi thuyền. Thuyền nhổ neo ra đóng giữa sông. Tiếng trống, tiếng chiêng của đạo quân mỗi lúc nghe một rõ hơn. Rồi đạo quân từ từ xuất hiện ở cuối con đường. Từ Thượng hoàng cho tới các thân vương đều mở to mắt ra nhìn. Yết Kiêu là người cực kỳ tinh mắt, hầu kêu lên:

– Đội binh này cực kỳ hùng tráng, trang bị mạnh hơn cả Thiết đột.

Hơn khắc sau, đội binh đó tới gần. Dã Tượng kêu lớn:

– Ôi! Kìa! Sư phụ với Hưng Nhượng vương dẫn đầu đạo quân. Không lẽ sư phụ theo phiến loạn?

Ai cũng biết sư phụ của Yết Kiêu là Tuệ Trung bồ tát (Hưng Ninh vương). Hưng Đạo vương nhíu mày lại. Ngài phán:

– Đạo quân này đâu phải phản loạn?

Đạo quân tới gần hơn. Trung Thành vương cười ha hả:

– Đạo binh Hàm tử của Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu. Kìa đi sau Hưng Ninh vương, Hưng Nhượng vương là công chúa An Tư, Nang Tiên, có cả Như Vân nữa.

Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Thượng hoàng không vui, nhìn Chiêu Quốc vương bằng con mắt nghiêm khắc:

– Đem xử tử tên Thị vệ nào báo rằng đạo quân này là quân phản loạn!

Thuyền lại áp vào bờ như cũ.

Đạo quân Hàm tử đã tới gần, nhanh chóng dàn ra để canh phòng khu vực đại hội. Thượng hoàng nhìn 6 chữ trên kỳ hiệu của đạo quân: “Phá cường địch, báo hoàng ân”. Lòng ngài mở rộng, mỉm cười.

Hưng Ninh vương, Hưng Nhượng vương, Hoài Nhân vương, Hoài Văn Hầu, công chúa An Tư, Nang Tiên, Như Vân xuống thuyền hành lễ.

Hoài Văn hầu tâu:

– Tuân chỉ của Khâm Từ hoàng hậu, thần với Hoài Nhân vương điều đạo binh Hàm tử đến hộ tống đại hội.

Khâm Từ hoàng hậu nhắc lại:

– Khi thần tới đây, thấy đại hội quá quan trọng, mà chỉ có hơn trăm Thị vệ hộ tống thì không an tâm. Thần có ban chỉ cho Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu điều đạo binh Hàm tử đến phòng vệ. Khi xuống thuyền thần có báo cho Chiêu Quốc vương biết rồi.

Hưng Nhượng vương tâu:

– Thực không thể tưởng tượng miệng lưỡi rắn rết. Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu đem đội quân Hàm tử bảo vệ vùng Bình than. Cả hai muốn xuống thuyền tâu trình về chiến thắng Đại giáp thì bị đuổi đi, lấy lý do trẻ nít, lấy lý do dù là vương, là hầu, nhưng không có chức tước gì. Hai người được chỉ dụ của Hoàng hậu trở về đem đội quân riêng tới để phong vệ, thì bị vu cáo là phiến loạn. Suýt nữa thì xẩy ra đụng chạm với Thị vệ. Hỡi ơi! Công chúa An Tư, Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu mà là giặc ư?

Vương Chân Phương tâu:

– Dường như có âm mưu bất hảo bao quanh Quốc Toản, xin Thượng hoàng cho điều tra làm sáng tỏ. Hồi Toản 11 tuổi vừa từ Trường sa về thì bị bắt cóc rồi vu cho là gian tế Nguyên. Bây giờ sau chiến thắng ở Chiêm, đến chiến thắng phá Sài Thung trở về xin yết kiến Thượng hoàng cũng không được. Rồi hai người, tuân chỉ Hoàng hậu đem quân cơ hữu hộ tống triều đình thì bị vu là phản loạn.

Mọi người trở lại ngồi vào vị trí hội nghị. Thượng hoàng ban chỉ:

– Lỗi ở trẫm. Đúng ra khi Kiện nhi 13 tuổi trẫm phải phong chức tước cho. Chỉ vì trẫm nghe lời sàm tấu rằng Kiện nhi học văn không thông, học võ không thành, nên chưa trao cho nhiệm vụ gì. Tuy nhiên khi biết tài Kiện, trẫm đã sai Kiện làm Khâm sai kinh lý mặt trận viện Chiêm. Kiện đã thành công trong việc chiêu dụ các cựu tướng Tống, bắt gian vương chiêm. Mới đây lại thành công trong trận đánh Sài Thung. Kiện, con hãy quỳ gối nhận sắc chỉ.

Hoài Nhân vương Quốc Kiện quỳ gối.

– Kể từ lúc này Quốc Kiện là:

Thái tử thái bảo,
Uy viễn đại học sĩ,
Đồng trung thư môn hạ bình chương sự,
Trung vũ quân tiết độ sứ,
Thuần dũng đại tướng quân,
Kiêm thống lĩnh hiệu binh Tứ Thần.
Tướng quân Nguyễn Khoái làm phó thống lĩnh.
Ấp phong là toàn vùng Văn sơn, Chiêu dương, Khâu bắc.

Thượng hoàng hỏi:

– Trẫm muốn ban thưởng cho con một đặc ân. Vậy con có điều ước gì không?

Hoài Nhân vương đưa mắt nhìn công chúa Nang Tiên. Gì mà Thượng hoàng không hiểu ý con. Ngài ban chỉ:

– Lễ bộ chuẩn bị một lễ lớn, cử sứ sang Chiêm, thỉnh Chiêm vương gả công chúa Nang Tiên cho Quốc Kiện.

Quốc Kiện, Nang Tiên quỳ gối tạ ơn., trở về ngồi vào vị trí của thống lĩnh hiệu binh Tứ Thần.

Thượng hoàng gọi:

– Quốc Toản nghe chỉ.

Quốc Toản quỳ gối.

– Quốc Toản đã có tước phong Hoài Văn hầu, ấp là vùng Hàm tử. Do chiến công ở Chiêm, ở Đại giáp, nay ban cho tước Thượng vị hầu. Lĩnh chức Trấn Bắc đại tướng quân. Thống lĩnh lực lượng Thiết đột.

Lực lượng Thiết đột đời Trần tương đương với ngày nay là lực lượng phản ứng nhanh, lực lượng cứu ứng hay cảm tử quân.

Công chúa An Tư tâu:

– Trước khi bàn kế giữ nước, xin Thượng hoàng phá bỏ những tỵ hiềm trong nhà đã. Anh chị Nhật Duy hiện cầm đại quân miền Tây của Nguyên. Từng trấn thủ Bắc cương. Từng làm vua vùng Kinh hồ. Thủ hạ tài trí cực đông. Thế mà con của anh chị cứ luôn bị những lưỡi rắn nhả độc. Võ công Quốc Toản cực cao, lại giữ thanh kiếm Trấn Bắc trong tay. Nếu như cái âm mưu nhả độc hại Quốc Toản tiếp tục. Quốc Toản dù không ra tay thì thủ hạ của anh chị Nhật Duy cũng ra tay. Giặc ngoài đang tiến vào nước mà trong nhà chém giết nhau thì nguy vô cùng.

Thượng hoàng biết cô em út của mình tuy xinh đẹp, nhưng minh mẫn vô cùng, tính khí cực kỳ cương cường. Ngài phán:

– Xin tất cả nghe cho rõ.

Cử tọa im lặng.

Thượng hoàng nói lớn:

– Kể từ ngày hôm nay, trẫm ban chỉ đại xá trên toàn quốc. Bất cứ tội phạm nào cũng được ân xá. Trong hoàng tộc, xóa bỏ hết tỵ hiềm. Đối với phạm nhân là gian tế của Nguyên, cũng được ân xá, trả về nguyên quán. Những phạm nhân dù chính hay tòng phạm trong vụ bắt cóc, giam hãm, vu cáo Quốc Toản, Quốc Kiện cũng được hưởng lệnh ân xá này.

Cử tọa đưa mắt nhìn Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn, dĩ chí Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc.

Đến đó một dân thuyền xuôi dòng. Trên thuyền chỉ có một người chèo, mà con thuyền lao đi vùn vụt. Chiêu Quốc vương kinh ngạc nói với Vũ Minh vương Quang Húc:

– Chú đã ra lệnh cho Thị vệ dàn chiến thuyền phong tỏa đầu sông, sao lại có dân thuyền qua đây dễ dàng như vậy?

Hai vương cùng nhìn, khi dân thuyền đi ngang qua một thuyền của Thị vệ, thay vì ngăn cản, Thị vệ hướng người chèo đò vái một vái. Chính Thượng hoàng cũng ngạc nhiên:

– Trông lưng người chèo đò rất quen! Không biết là ai?

Người chèo đò cất tiếng ngâm thơ, giọng ngâm rất trong, trầm trầm vang đi xa:

Một gánh càn khôn quẩy xuống ngàn,
Hỏi rằng chi đó? Gửi rằng: than.
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt,
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn.
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp,
Thử xem sắt đá có bền gan.
Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác,
Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn.

Chợt Thượng hoàng kêu lên:

– Nhân Huệ vương Khánh Dư! Hèn gì thuyền của y vượt qua thuyền Thị vệ, thay vì chúng cản trở, chúng lại hành lễ.

Ngài ban chỉ cho Thị vệ:

– Các người chèo thuyền gọi Khánh Dư, bảo: trẫm có dụ triệu hồi.

Thị vệ chèo thuyền đuổi theo. Một lát chúng trở lại tâu:

– Đó là một tiều phu, đốn củi đốt than. Thần truyền dụ của Thượng hoàng, y nói: ta là người đốn củi đốt than bán. Không dám tuân chỉ nhà vua.

Thượng hoàng cười:

– Y đích thực là Nhân Huệ vương đấy. Nếu là dân, thì y không dám nói thế. Người đuổi theo nói cho vương biết: trẫm ban chỉ đại xá. Y được đại xá, được phục hồi phẩm hàm, chức tước. Phải tuân chỉ đến phục mệnh.

Thị vệ chèo thuyền đuổi theo, một lát dân thuyền quay trở lại. Người chèo thuyền mặc áo vải gai, đầu đội nón lá, đích thực là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Thượng hoàng than:

– Nam nhi đại trượng phu chỉ vì lầm lỗi, phạm tội, mà phải sa đọa như thế ư?

Ngài lấy áo ngự bào ban cho, truyền ngồi vào vị trí thấp nhất của chư vương. Chiêu Minh vương nói:

– Anh Khánh Dư à! Thượng hoàng mới ban chỉ đại xá thiên hạ. Anh cũng ở trong ơn đó. Anh được phục hồi chức, tước, phẩm hàm, được trả lại ấp phong, được trả lại tài sản bị tịch thu.

Nhân Huệ vương tạ ơn. Tuy vậy vương đưa mắt nhìn anh, em, cháu với vẻ sượng sùng vì nghĩ tới lỗi lầm cũ.

Hồi hơn hai mươi năm trước, nhân có chỉ dụ của triều đình bắt chư vương, hầu, tướng cầm quân phải học binh pháp, nhất là bộ Binh thư yếu lược, Vạn kiếp tông bí truyền thư. Nhân Huệ Vương là người giảng dậy binh pháp. Nên hầu hết cử tọa đều là học trò của vương. Hồi vương phạm trọng tội đúng ra bị đánh bằng gậy cho đến chết, bị cách hết chức tước, bị tịch thu điền sản. Nhưng vua Thái tông thương tình dặn riêng Hình quan, đánh gậy nhẹ, không đến nỗi chết. Vương trắng tay, cũng may ấp phong của phụ thân là Trần Phó Duyệt tại Chí linh vẫn còn. Vương về đó làm ruộng, đốn củi đốt than làm kế sinh nhai.

(Hết Hồi 101)

Share this post