Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 102 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 102 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM LẺ HAI
Đại hội Diên hồng
(Tiếp theo)

Niên hiệu Thiệu Bảo thứ sáu đời vua Trần Nhân tông bên Đại việt.

Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 21 đời Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt (1284), tháng 12.

Tổng hành doanh lưu động của Tiết chế binh mã họp mật tại trấn Lạng sơn. Buổi họp do Hưng Đạo vương chủ trì, gồm Hưng Ninh vương tổng trấn Đông Bắc cương, Chiêu Văn vương Tổng trấn Tây Bắc cương, Nhân Huệ vương Tổng trấn dọc vùng biển, Chiêu Quốc vương Tổng trấn Thăng long, Hưng Nhượng vương Tổng lĩnh Thiên tử binh.

Trước hết Văn sơn hầu Nguyễn Địa Lô tường trình về tình hình Nguyên:

– Thoát Hoan đã cho các đạo binh lên đường: hiện Tổng hành dinh đã tới Ung châu. Phía Nam, A Lý Hải Nha ra lệnh cho Toa Đô lên đường. Đợi khi các đạo quân phía bắc tràn vào Thăng long, thì đạo quân này tiến đánh Nam giới. Nhưng một là đạo quân của Toa Đô lâu nay đói khát, bệnh tật, lại bị Chiêm bao vây, nên y phải để một nửa quân số bảo vệ các đồn điền, căn cứ.

Hưng Đạo vương hỏi Tĩnh Quốc vương:

– Hiện các đạo dân quân vùng Thanh, Nghệ, Trường yên được huấn luyện rất tinh nhuệ, có thể tự vệ khi bị tấn công. Nay tôi chia lực lượng trấn phía Nam thành ba vòng. Vòng đai thứ nhất do hiệu Củng thần, của Chiêu võ thượng tướng quân Cao Mang trấn thủ tại Nam giới. Vòng đai thứ nhì do hiệu Thiên cương của Chương hiến hầu Trần Kiện trấn tại Nghệ an. Vòng đai thứ ba do hiệu Tứ thiên của Văn nghĩa hầu Trần Tú Hoãn trấn tại Trường yên. Như vậy đủ chưa?

Tĩnh Quốc vương tự tin:

– Đủ rồi! Đối phó với đạo binh chết đói, bệnh tật của Toa Đô như vậy là yên rồi. Nhất là dân quân vùng Hoan, Ái rất mạnh.

Chiêu Minh vương dùng ngôn từ gia đình:

– Anh cả ơi! Anh phải thận trọng. Nếu để bọn Nguyên phá vỡ ba vòng đai phía nam thì Thiên trường lâm nguy đấy.

– Nguy sao được, chỉ cần thằng cháu Cao Mang cũng đủ phá Toa Đô rồi.

Tuy vậy Hưng Đạo vương tiếp:

– Việc binh phải cẩn thận vẫn hơn. Tôi đặt đạo Thiết đột Hàm tử của Hoài Văn hầu, hiệu binh Tứ thần của Hoài Nhân vương làm trừ bị cho phía nam.

Tĩnh Quốc vương nói:

– Tôi nghe từ hôm cháu Hoài Nhân được trao cho thống lĩnh hiệu binh Tứ thần. Cháu cùng Hoài Văn nhờ Trung Thành vương tổ chức, huấn luyện lại. Nên hiệu binh này mạnh bất khả đương. Vì Hoài Nhân là đệ tử của Hoài Văn, hai trẻ thân thiết với nhau, tuy hai mà là một. Hiệu binh Tứ thần, Hàm tử từ trang bị, đến tổ chức, phương pháp tác chiến đều giống nhau. Nghĩa là chỉ học tiến, không học lui. Quân Nguyên gốc từ Mông cổ, sở trường về dàn trận. Mà khí đối trận với chúng chỉ tiến, sẽ nguy vô cùng.

Ngột A Đa xua tay:

– Xin đại vương yên tâm. Phụ thân tôi từng ở trong quân Mông cổ trải qua các cấp bách phu, thiên phu, vạn phu. Rồi từng đánh Mông cổ hồi chúng xâm lăng thời Nguyên phong. Cuối cùng người thống lĩnh quân Mông cổ ở Liêu. Vì vậy người hiểu rõ chiến thuật của họ. Nay người hợp kinh nghiệm lại, giúp Quốc Toản, Quốc Kiện, thì hai đạo binh Hàm tử, Tứ thần sẽ có tất cả tinh hoa của Mông cổ, của Đại việt.

Chiêu Văn vương tiếp:

– Mời Văn sơn hầu tiếp về tình hình địch ở đạo quân Vân nam.

Địa Lô tiếp:

– Tướng chỉ huy cánh quân từ Vân nam đã tiến đến sát biên giới. Người chỉ huy là Nạp Tốc Lạt Đinh (Nãsir ud Dĩn). Vân Nam vương đã dốc hết quân cơ hữu dự trận đánh này. Cánh quân Vân nam khá đông, gồm 5 vạn 5 nghìn người. Chia ra 5 nghìn kị binh gốc Mông cổ, 3 vạn binh gốc Tứ xuyên, 2 vạn binh gốc Đại lý. Trang bị đầy đủ, lương thực tiếp tế dễ dàng. Chúng sẽ nhập Việt theo hướng bắc nam, giống như hồi Ngột Lương Hợp Thai. Nghĩa là qua Thảo lâm, tới Bạch hạc, Bình lệ nguyên, Phù lỗ, Cụ bản vào Thăng long.

Hưng Đạo vương hỏi Chiêu Văn vương:

– Vương sẽ nghênh địch ra sao?

– Tuân theo đại kế, tôi bố trí như sau: hiệu binh Thiên thuộc của Trấn biên tướng quân Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh trấn từ biên giới tới Thảo lâm. Hiệu binh Thiệu hưng của Kinh nam quốc công Triệu Hòa trấn tại Bạch hạc, Đông bộ đầu. Hiệu Trung thánh dực của Văn chiêu hầu Trần Văn Lộng trấn vùng Tam đái tức từ Phù lỗ, Cụ bản tới Thăng long. Tất cả được lệnh: cần đánh một vài trận rồi rút lui, ẩn vào dân chúng. Chờ cho giặc đi qua, thì trở lại chặn đường tiếp tế, rút lui. Khi ta phản công, giặc bỏ chạy thì chặn đánh.

Địa Lô lại trình bày tình hình địch mặt biển:

– Nguyên gốc là Mông cổ, giỏi về kị binh, không có thủy quân. Cho nên suốt 5 năm qua Hốt Tất Liệt lúng túng về mặt biển. Hai lần đánh Nhật bản bị thất bại. Gửi quân đánh Chiêm, bị ta phá ở Quỳnh châu (Hải nam), rồi Trường sa, Hoàng sa, rồi Thư mi liên. Gần đây Hốt Tất Liệt đã trọng dụng các cựu tướng thủy quân của Tống, sai lập các xưởng đóng chiến thuyền. Nhưng chiến thuyền của họ chỉ đủ để vận tải lương, chuyển quân từ Trường sa, Hồ nam, Liễu châu xuống Ung châu. Trong các thủy đội của họ hiện không có khả năng đánh vào mặt biển của ta.

Hưng Đạo vương ban lệnh:

– Phó Tiết chế Nhân Huệ vương hiện đóng ở Tiên yên, Đồ sơn. Vương có 4 hạm đội. Vậy vương nghênh chiến ra sao?

Nhân Huệ vương trình:

– Từ 5 năm nay, bốn hạm đội, thì chỉ duy hạm đội Bạch đằng là trực diện tham chiến. Bây giờ tôi phối trí như sau. Hạm đội Bạch đằng phụ trách vùng biển Chiêm. Tuần phòng, đánh các đội thủy quân Nguyên từ Nghệ an tới cực nam của Chiêm. Trấn thủ trên các quần đảo Trường sa, Hoàng sa. Hạm đội Âu cơ của đô đốc Nguyễn Chế Nghĩa trấn thủ trên vịnh Hạ long, và các cửa sông từ biên giới tới Bạch đằng. Hạm đội Thần phù trấn thủ từ của biển Bạch đằng tới Thần phù. Hạm đội Thăng long trấn thủ sông ngòi vùng Thăng long, Thiên trường.

Địa Lô trình bầy tiếp tình hình địch:

– Hiện đại quân Nguyên đã đóng dọc biên giới từ Lạng sơn tới Như hồng. Tất cả gồm 10 vạn phu bộ binh và 5 vạn phu kị binh. Toàn quân tinh nhuệ. Ý định của A Lý Hải Nha là phô trương lực lượng, rồi sai sứ chiêu hàng.

Hưng Đạo vương cười:

– Được! Để trả lời cho cái vụ chiêu hàng, ta cần đặt chúng vào thế bị động. Gây cho chúng kinh hoàng. Vụ này phi Đại đởm, đại tướng quân, minh tâm, dũng lược, duệ mưu công thần, Nam phương, thần vũ Quốc công Nguyễn Thiên Sanh không ai làm nổi. Công tìm cách đột nhập vào doanh trại Nguyên, giết ngựa, đốt lương, khiến chúng kinh hoàng. Hiện công có bao nhiêu toán Đại đởm?

Quốc công Nguyễn Thiên Sanh trình bầy:

– Khải vương gia, hiện Nguyên đóng sát biên giới của ta gồm 4 khu. Khu giữa gồm 2 vạn phu kị binh. Khu đông gồm 2 vạn phu bộ binh, khu tây gồm 2 vạn phu bộ binh. Còn lại chúng đóng phía sau, xa biên giới tới 10 dặm. Lương thảo của chúng không do bộ binh, kị binh canh phòng mà do Lao binh, dân phu. Chúng chứa thành bốn kho. Đánh cảm tử thì tránh dùng những đơn vị lớn, cần những đơn vị nhỏ cấp Đô (1 đô 80 người) dễ xoay xở, dễ rút lui hơn. Thần có tại đây 4 đô. Thần sẽ cho tấn công vào bốn kho lương một lúc.

Công đưa mắt nhìn Hoài Nhân vương Trần Quốc Kiện, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản:

– Sau khi đốt lương địch thì cần rút mau. Thần cần tới Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu cho Thiết đột phục binh cản đường.

Hưng Đạo vương hài lòng:

– Vậy cuộc tấn công này trao cho Đại đởm đại tướng quân với Hoài Nhân, Hoài Văn.

Vương tiếp:

– Ta chia quân thành bốn vòng đai. Vòng đai thứ nhất là các ải địa đầu dọc biện giới tới Chi lăng, do Bình nam đại tướng quân Phạm Ngũ Lão thống lĩnh. Lực lượng gồm hiệu binh cơ hữu là Hữu thánh dực và hiệu Thần cách của Văn sơn hầu Địa Lô. Nhưng tôi cần Văn Sơn hầu ở cạnh. Vậy phó tướng Nguyễn Lộc thay thế. Nhiệm vụ: củng cố chiến lũy, đồn ải thực kiên cố. Khiến chúng phải hao binh, tổn tướng đánh chiếm. Chỉ cần giữ từ 5 tới 10 ngày, rồi rút lui, ẩn vào dân chúng. Đợi cho đại quân chúng đi qua, lại xuất hiện đánh các đoàn chở lương, trấn đóng các làng xã, khuấy rồi hậu quân chúng. Chờ khi có lệnh phản công thì mới đánh thực sự.

– Vòng đai thứ nhì do Thiên tượng đại tướng quân, Khâu Bắc đình hầu Dã Tượng thống lĩnh. Trấn thủ từ Chi lăng tới Nội bàng. Quân cơ hữu gồm hiệu cơ hữu Văn bắc và hiệu Tứ thánh của hai đại tướng quân Nguyễn Khoái và Nguyễn Khả Lạp. Nhiệm vụ: như vòng đai thứ nhất; củng cố chiến lũy, đồn ải thực kiên cố. Khiến chúng phải hao binh, tổn tướng đánh chiếm. Chỉ cần giữ từ 5 tới 10 ngày, rồi rút lui, ẩn vào dân chúng. Đợi cho đại quân chúng đi qua, lại xuất hiện đánh các đoàn chở lương, trấn đóng các làng xã, khuấy rồi hậu quân chúng. Chờ khi có lệnh phản công thì mới đánh thực sự.

– Vòng đai thứ ba, do đích thân tôi thống lĩnh, đóng tại Đông triều, Vạn kiếp. Tôi sẽ dùng hiệu binh Tiền thánh dực của Hưng Trí vương, hiệu Tả Thánh dực của Hưng Hiếu vương.

– Vòng đai thứ tư do Chiêu Quốc vương thống lĩnh, bảo vệ kinh thành Thăng long. Lực lượng gồm hiệu binh Phù đổng của Chiêu hòa vương Quốc Uất, hiệu Tứ thần của Hoài Nhân vương, hiệu Hàm tử của Hoài Văn hầu, hiệu Thiên thánh của Quang nghĩa hầu Trần Bình Trọng, hạm đội Thăng long, hiệu binh Hoa lư của Ngưu vệ tướng quân Lý Long Đại và phu nhân Vũ Trang Hồng.

Hưng Đạo vương gọi Ngột A Đa:

– Trong tất cả các tướng Đại việt, không ai hiểu chiến thuật của Mông cổ bằng vương gia. Vương gia lại kinh nghiệm đối phó với các tướng của Hốt Tất Liệt. Vì vậy xin vương gia lĩnh nhiệm vụ cực kỳ khó khăn.

Vương phi Thanh Nga cảm động:

– Thưa Tiết chế, vợ chồng tôi suốt bao năm cầm quân Mông cổ chống Nguyên, mà lòng ước ao có ngày được vì Đại Việt ra sức. Nay Tiết chế trao cho nhiệm vụ khó đến đâu cũng không từ nan.

Hưng Đạo vương hài lòng:

– Vương gia thống lĩnh mặt trận cực rộng: bao gồm Vân nam, Quảng tây, Quảng đông. Khi rời Vân nam về Đại việt, vương gia dẫn theo hơn 5 nghìn quân gốc Mông cổ. Bây giờ tôi đặt các hiệu binh gốc Tống là Văn Thiên Tường, Tường Hưng, dưới quyền vương gia. Khi xuất binh, ba Quốc công Triệu Nhất, Triệu Trung, Triệu Hòa sẽ kéo cao cờ nghĩa Cần vương Tống. Nghĩa là chúng ta đánh bọn Thát đát trên đất Trung quốc là vì Tống, là vì phục hồi đất của Quốc tổ Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế.

Ngột A Đa hỏi:

– Chúng tôi sẽ nhận lệnh từ đâu? Từ Khu mật viện Đại việt? Từ Hưng Ninh vương? Từ Chiêu Văn vương? Hay từ Tiết chế?

– Vương cần phối hợp với tất cả chúng tôi để cùng hoạt động. Bây giờ quân Nguyên của Thoát Hoan đang lũ lượt kéo nhau xuống nam. Vương gia ém quân vào dân chúng. Đợi khi toàn quân của Thoát Hoan nhập Việt, vương gia tung quân đánh chiếm các phủ, huỵện nhỏ. Sau khi chiếm được trao cho ba vị Triệu Quốc công. Các vị ấy sẽ tìm hào kiệt bổ nhậm làm quan, tổ chức cai trị. Đánh vùng nào, tùy nghi vương gia với ba vị Triệu quốc công. Tuy nhiên bằng mọi giá phải chiếm Hỏa giáp, Đại giáp, Ngọc tuyền, Côn luân. Như vậy bất đắc dĩ Thoát Hoan phải cho lui quân từ Việt về tái chiếm 4 vị trí ấy. Khi thấy chúng trở lại, các vị lại rút đi. Thế bắt buộc chúng phải đóng đồn bảo vệ con lộ huyết mạch. Thiên Kình đại tướng quân đã huấn luyện cho Cần vương Tống 5 đội Ngạc ngư. Vương gia dùng 5 đội này đục thuyền vận lương của Nguyên trên sông Tương.

oOo

Ngày 21 tháng chạp, năm Giáp thân (27-1-1285) niên hiệu Thiệu Bảo thứ sáu đời vua Trần Nhân tông bên Đại việt.

Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 21 đời Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt.

Trời bắc cương Đại việt vừa trải qua 10 ngày mưa phùn, tự nhiên nắng ráo, gió heo may thổi nhè nhẹ. Dọc biên giới hiệu binh Hữu Thánh dực của Phạm Ngũ Lão đóng hai đồn Khả lan vi, Đại trợ. Đối lại bên kia biên giới tướng Nguyên là Bột la Cáp đáp nhĩ (3), và A Thâm với 2 vạn bộ, một vạn kị. Hiệu binh Thần cách của Nguyễn Lộc đóng trong hai chiến lũy Khâu ôn, Khâu cấp, đối diện lại bên kia là Khiếp tiết Tản lược Nhi (4), và Lý Bang Hiến với 2 vạn bộ, 1 vạn kị.

* Chú thích:
(3) Bột la Cáp Đáp Nhĩ tên Mông cổ là Bolqada đọc là Bôn Kha Đa. Nguyên sử An Nam truyện chép là Bột la Cáp Đáp Nhĩ. An nam chí lược phiên âm là Lý la hợp đáp nhĩ.
(4) Khiếp tiết là cấp bậc của tướng chỉ huy Thị vệ của Hốt Tất Liệt. Tán Lược Nhi phiên âm từ tiếng Mông cổ là Satartai đọc là Xa tác tai.

Trấn Nam vương Thoát Hoan và Kinh hồ An nam hành tỉnh A Lý Hải Nha ban chỉ cho các cánh quân:

Phải tiến đánh thực mau, thực mạnh, để vào Thăng long ăn tết, hái cành đào đem về dâng cho phụ hoàng.

Thoát Hoan cùng bộ tham mưu rời thành Ung châu, hướng về biên giới Đại Việt. Vào trong đại doanh, Thái tử hỏi vương phi Lý Ngọc Trí:

– Khanh xa quê hương đã lâu. Bây giờ chỉ còn một ngày nữa, ta sẽ đưa phi nhập Việt. Bọn Nhật Huyên ngoan cố không chịu đầu hàng. Chúng dàn hai hiệu binh thành bốn đồn là Khả lan vi, Đại trợ, Khâu ôn, Khâu cấp. A Lý Hải Nha đã chia quân làm hai cánh, đánh 4 đồn. Hạ được 4 đồn này thì đại quân tràn qua Chi lăng, chỉ cần một ngày sức ngựa là tới Thăng long.

Ngọc Trí giả ngây thơ:

– Vương gia tiến mau như vậy, bỏ lại sau các cánh dân quân Việt; liệu tiền quân có yên không?

– Nàng không biết gì về cách dùng binh của đức Thái tổ Thành Cát Tư Hãn cả. Để ta nói cho nàng nghe: hồi người mang quân chinh tây, đã sai Tốc Bất Đài, Triết Biệt đem 3 vạn kị binh đuổi theo đại đế Mộ Hợp Mễ, xuyên qua đế quốc của ông ta. Ông ta chạy bán mạng, khiến các vương hầu như rắn mất đầu. Không tập hợp quân cứu viện được. Vì vậy Thái tổ chinh phục được một đế quốc hùng mạnh. Nay ta đem quân vào Việt, cần đánh như sét nổ, chiếm Thăng long, truy lùng bắt cho được triều đình họ Trần, thì các cánh quân khác phải buông vũ khí đầu hàng.

Y nhìn bà vợ xinh đẹp:

– Khi ta vây Thăng long, để tránh đồ máu, ta sẽ nhờ nàng đi sứ, khuyên Nhật Huyên đầu hàng, như trước đây vợ của Chân Kim là Đặng Ngọc Kỳ đi sứ, thuyết phục chư tướng Hoa lâm đầu hàng, mà không phải dùng binh.

Ngọc Trí cười:

– Thái tử không muốn đổ máu chắc vì sợ giao tranh thì công chúa An Tư khó mà thoát khỏi cái chết! Bấy giờ được An Tư thì Thái tử sẽ phế em, phải không?

– Không hề! Dù nói cách nào nàng cũng có với ta hai con trai. Muôn ngàn lần ta không thể phế nàng.

Có Tham quan vào trao cho Thoát Hoan một tấu trình. Ngọc Trí liếc qua, đó là mật khẩu đêm nay:

Hỏi: Đại đô,

Đáp: Thăng long.

Nàng vào phòng cầm bút tóm lược những gì Thoát Hoan nói với nàng, cùng mật khẩu vào một tờ giấy rồi trao cho viên Thái giám thân tín, viên Thái giám này do Đại Hành an trí để giúp nàng. Viên Thái giám ra sau, gọi chim ưng xuống, gửi đi liền.

Chim đó mang thư về Tổng hành doanh Tiết chế tại Vạn kiếp. Địa Lô mở thư ra coi. Hầu trình với Hưng Đạo vương. Vương mừng vô cùng, vì biết rõ chủ tâm của Thoát Hoan là tiến thực mau, đuổi bắt vua Trần. Như vậy các hiệu binh chỉ cần đánh cầm chừng, rồi ẩn vào dân chúng. Vương ban chỉ cho Địa Lô:

– Hôm qua, Quốc Toản với Thiên Sanh bàn: đợi trời tối bí mật nhập trại Nguyên, bắt một tên quân canh để biết mật khẩu. Điều này rất khó. Bây giờ có mật khẩu, hãy báo cho Quốc Toản, Thiên Sanh biết ngay.

Địa Lô sai chim ưng mang thư đến ải Khả lan vi giữa lúc Phạm Ngũ Lão, Quốc Kiện, Quốc Toản đang họp với Nguyễn Thiên Sanh. Cả bốn đang nghiên cứu đường rừng xuyên biên giới để nhập trại Nguyên. Biết được mật khẩu, Thiên Sanh reo lên:

– Thế này là chúng ta nhập trại Nguyên dễ dàng rồi.

Cả ba định rõ đường rút lui. Quốc Toản, Quốc Kiện cho Thiết đột phục binh như thế nào.

Công chúa Thủy Tiên hỏi:

– Tin của Ngọc Trí cho biết sáng sớm mai Thoát Hoan sẽ cho bốn tướng Khiết tiết Tán lược nhi, Lý Bang Hiến, Bột lan Cáp đáp nhĩ, A Thâm đánh 4 ải của mình. Nay trong đêm Đại đởm đốt phá, dù Đại đởm thành công nhiều hay ít, cũng gây xáo trộn trong đội binh tiên phong. Liệu sáng mai chúng có tiếp tục đánh mình hay để sang ngày khác?

Phạm Ngũ Lão đáp thản nhiên:

– Lính Nguyên, lính Mông cổ được huấn luyện cực kỳ dẻo dai. Dù Đại đởm có quấy phá khiến chúng mất ngủ cả đêm, Thoát Hoan vẫn cho xuất trại. Y không chịu đổi đâu!

Quốc Toản từng được nghe phụ vương, vương mẫu thuật lại những truyện làm xuất quỷ nhập thần của Thần Vũ quốc công Nguyễn Thiên Sanh. Hầu hỏi:

– Thúc thúc! Thúc thúc định làm gì để cho tên Thoát Hoan kinh hồn táng đởm như hồi 27 năm trước thúc thúc đã gây cho Ngột Lương Hợp Thai ghê sợ?

– Bọn Nguyên cậy đông người, đóng binh san sát dọc biên giới, với mục đích uy hiếp tinh thần ta. Mấy hôm nay chú dò dẫm được biết lính Nguyên thường rời trại vào rừng kiếm củi khô. Như vậy việc canh phòng không chặt chẽ. Chú sẽ cho các Đại đởm mặc quân phục Nguyên, vào rừng trà trộn lẫn với chúng. Rồi đêm mình tập trung lại nhập trại chúng.

– Chú lấy đâu ra quân phục, vũ khí quân Nguyên để giả làm lính Nguyên?

– Sau trận đánh Hỏa giáp, chú thu được quân phục của 160 lính Nguyên. Bây giờ chú cho các Đại đởm mặc quân phục Nguyên. Mình đã có mật khẩu, mình di chuyển trong trại Nguyên dễ dàng. Chú sẽ làm như thế… như thế… thì tên Thoát Hoan sẽ sợ đến té đái, vãi phân ra!

– Nhưng nguy hiểm quá!

– Nguy hiểm ư? Có hành sự như vậy đức Thái tông mới đặt cho cái tên Đại đởm.

Quốc Toản nói sẽ vào tai Thiên Sanh:

– Chú nhớ nhé, trong trướng của Thoát Hoan có hai người mà chú phải hết sức cẩn thận, kẻo giết lầm.

– Chú biết rồi, một người là vợ của Thoát Hoan, một người là vợ của Lý Hằng.

– Chú biết mặt hai người đó không?

Thiên Sanh chỉ vào Như Vân:

– Biết! Hai con nhỏ đó xinh đẹp không thua gì Như Vân đâu. Khác một điều là chúng ca, múa, đàn, địch tuyệt vời và ăn quà như mỏ khoét. Hồi vương mẫu cháu đem chúng vào Thục. Chú đã sống trong thành Điếu ngư cùng chúng một thời gian.

(Hết Hồi 102)

* Phụ Lục: HỊCH TƯỚNG SĨ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

Ta thường nghe: Kỷ Tín (1) đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Ðế; Do Vu (2) chìa lưng chịu giáo, che chở cho cho Chiêu Vương; Dự Nhượng (3) nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái (4) chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Ðức (5) một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh (6) một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?

Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên (7) là người thế nào? Nguyễn Văn Lập (8) , tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà đem thành Ðiếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Ðãi Ngột Lang (9) là người thế nào? Xích Tu Tư (10) tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình (11); đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ (12) tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt (13) mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau. (14)

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Ði thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?

Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta”.

* Chú thích:

(1) Kỷ Tín: Bầy tôi của Hán Cao Tổ Lưu Bang, khi Lưu Bang bị hạng Vũ vây hãm ở thành Huỳnh Dương rất nguy cấp, Kỷ Tín phải ăn mặc giả làm Lưu Bang xông ra mặt trận. Sau khi Hạng Võ bắt được Kỷ Tín (Lưu Bang giả) Lưu Bang được thoát nạn, còn Kỷ Tín bị Hạng Võ thiêu chết.
(2) Do Vu tức Vương Tôn Do Vu, người thời Xuân Thu, bầy tôi nước Sở. Khi nước Sở bị chúa nước Ngô là Hạp Lư đánh, Chiêu Vương nước Sở phải chạy đến Vân Mộng, trong lúc Chiêu Vương nằm ngủ, có thích khách cầm giáo vào đâm, lúc ấy Do Vu ở bên cạnh, phải lấy thân mình chịu giáo thay thế. Do Vu bị trúng vai, mà Chiêu Vương được thoát nạn.
(3) Dự Nhượng người thời Chiến quốc, bầy tôi Trí Bá. Trí Bá bị Triệu Tương tử giết. Dự Nhượng lập mưu giết Tương Tử để báo thù cho Trí Bá. Hành thích lần đầu, bị bắt, được tha. Dự Nhượng lấy sơn trát vào mình làm người hủi, nuốt than cho tiếng nói khác đi. Hành thích lần sau, laị bị bắt, Dự Nhượng xin Tương Tử cho đánh vào cái áo để trả thù. Khi người nhà đem cái áo của Tương Tử ra, Dự Nhượng nhảy lên kêu trời ba lần, vừa kêu vừa đánh vào cái áo, rồi tự sát.
(4) Thân Khoái người thời Xuân Thu, một viên quan coi giữ ao cá của Tề Trang Công. Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái tự tử chết theo.
(5) Kính Đức, tức Uất trì Kính Đức, người đời Tùy Đường, một tướng mạnh của Đường Thái tông (Thế Dân). Kính Đức có biệt tài tránh gươm giáo, thường một mình cưỡi ngựa xông vào trận địa của giặc. Giặc tập trung giáo lại đâm, Kính Đức đã không bị thương, lại còn cướp giáo giặc để đâm giặc. Đường Thế Dân đem năm trăm quân ra trận địa, bị Vương Thế Sung đem hơn vạn quân ập đến bao vây. Đơn Hùng Tín cầm giáo đuổi đâm Thế Dân, Kính Đức phóng ngựa lại đâm Hùng Tín ngã ngựa, làm cho quân của Thế Sung tan vỡ, Thế Dân thoát được vòng vây.
(6) Nhan Khanh là Nhan Cảo Khanh, bầy tôi nhà Đường. Thời đại Đường Minh Hoàng, An Lộc Sơn làm phản, lúc ấy Cảo Khanh làm Thái thú Thường Sơn mang quân đánh Lộc Sơn, quân thua bị bắt. Lộc Sơn dụ Cảo Khanh đầu hàng. Bị Cảo Khanh mắng lại: Ta là bầy tôi nhà Đường, vì nước đánh bọn phản nghịch, ta giận rằng không chém được đầu mày. Lộc Sơn sai đem hành hình, đến lúc gần tắt thở vẫn còn mắng chửi Lộc Sơn.
(7) Vương Công Kiên, tướng nhà Tống trấn thủ Điếu ngư. Xin xem các hồi 81 đến 88, trong Anh hùng Đông a – Gươm thiêng Hàm tử này.
(8) Nguyễn Văn Lập, tướng phụ trấn Điếu ngư. Xem hồi 81-88, trong AHĐA–GTHT này.
(9) Cốt Ngại Ngột Lang, tức Ngột Lương Hợp Thai, đại công thần Mông cổ, con của thân vương Tốc Bất Đài. Y là Thái sư Mông cổ, đem quân đánh Đại việt lần thứ nhất (1257), bị đánh bại.
(10) Cân Tu Tư, tiên phong của Ngột Lương Hợp Thai, có công đầu trong việc đánh Đại lý. Bị tử trận.
(11) Bài hịch nhắc lại việc sứ nhà Nguyên là Sài Thung, khi vào đến cửa Dương Minh vẫn ngoan cố, không xuống ngựa; khi Thượng tướng Trần Quang Khải đến sứ quán tiếp, Sài Thung vẫn nằm dài không dậy.
(12) Tể Phụ là những viên quan, quyền cao, chức trọng, giúp vua điều khiển công việc trong cả nước.
(13) Thế Tổ nhà Nguyên tên Hốt Tất Liêt.
(14) Bài hịch nhắc việc, Mông Cổ sai sứ sang bắt nước ta, phải hàng năm cống nộp tiền tệ, sau lại sai sứ thần là Lương Tăng sang dụ vua Nhân Tông sang chầu, nếu không sang phải nộp vàng ngọc thay thế và cống nộp người hiền tài, mỹ nữ, thợ v.v…

Share this post