Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 102

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 102

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM LẺ HAI
Đại hội Diên hồng

Chiêu Minh vương nhắc lại chủ đích của buổi họp.

Nhân Huệ vương hỏi:

– Thần nghe, từ sau khi Vũ Uy vương trợ Tống trở về, vương lo lắng vì hệ thống Tế tác gồm 12 mỹ nhân gửi sang Mông cổ, có thể bị lộ. Bấy giờ Thượng hoàng mới lên ngôi. Thượng hoàng ban chỉ rằng tất cả thư tín hệ thống Tế tác gửi về Bắc cương, chính Vũ Uy vương nhận, rồi gửi về triều, rồi chính Thượng hoàng nhận.

Thượng hoàng trả lời:

– Đúng vậy, khi Vũ Uy vương sang Tống làm vua Kinh hồ, thì thư tín gửi về Khu mật viện Kinh hồ. Rồi khi Tống mất, Vũ Uy vương sang Nguyên lĩnh ấn Trấn Tây đại vương, thì việc này trao cho Dã Tượng, Địa Lô. Lúc vương rời Kinh hồ thì là lúc tin của Bạch Liên và Hồng Nga báo rằng có hai thân vương làm gian tế cho Nguyên để xin được phong cho làm An nam quốc vương. Vụ này để Trung lang tướng Địa Lô trình bầy.

Địa Lô đứng dậy:

– Hốt Tất Liệt giữ kín không cho ai biết danh tính hai vương này. Trong hồ sơ mật, Hốt Tất Liệt ghi tên hai vương này bằng dấu vuông, tròn. Khi Quốc Toản từ Trường sa về nước, vương phi Ý Ninh đã gửi hai mảnh lụa, mang bút tích của 2 con rắn độc này. Nên khi Quốc Toản tới Tiên yên thì bị bắt cóc, mong tiêu hủy hai mảnh lụa. Cuối cùng chính Hoài Văn hầu cũng biết một trong hai gian vương là Trần Di Ái. Từ hồi ấy đến giờ tất cả thư tín, chỉ dụ của triều đình cho Tế tác đều chuyển qua Bắc cương, chứ không chuyển về Khu mật viện. Còn gian vương thứ nhì thì chưa tìm ra.

Địa Lô ngừng một lát rồi tiếp:

– Tin mới nhất, Hốt Tất Liệt triệu hồi tất cả tướng sĩ An nam hành tỉnh về Đại đô, cho ăn yến, hứa thăng chức tước sau khi đánh An nam. Y còn hứa xa xôi rằng nếu Thoát Hoan thắng trong trận này sẽ được truyền ngôi vua. Trong bữa tiệc, Hốt Tất Liệt ban chỉ thị cho Thoát Hoan:

– Hồi Thái tổ Thành Cát Tư hãn chinh Tây chỉ có 30 vạn quân. Nay đánh An nam là một nước nhỏ bé, mà quân số lên tới 50 vạn; thì phải thắng, không thể để bại.

– Đánh phương Tây, tiếp tế khó khăn, đường xa diệu vợi. Nay An nam với Trung nguyên kề cận nhau. Núi liền núi, sông liền sông. Đường chuyển quân, vận lương dễ dàng. Thì không lý gì không thắng.

– Tuy nhiên An nam là nơi rồng nằm hổ phục. Dân An nam thường hay chia rẽ, chửi nhau, cãi nhau. Nhưng khi chống ngoại xâm thì chúng bỏ tỵ hiềm, cùng cầm vũ khí giữ nước. Thời Tống Thái tông sai bọn Hầu Nhân Bảo sang đánh đã bị bại. Thời Tống Thần tông, bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết thống lĩnh trăm vạn binh, rồi cũng bị phá. Bây giờ đích thân hoàng tử cầm quân, thì không được thua. Khi xuất trận phải nhớ mười điều:

Thứ nhất: Người Việt rất giỏi thủy chiến, bọn vua chúa họ Trần xuất thân làm nghề đánh cá, chúng là những người vô địch thế gian về Thủy chiến. Tuyệt đôi không được dùng thủy chiến với chúng.

Thứ nhì: Bọn An nam thường dùng đàn bà, thầy tu, trẻ con làm tướng. Phải nhớ rằng những bọn đó ắt có biệt tài mới được cầm quân. Đối trận với chúng phải cẩn thận lắm. Đời nào chúng cũng có những tăng ni, nữ tướng kiệt hiệt.

Thứ ba: An nam không có thành quách kiên cố. Là xứ thấp nhiệt, mưa nhiều, đồng lầy, sông lạch chằng chịt. Không có những khu đất khô để đóng quân, để dàn trận. Chúng thường phân tán thành những toán nhỏ, rình khi ta không đề phòng thì tấn công, rồi bỏ chạy. Ta đuổi theo thì bị giẫm phải chông, sa xuống bùn lầy. Chúng gây cho quân ta mệt mỏi. Rồi thình lình tập trung đánh vào khu đóng quân.

Thứ tư: Mỗi làng, mỗi xóm của chúng thường là khu đất cao, nhô lên khỏi vùng đồng lầy. Đường vào chỉ có một lối đi xuyên qua. Lối đi hẹp chỉ một hai người vào được. Muốn tấn công thì một hai người sao vượt qua cổng? Còn xung quanh bao bọc bởi những lũy tre cao, dầy đặc. Ngoài lũy tre là hào sâu, dưới hào chúng gài chông. Muốn đánh phải dùng bộ binh lấp hào, phá lũy tre. Chúng ở trong dùng cung tên bắn ra. Khi mình hy sinh phá rào vào thì chúng ẩn nấp trong các bụi cây, trong các căn nhà. Quân phải lục soát đánh chiếm từng nhà. Nếu thấy yếu thế, chúng rút sang làng khác. Rút cuộc mình chiếm được một làng vườn không nhà trống.

Thứ năm: Khi ta đánh phương Tây, Trung nguyên, Tây tạng, Đại lý, Liêu, chỉ cần chiếm được thành, rồi ban lệnh cho các bộ thuộc, làng xã nộp lương thảo là ta có lương ăn, có người cắt cỏ, chăn ngựa. An nam thì không thế. Lương thực của các làng rất ít. Mà chiếm các làng cực khó khăn. Chúng không chịu nộp lương. Mà có nộp thì cũng trộn thuốc độc cho quân ăn, cho ngựa bệnh. Vì vậy ta phải vận lương sang. Vận lương cho năm mươi vạn người, số lao binh lên đến con số mấy chục vạn. Lương từ vùng Hồ Quảng sang đến An nam, phu đi ít ra là một tháng. Thành ra số lương chúng mang đi, chính chúng ăn hết một nửa. Ấy là không kể dọc dường phu bỏ trốn, hoặc bị quân An nam phục binh đánh cướp.

Thứ sáu: Khí hậu An nam vốn thấp nhiệt, lam chướng gây cho quân, cho ngựa bệnh. Người ngựa chết vì lam chướng nhiều hơn là chết trận. Khắp nơi, muỗi, mòng như ong. Chúng đốt người, đốt ngựa, gây bệnh sốt rét ngã nước. Vì vậy ta phải tốn tiền làm màn cho quân, cho ngựa, tốn kém không phải là ít.

Thứ bẩy: Trước đây mỗi khi Trung nguyên đem quân đánh An nam, thường được các bang hội người Hoa nổi lên làm nội ứng, làm Tế tác cho. Nay ta không được cái may đó. Hồi Ngột Lương Hợp Thai đánh An nam, đem theo những đội võ sĩ Trung nguyên. Khi quân tới Thăng long, người Hoa nổi lên làm nội ứng. Nhưng sau đám võ sĩ ngưởi Hoa làm phản, kéo theo bọn Hoa kiều trở giáo đánh lại quân mình. Mới đây khi Tống bị diệt, tàn quân Tống chạy sang An nam xin kiều ngụ. Bọn An nam thu nhận, tổ chức thành ba hiệu binh Thiệu Hưng, Tường Hưng, Văn Thiên Tường. Bọn người Hoa ở đất Việt sát cánh với dân Việt. Phải tối đề phòng bọn người Hoa.

Thứ tám: Các triều đại trước, khi khởi binh đánh An nam, thường phong chức tước cho Chiêm, sai Chiêm đánh vào phía Nam lãnh thổ chúng. Ta đã nhiều lần sai sứ chiêu dụ Chiêm. Chiêm không theo. Năm năm trước, ta sai bọn Toa Đô đem quân đánh Chiêm. Bọn An nam giúp Chiêm 500 chiến thuyền, 5 vạn quân, vì vậy Toa Đô không thành công. Nhưng Toa Đô còn trấn đóng ở Chiêm. Khi ta tiến vào An nam, Toa Đô sẽ đánh vào phía Nam của chúng.

Thứ chín: Hồi năm Chí nguyên thứ 18 (1281), ta đã tổ chức An nam tuyên úy ty, sai Bốc Nhan Thiết Mộc Nhi (1) làm An nam tuyên úy sứ, đô nguyên soái, Sài Thung, Hốt Kha Nhi làm phó (2) sang An nam, cai trị. Bốc Nhan Thiết Mộc Nhi lập phủ trị, bổ nhiệm, tuyển mộ quan lại. Bọn vua An nam không nhận, đuổi về. Ta sai sứ sang bắt đích thân quốc chủ vào chầu, chúng không tuân, nói rằng bệnh hoạn không cỡi được ngựa. Chúng cử chú là Trần Di Ái sang thay. Từ lâu ta tiếp được biểu của hai thân vương An nam. Chúng tình nguyện làm nội ứng khi ta tiến quân vào. Chúng xin dược ta phong cho làm An nam quốc vương. Biết Tế tác An nam rất giỏi, rất tinh vi, nên ta không bao giờ tiết lộ tên hai người này. Cả hai từng gửi nhiều tin tức về triều đình An nam, về tình hình tổ chức binh bị của chúng. Một trong hai tên chính là Trần Di Ái. Y là chú của vua An nam. Khi y được cử sang chầu thay cháu. Ta đã phong y làm An nam quốc vương. Hai bồi sứ là Lê Tuân, Lê Mục. Ta đã phong cho Lê Tuân làm Thượng thư lệnh, Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ. Lại sai Sài Thung đem một Thiên phu hộ tống về nước. Bọn An nam dùng bọn Cần vương Tống phục ở Đại giáp, giết chú, bắn mù mắt Sài Thung.

Thứ mười: Ta trao cho con sắc phong sẵn. Khi con sang An Nam, tên thân vương thứ nhì sẽ cùng bộ thuộc nổi lên giúp con. Con ban sắc chỉ cho y, rồi sai làm lễ tấn phong y làm An nam quốc vương, giúp y tổ chức triều đình, sai y đem bản bộ quân mã đánh lại bọn triều đình của chúng. Đợi khi bình định xong An nam, con đặt Tuyên phủ ty cạnh triều đình mới. Đừng vội đặt quan cai trị ngay. (*)

* Chú thích:

(1) Bốc Nhan Thiết Mộc Nhi, Nguyên sử, An nam truyện phiên âm là Bốc Nhan Thiết Mộc Nhi. Nguyên sử Thế tổ bản kỷ phiên âm là Bột Nhan Thiết Mộc Nhi, tên Mông cổ là Buyan Tămur đọc là Bu-y-an Tê-mua.
(2) Hốt Kha Nhi, Nguyên sử, Thế tổ bản kỷ phiên âm là Hốt Kha Nhi. Tên Mông cổ là Qugar.

Sau khi Địa Lô trình bày xong, Thượng hoàng hỏi:

– Trước tình thế như vậy, chư khanh đừng tỵ hiềm gì, cứ phát biểu thực ý nghĩ của mình, để chúng ta cùng bàn kế giữ nước.

Yết Kiêu tâu:

– Qua tin tức này, thì thần thấy ba điều: một là Hốt Tất Liệt cương quyết phải đánh mình bằng bất cứ giá nào. Chủ ý đánh mình đã có từ lâu. Thượng hoàng đã nhận ra dã tâm đánh Chiêm của Hốt Tất Liệt là chuẩn bị đánh Đại việt, nên đã giúp Chiêm. Hai là Nguyên triều biết rất rõ tình hình nước ta. Ba là cuộc ra quân này của Nguyên được chuẩn bị rất chu đáo, kỹ lưỡng. Họ quyết đánh bằng được, chứ không phải như lần trước.

Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc nói lớn:

– Thiên Kình đại tướng quân luận đúng. Chúng ta có hai con đường đi. Một là chịu các điều kiện Nguyên đưa ra: cho họ mượn đường đánh Chiêm, cung đốn lương thảo cho họ. Hai là đem toàn lực ra đánh lại 50 vạn quân như hùm như hổ của họ.

Dã Tượng phát biểu:

– Nguyên đánh Chiêm chỉ với mục đích làm bàn đạp đánh mình bằng hai mũi: bắc và nam. Bởi đánh Chiêm không được, họ đành trực diện đánh mình. Họ xảo quyệt nói rằng ra quân vì Chiêm, không phải vì Đại Việt. Bây giờ mở cửa cho họ đem quân vào nước mình, thì không khác gì quỳ gối, bưng đất nước dâng cho họ.

Chiêu Quốc vương tiếp:

– Tình hình giữa ta với Nguyên bây giờ không phải như thời Nguyên phong. Thời Nguyên phong, đánh mình là thân vương Hốt Tất Liệt. Bấy giờ Mông cổ còn phải đối đầu với Tống, với Liêu. Bây giờ Nguyên bao gồm cả Mông cổ, cả Trung nguyên. Nguyên là một nước lớn chưa từng có. Lớn gấp 10, gấp 100 Tống. Không cần nói đâu xa, chỉ nhìn ngay trước mắt, bao gồm Trung nguyên, Tây tạng, Hồi cương, Bắc liêu, Tây hạ, Mông cổ. Lịch đại các triều Đinh, Lê, Lý dù mình mạnh, dù mình thắng, cuối cùng cũng phải quy phục nhận sắc phong, niên niên tu cống để được yên. Tại sao ta không chịu một vài điều kiện của họ để trăm họ yên vui. Với năm mươi vạn quân tràn vào nước mình, chúng tàn phá, chém giết, số người chết lên tới trăm vạn chứ không phải một vạn hay mười vạn. Dù mình có thắng, thì chúng lại kéo năm mươi vạn khác sang. Cuối cùng nước mình chỉ còn là bãi đất hoang. Ở đây có Trung Thành vương, Trung Nghĩa vương, từng cầm quân Mông cổ, xin cho biết ý kiến.

Trung Thành vương đưa mắt cho Ngột A Đa. Ngột A Đa nói:

– Đa tạ Chiêu Quốc vương đã tín nhiệm, hỏi ý kiến tôi. Vì tôi nói tiếng Việt không sõi, xin để vợ tôi nói thay.

Vương nói gần một khắc bằng tiếng Mông cổ với vương phi. Vương phi Thanh Nga dịch lại:

– Nếu chúng ta chịu cho Nguyên mượn đường đánh Chiêm thì coi như triều đại Đông a không còn nữa.

Cử tọa cùng bật lên tiếng ồ!

Chiêu Quốc vương than:

– Đâu đến nỗi. Bất quá họ đặt Tuyên phủ ty bên cạnh triều đình Việt là quá.

Ngột A Đa lại nói. Thanh Nga dịch tiếp:

– Tôi từng làm phó Tể tướng Mông cổ một thời gian. Tôi biết tất cả sách lược của họ. Tôi xin vì Đại việt mà nói. Có tất cả 125 nước chịu thần phục Mông cổ. Lúc đầu Mông cổ bắt chịu 6 điều kiện. Trong đó có điều phải nhận Đạt Lỗ Hoa Xích. Cái đoàn Đạt Lỗ Hoa Xích khởi thủy chỉ gồm mươi người, rồi dần dần tăng lên vài trăm người. Bất cứ việc gì của triều đình họ cũng xen vào. Họ bắt bẻ đủ thứ.

Cử tọa cùng gật đầu công nhận lời A Đa nói đúng.

– Đại việt đã bị Đạt Lỗ Hoa Xích gây đủ thứ rắc rối rồi phải không? Tiếp theo họ công khai tuyển người địa phương bổ nhiệm vào các cơ sở của họ. Những người này triều đình không được phép xử tội, dù chúng cướp của giết người. Đạt Lỗ Hoa Xích tổ chức các toán Thị vệ. Dần dần, họ nắm quyền cai trị. Bấy giờ triều đình Mông cổ mới triệu hồi Đạt Lỗ Hoa Xích về, giải tán sứ đoàn, thành lập Tuyên phủ ty. Người đứng đầu Tuyên phủ ty là Tuyên úy sứ, quyền hành như một ông vua, có toàn quyền cách chức, bổ nhiệm các Thượng thư, An phủ sứ, tướng cầm quân. Sau khi Tuyên phủ ty đã vững mạnh, triều đình Mông cổ truất phế vua chư hầu, phong cho con em làm vua, gửi sang cai trị. Xa đâu không nói làm gì. Gần đây: Đại lý bị xóa bỏ, thành một tỉnh Vân nam. Thổ phồn bị biến mất thành tỉnh Tây tạng. Cả hai nơi đều không còn triều đình nữa mà tất cả được cai trị bởi một thân vương Mông cổ là Tây tạng vương, Vân nam vương. Nếu mình chịu cho quân của Thoát Hoan vào nước. Việc đầu tiên họ truất phế vua mình, lập một thân vương Việt làm vua bù nhìn. Dần dần họ sẽ cử một thân vương Mông cổ sang làm An nam vương, với một hệ thống quan lại người Nguyên, người Mông cổ. Vì vậy tôi mới nói: triều đại anh hùng Đông a không còn nữa.

Ngột A Đa lại nói, Thanh Nga dịch lại:

– Đánh! Thà đánh bị thua mà chết còn hơn cúi đầu lệ thuộc. Lệ thuộc họ rồi đến tiếng nói cũng không còn. Đến cúng giỗ tổ tiên cũng không được. Trai tráng bị xung quân, đi đánh các nước phương xa.

Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư phát biểu:

– Thôi không bàn việc chiến hay hòa nữa. Phải đánh. Đánh thì hy vọng sống còn. Hàng thì không khác gì thắt cổ tự tử. Ta chỉ bàn việc phải đánh. Đánh như thế nào mà thôi.

Cử tọa đưa mắt nhìn Hưng Đạo vương.

Hưng Đạo vương phát biểu bằng giọng nhẹ nhàng:

– Ta không còn kéo dài thời gian được nữa. Ta không thể tu cống, nhún nhường nữa. Phải đánh thôi. Lần này ta chia làm ba giai đoạn.

Giai đoạn một, ta đánh mấy trận để chúng biết ta không hèn. Đánh cản đường tiến quân của chúng. Đánh xong ta rút lui, ẩn vào dân chúng, để cho địch tiến về Thăng long. Khi địch tiến, những đạo quân rút, lại trở về chỗ cũ. Làng xã, trang ấp vẫn của ta.

Giai đoạn hai, sau các trận đánh cản đường ta phải rút thực nhanh, tránh mũi nhọn của chúng. Đợi chúng vào sâu trong nước, bị lam chướng, bị muỗi mòng, bị khí hậu nóng bức làm cho người, ngựa mệt mỏi. Ta đánh tỉa, làm hao sức lực của chúng, hao quân số. Trong khi đó ta lại đánh chặn đường vận lương, khiến chúng phải trải rộng quân giữ an ninh trục lộ, ta dễ dàng tập trung quân đánh chúng.

Giai đoạn ba, khi thấy thời cơ chín mùi, ta chuyển sang thời kỳ phản công. Quét từng khu một.

Nhân Huệ vương tiếp:

– Dù ta lùi, nhưng lợi dụng sở đoản của chúng, sở trường của ta. Ta cần chủ động về Thủy quân, để di chuyển quân, để chặn đường tiếp vận bằng Thủy quân. Từng làng, từng xóm, lợi dụng địa thế lầy lội, sử dụng Ngưu binh, để giữ lương thảo. Tôi đề nghị như thế này.

Cử tọa im lặng. Nhân Huệ vương tiếp:

– Trong ba đường tiến quân của chúng. Ta cần chia quân thành những Vệ, đóng đồn. Đồn là những xóm có lũy tre, sách, mương, hào. Để chúng phải chia quân đánh mệt mỏi. Cái gương Phù lỗ, Cụ bản thời Nguyên phong còn đó. Tuy nhiên khi thấy đồn không giữ được, thì phải âm thầm rút sang xóm, ấp khác để bảo toàn lực lượng. Khi chúng vào làng, thì chỉ thấy vườn không nhà trống. Chúng sẽ bỏ đi. Ta lại trở về. Nếu chúng ở lại, mình quen địa thế, đêm đêm khuấy rối, không cho chúng yên.

Cử tọa cùng gật đầu tỏ ra đồng ý. Vương tiếp:

– Khi ba mũi của chúng bắt tay nhau tại Thăng long, ta dùng Thủy quân, chuyên chở, tập trung quân chặn các vùng chúng đã đi qua. Cắt toàn bộ đường vận lương của chúng. Thế bắt buộc chúng phải đem quân quay trở lại nhổ các chốt. Ta lại tập trung quân đuổi theo. Cứ như vậy, cái vòng lẩn quẩn khiến chúng mệt mỏi. Rồi chờ chúng sơ hở ta phản công.

Thượng hoàng hài lòng:

– Trẫm nhắc lại, Tiết chế, tổng lĩnh binh mã là Hưng Đạo vương. Hưng Đạo vương sẽ lưu động chỉ huy. Trẫm cử Nhân Huệ vương làm Phó Tiết chế, trấn thủ toàn bộ lãnh hải. Chiêu Văn vương trấn thủ Tây bắc cương. Hưng Ninh vương trấn thủ vùng Đông Bắc cương. Chiêu Quốc vương tổng trấn Thăng long. Tĩnh Quốc vương trấn thủ Nam thùy. Trước kia, công chúa Thủy Tiên phụ trách bảo vệ cung quyến. Bây giờ phò mã Phạm Ngũ Lão với hiệu Tả Thánh dực trấn tại biên giới Chi lăng, công chúa Thủy Tiên được điều lên phụ giúp phò mã. Việc chỉ huy đội nữ Thị vệ trao cho công chúa An Tư. Việc trấn thủ các sông ngòi, đánh phá không cho giặc vượt sông, chuyên chở trên sông cực kỳ quan trọng, vậy Thiên kình đại tướng quân Yết Kiêu trao hiệu Thiệu Hưng cho Quốc công Triệu Nhất. Thiên kình đại tướng quân trở lại tổng chỉ huy lực lượng Ngạc ngư. Trước kia thống lĩnh Ngưu binh là Dã Tượng. Khi Dã Tượng đi sứ thì trao cho Đô thống Lê Linh Anh. Từ ngày Quận chúa Lê Linh Anh tòng phu sang Cao Ly trẫm cử Ngưu vệ thượng tướng quân, Nam thiên bá Lý Long Đại, vợ là Quận chúa Cái Hồng Vũ Trang Hồng tạm quyền. Nay bổ nhiệm thực Tổng lĩnh.

Thượng hoàng hỏi:

– Có ai muốn góp ý gì không?

Khâm Từ hoàng hậu tâu:

– Phụ hoàng cử cô An Tư Tổng lĩnh đạo nữ Thị vệ, thần nhi e có điều đáng ngại!

– Con với An Tư, cô cháu như bóng với hình. Một bên là chúa hậu cung, một bên là Tổng lĩnh đạo binh nữ Thị vệ Mê linh, thì hợp nhau như tay phải, với tay trái. Có gì mà con ái ngại?

– Tâu về võ công thì hiện con với Thủy Tiên đều không thể sánh với cô An Tư. Về tài dùng binh thì cô An Tư không thua công chúa Thánh Thiên thời vua Trưng. Nhưng thần nhi ái ngại ba điều. Một là cô An Tư quá đẹp. Hồi cô ở Trường sa với chú Vũ Uy. Cô đã xuất hiện đấu lý với Thoát Hoan. Y bị thua. Tuy y thua, nhưng y đã thốt ra rằng cô An Tư là tiên nữ giáng trần. Bất cứ giá nào y cũng phải bắt bằng được. E kỳ này y sẽ dùng toàn lực phá đạo Mê linh, bắt cô An Tư. Hai là cô An Tư tuy tuổi còn nhỏ, nhưng vai vế ngang với phụ hoàng, tính khí quá cương cường. Trong hoàng cung, khó ai nói cho cô nghe. Thần nhi tuy là chúa hậu cung, nhưng không dám dùng quyền với cô. Ba là cô đã nhân Vạn Kiếp Tông bí truyền thư, chế ra một lối vận động chiến. Khi gặp giặc đuổi đến cùng, diệt cho tuyệt. Như vậy dễ bị thất bại.

Công chúa An Tư xua tay:

– Khâm Từ với cô tuy hai mà là một. Cô tuy là cô, nhưng vẫn là công chúa. Trong khi Khâm Từ là cháu dâu, nhưng là hoàng hậu. Cô phải tuân chỉ của Khâm Từ chứ! Có bao giờ cô dám lấn quyền Khâm Từ đâu?

Thượng hoàng quay lại nói với Thái hậu:

– Dễ! Dù An Tư cương cường đến đâu cũng phải chịu quản chế của hậu. Liệu hậu có bảo đảm rằng hậu quản chế được An Tư không?

Thái hậu mỉm cười:

– Phải công nhận là An Tư cương cường, nhưng từ xưa đến giờ An Tư luôn ngoan ngoãn với thiếp. Chị dâu em chồng chưa có gì bất đồng ý kiến. An Tư tuy có tài, nhưng cũng có đức. Cứ như trận đánh Đại giáp vừa rồi, An Tư là cô Quốc Toản, mà khi ra trận An Tư tuân lệnh Quốc Toản răm rắp.

Hưng Đạo vương mỉm cười nói với Khâm Từ hoàng hậu (là con gái ngài):

– Trong nhà mình từ xưa đến giờ các vị nữ lưu thường đa tài, đa năng, nhưng đức nhu thuận bao giờ cũng được giữ gìn. Cái gương lớn nhất là Linh Từ quốc mẫu, là vương phi Ý Ninh. Công chúa An Tư là đệ tử yêu của Vô Huyền bồ tát, thì bồ tát hạnh đâu có thiếu?

Được Hưng Đạo vương khen, công chúa An Tư đề nghị:

– Tâu Thượng hoàng, trong chư vị vương, hầu, tướng soái hôm nay đây. Có thể nhiều vị giữ ý không muốn phát biểu. Thần xin Thượng hoàng, phát cho mỗi vị một lá phiếu, trên có chữ “Hàng, Chiến”. Ai đề nghị chiến thì đánh dấu vào chữ “Chiến”. Ai đề nghị hàng thì đánh dấu vào chữ “Hàng”. Như vậy để biết rõ ý chí chư tướng.

Thượng hoàn tán đồng ý kiến. Phiếu được phát cho cử tọa. Người cao niên nhất là Trung Thành vương. Người nhỏ tuổi nhất là Hoài Nhân vương được cử ra kiểm phiếu.

Sau khi kiểm xong, Trung Thành vương công bố:

– Ý kiến cháu An Tư thực sáng suốt. Chúng ta có tất cả 242 người. Thì 72 phiếu hàng, 170 phiếu chiến. Tính ra 30 phần trăm hàng, 70 phần trăm chiến.

Nhân Huệ vương tỏ ra lo lắng:

– Hiện diện tại đây không là vương, hầu thì cũng là tướng soái. Mà cứ ba người thì có một người chủ hàng. Cuộc chống Thát đát này, chúng ta dựa vào dân, sống lẫn với dân. Ta cần lấy ý kiến dân. Đại diện cho dân là những hào mục, là những vị cao niên. Vậy thần xin Thượng hoàng cho mời tất cả các hào mục, cao niên tuổi trên 50 về Thăng long, đãi yến tại diện Diên hồng, rồi hỏi ý kiến xem họ muốn hòa hay chiến. Sau đó chúng ta mới có quyết định chính thức.

Thượng hoàng vui vẻ:

– Trẫm thuận đề nghị của Nhân Huệ vương.

Thái giám Kính sự hô:

– Buổi họp chấm dứt.

Thượng hoàng, Thái hậu, Hoàng đế, được công chúa An Tư chỉ huy đội nữ binh Mê linh hộ tống lên bờ. Thượng hoàng nhìn khí thế hiệu binh Hàm tử dàn ra cực kỳ uy nghi. Ngài khen:

– Hoài Văn hầu thực không hổ là con của Vũ Uy vương. Hiệu binh Hàm tử thế kia, thì bọn Thát đát bị đánh bại đã thấy trước rồi vậy.

oOo

Niên hiệu Thiệu Bảo thứ sáu đời vua Trần Nhân tông bên Đại việt.

Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 21 đời Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt (1284), tháng 11.

Trên toàn lãnh thổ Đại việt như muốn rung chuyển, vì những con ngựa trạm của triều đình phi như bay, đến từng xã, từng thôn truyền chiếu chỉ của triều đình đến các hào kiệt, đến các vị bô lão. Nội dung chiếu chỉ:

Trước thế nước chông chênh như trứng trồng trên đá. Đức vua mời về điện Diên hồng dự yến, đề thỉnh ý kiến: chiến hay hàng.

Mỗi xã, ấp, trang, động nhận được chiếu chỉ, thì các chức sắc như: Đại tư, Tiểu tư, Câu đương, Chánh ty, Học lễ, bàn luận với nhau, rồi sai mõ rao mời dân chúng đến đình làng họp.

Người Việt vốn có một nền dân chủ hạ tầng rất sớm. Nền dân chủ này phát xuất từ chế độ Lạc hầu, Lạc tướng vào thời vua Hùng. Dân chúng sống tập hợp thành từng làng, từng xã. Các gia tộc tổ chức thành xóm. Nhiêu xóm thành một làng, một xã. Đó là những khu đất cao. Xung quanh là cánh đồng, ao hồ. Họ tổ chức phòng thủ xã bằng những lũy tre dầy đặc bao quanh. Ngoài lũy tre là một con mương, con hào, hay con sách. Dưới mương đó họ đặt chông. Làng có từ một cổng tới bốn hay năm cổng. Tại mỗi cổng có một điếm canh. Điếm canh ngày đêm có tráng đinh canh gác thông ra đồng, hay những làng khác, bằng con đường.

Tổ chức cai trị làng thường do dân chúng họp nhau bầu lên, rồi do chính quyền ban hành văn kiện công nhận. Mỗi đời những chức sắc này có một tên khác nhau, quyền hạn khác nhau. Như triều Trần thì người lãnh đạo xã lớn có tên Đại tư, xã nhỏ có tên Tiểu tư (đến triều Nguyễn (1802-1945) thì là Lý trưởng). Phụ giúp Đại tư có một hay nhiều Phó tư (triều Nguyễn gọi là Phó lý). Chức dịch trong xã đời Trần có Đại tư, Phó tư, Câu đương, Chánh ty, Học lễ.

Ngoài ra nếu trong xã có những đại quan về hưu thì được tôn là Tiên chỉ, Thứ chỉ. Xã cũng bầu lên một số người đại diện, gọi là Hội đồng xã. Hội đồng sẽ họp, lập ra các “lệ”, một loại luật chỉ áp dụng trong xã. Nhiều khi lệ này trái với luật nước. Bởi vậy mới có câu: phép vua thua lệ làng.

Cạnh trụ sở xã có một ngôi nhà lớn, gọi là cái đình. Cái đình là nơi hội họp dân trong xã.

Mõ là một nhân vật đặc biệt, hưởng lương xã. Thường thì Mõ được cấp công điền cầy cấy, không phải nộp tô thuế. Mõ bị coi khinh. Con cháu ba đời không được đi thi, không được làm quan. Mõ để chức dịch sai mời, triệu hồi, thông báo đến dân làng. Khi có việc cần thông báo, chức dịch sai Mõ đi rao. Mõ cầm cái mõ, gõ ba tiếng lớn, đề gây chú ý, rồi cất tiếng rao:

– Trình làng, trình xã, trình quan viên nghe cho rõ…

Sau đó nói nội dung tin tức. Khi làng họp, ăn uống thì Mõ ngồi một cỗ.

Trong buổi họp, Học Lễ đứng lên trình bầy tình hình đất nước:

Trong 27 năm qua Mông cổ luôn sai sứ sang hoạnh họe, bắt ta phải chịu 6 điều kiện. Điều nặng nhất là họ bắt đích thân nhà vua sang chầu, phải nạp sổ đinh, sổ điền, phải chịu quân dịch, phải nhận Đạt lỗ hoa xích. Gần đây họ thay Đạt lỗ hoa xích bằng Tuyên phủ ty. Tuyên phủ ty là một cơ quan cai trị. Cơ quan này như một phủ Thái thú. Rồi ít lâu sau, Nguyên sẽ phong cho một thân vương sang làm vua Đại việt. Triều đình cương quyết không thuận. Nguyên đem 50 vạn quân sang đánh. Triều đình hỏi ý kiến dân:

– Chịu điều kiện của Nguyên, để được yên. Không chịu nạn binh lửa?

– Hay cương quyết chống giặc.

Chúng ta sẽ quyết định, rồi cử các bô lão về Thăng long, dự yến ở điện Diên hồng. Các bô lão sẽ phát biểu ý HÀNG hay CHIẾN. Triều đình theo đó mà hành động.

Thế rồi làng, xã, động, trang cử các bô lão lên đường về Thăng long. Có người đi bộ, có người đi thuyền, có người đi ngựa, có người đi voi. Lại có người cao niên, phải dùng cáng.

Triều đình cử Phụ quốc thái úy Chiêu Minh vương Trần Quang Khải phụ trách tổ chức, tiếp đón các đại biểu. Vương ủy cho Nghĩa hòa hầu Đại Lực, nguyên là Tổng thái giám thời đức Thái tông điều khiển Ngự trù làm tiệc. Hầu về hưu đã lâu, nhưng nay quốc gia có sự, hầu từ quê về Thăng long chủ trì việc làm tiệc. Thời Trần là thời mà giữa triều đình với dân chúng có sự tương thông rất cao, nên dân chúng đem thổ sản về góp với triều đình để thiết đãi các bô lão.

Trước hết là dân chúng tổng An biên, ấp phong của Đông hải Thiên kình đại tướng quân, Nam phương hùng uy, công thần, An biên đình hầu Yết Kiêu, gửi về hai con thuyền lớn chất đầy cua bấy (lột). Cua này dân chúng nuôi nên to lớn dị thường. Con lớn bằng cái nồi ba, con nhỏ bằng hai nắm tay vụm lại.

Thứ nhì, dân đảo Trường sa, ấp phong của Trường sa nam Võ Văn Sáu, thống lĩnh hạm đội Bạch đằng, gửi về 5 thuyền lớn cá ngừ; một trăm lồng, mỗi lồng 50 con chim hải âu mới ra ràng.

Thứ ba, dân chúng Côi sơn, ấp phong của Côi sơn hầu Nguyễn Đại Hành. Hầu tuy ở xa vạn dặm, nhưng phu nhân Võ Cẩm Nhãn cũng hô hào dân chúng gửi về 100 con dê núi.

Ba châu Văn sơn, Khâu bắc, Chiêu dương ấp phong của Địa Lô, Dã Tượng, Cao Mang gửi về hằng chục xe chở gà rừng, chim bồ câu, nấm tía.

Khắp các phủ, huyện, trấn, những người có tài nấu nướng đều tình nguyện về giúp triều đình.

Việc đón tiếp trao cho công chúa An Tư với đội nữ Thị vệ Mê linh. Việc giữ an ninh Thăng long trao cho Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu với đội Thiết đột Hàm Tử.

Đúng giờ Thìn. Trong điện Diên hồng, các bô lão đã tề tựu đầy đủ. Một đài cao, trên bầy bàn thờ Quốc tổ, liệt vị anh hùng các triều đại. Hai bên bàn thờ có hai giá vũ khí, cùng 12 thiếu nhi, khoanh tay đứng hầu. Khói từ đỉnh hương bốc lên nghi ngút.

Một hồi chiêng trống.

Lễ bộ thượng thư hô:

– Chiêu Minh vương, lĩnh Phụ quốc thái úy giá lâm.

Cử tọa đứng dậy.

Chiêu Minh vương Trần Quang Khải từ trong đi ra. Vương đứng trên đài thấp hơn bàn thờ, đáp lễ các bô lão. Vương vận nội lực nói lớn:

– Thưa các vị bô lão. Hôm nay là ngày khai hội. Chúng ta đang ở vào giữa giờ linh của tộc Việt. Chúng tôi xin loan báo:

“Khai hội”.

Ba hồi chiêng trống vang lừng.

Lễ bộ Thượng thư hô:

– Thượng hoàng, hoàng đế Thiệu Bảo giá lâm. Chư vị không phải quỳ gối, ngược lại được nhìn thẳng để thấy phong quang hai vua.

Thượng hoàng, Hoàng đế từ trong đi ra. Lễ bộ thượng thư nghinh tiếp hai vị lên đài. Trong điện có tới hơn 5 nghìn người mà không một tiếng động.

Chiêu Minh vương hô:

– Kính thỉnh Thượng hoàng, hoàng đế cùng các bô lão quỳ gối lễ Quốc tổ cùng liệt vị anh hùng dân tộc.

Hai vua đến trước bàn thờ thắp hương, quỳ gối lễ tám lễ. Rồi về ghế ngồi. Các bô lão cũng lễ tám lễ.

Ba hồi chiêng trống, nhạc cử bản Bát nhã. Nhạc dứt, Thượng hoàng bước ra hướng cử tọa:

– Các vị bô lão,

Chư vị hào kiệt.

Chư vị là những người ông, cha của dân chúng. Các vị với quả nhân cùng là con cháu vua Hùng, vua Trưng. Từ mấy nghìn năm nay, tộc Việt ta đỉnh lập nam phương, kiến tạo một nước có văn hiến, có tổ chức. Tiếng nói, phong tục so với bắc phương có khác. Gần đây, bọn rợ Thát đát đánh chiếm Trung nguyên, vẫn chưa cho là đủ, chúng muốn chiếm Đại việt ta. Trong 28 năm qua, chúng không ngớt gửi sứ sang yêu sách 6 điều:

Một là đích thân quốc vương phải vào chầu,
Hai là đem trưởng nam làm con tin,
Ba là kê biên dân số,
Bốn là phải chịu quân dịch,
Năm là phải nộp thuế, lương thảo.
Sáu là nhận Đạt lỗ hoa xích (Đa gu ra tri).

Triều đình nín nhịn, sai sứ từ chối. Tuy nhiên cũng phải gửi người sang làm con tin, chịu nhận Đạt lỗ hoa xích. Bọn Đạt lỗ hoa xích luôn hoạnh họe triều đình bắt phải thế này, thế nọ để đòi mỹ nữ, đòi vàng ngọc. Gần đây, chúng giải tán Đạt lỗ hoa xích, thành lập Tuyên phủ ty. Cái gọi là Tuyên phủ ty giống như phủ Thái thú. Chúng công khai tuyển bọn đầu trộm đuôi cướp làm Thị vệ, đi lại khắp nước, đòi bổ nhiệm bọn đầu trâu mặt ngựa làm quan chức. Triều đình phải nín nhịn cho qua. Thế nhưng chúng chưa thỏa lòng, mới đây chúa Nguyên phong cho con làm Trấn Nam vương, lập An nam hành tỉnh tại Kinh hồ, bắt ta phải chịu cho chúng đô hộ, bằng không chúng quyết đem 50 vạn quân sang làm cỏ nước Việt.

Ngài ngừng lại một lát rồi tiếp:

Bản triều lấy dân làm gốc, vì vậy quả nhân mời các vị về đây đẻ hỏi ý kiến: CHIẾN hay HÀNG?

Lập tức cả điện cùng vang lên:

– Chiến! Quyết chiến!

Chiêu Minh vương hỏi:

– Có ai muốn hàng không?

Cả điện im lặng, không một tiếng động.

Chiêu Minh vương hỏi lại:

– Chiến hay Hàng?

– Chiến! Chiến!

Một lão bà, lưng còng, chống gậy xin nói.

Chiêu Minh vương sai nữ Thị vệ mời bà lên đài. Bà thở hổn hển:

– Tâu Thượng hoàng, thần là Vũ Thị The, từng đánh nhau với Thát đát tại Phù lỗ, thời Nguyên Phong. Thần xin có lời tâu.

Thượng hoàng vui vẻ:

– Quả nhân xin nghe lời lão bà.

– Tất cả chúng thần đều quyết chiến. Sau khi rời đây trở về làng xã, chúng thần sẽ họp con cháu, giảng giải cho chúng biết tại sao phải chiến. Nhưng triều đình định kế sách ra sao? Dân chúng phải làm gì?

Thượng hoàng tuyên chỉ:

– Trẫm để Hưng Đạo vương dặn dò các vị.

Hưng Đạo vương lên đài:

– Các vị bô lão! Khi rời đây các vị trở về làng phải thực hiện 10 điều. Khu mật viện sẽ phát cho mỗi vị một tập sách nhỏ ghi chú 10 điều này. Xin các vị nghe cho rõ. Có chỗ nào không hiểu thì hỏi lại.

Hội trường im phăng phắc.

– Điều thứ nhất: về tới làng, các vị họp cả làng bất kể già, trẻ, gái trai, tăng tục. Các vị giảng giải cái thế nguy của giang sơn cho mọi người hiểu tại sao phải đánh.

Hội trường cùng vỗ tay hoan hô.

– Điều thứ nhì: các vị giảng giải cho con cháu biết: đánh giặc là nhiệm vụ chung của con dân Đại việt, chứ không phải triều đình. Già đánh, trẻ đánh, trai dánh, gái đánh, tăng đánh, tục đánh.

– Điều thứ ba: mỗi làng, mỗi xã, mỗi xóm là một thành. Già, trẻ, nam nữ cùng nhau thủ thành. Nếu thế giặc mạnh quá, ta quen địa thế, rút sang làng khác. Đợi giặc đi, ta lại trở về.

– Điều thứ tư: cần cất giấu lương thực. Không bán lương thực cho giặc. Không để giặc cướp lương. Nếu giặc tràn đến, không kịp chuyên chở lương thực đi nơi khác thì hủy đi.

– Điều thứ năm: triều đình sẽ cử người đến từng xã ấp huấn luyện dân chúng phương pháp trấn thủ làng. Phương pháp chế vũ khí, cung tên. Phương pháp tác chiến, thế công, thế thủ.

– Điều thứ sáu: tùy vị trí làng xã, triều đình sẽ cử quân đến cùng dân thiết lập đồn lũy sát cánh chiến đấu.

– Điều thứ bẩy: mỗi châu, mỗi phủ, mỗi huyện sẽ thông báo tin tức đến từng xã, từng ấp. Mỗi vùng có một hiệu binh đồn trú. Tướng chỉ huy hiệu binh là người chịu trách nhiệm an ninh lãnh thổ của mình. Khi làng, xã bị đánh thì tướng chỉ huy sẽ cứu ứng.

– Điều thứ tám: lương thảo của toàn quân không chứa thành kho, mà chia ra; trao cho làng xã cất giữ. Khi các hiệu binh bị tổn thất, các tướng hoặc Tuyên vũ sứ, An phủ sứ toàn quyền tuyển dân binh thay thế. Các tướng, các Tuyên vũ sứ, An phủ sứ toàn quyền ban lệnh cho các Đại tư lấy lương thảo cho quân.

– Điều thứ chín: lỡ ra một trấn, một phủ, một huyện bị giặc chiếm. Các Tuyên vũ sứ, An phủ sứ bị bắt hay hàng giặc, lập tức các Đại tư không tuân lệnh trưng quân, trưng lương của các Tuyên vũ sứ, An vũ sứ đó nữa.

Điều thứ mười: làng nào, xã nào, trang nào, động nào hàng giặc thì các làng, xã, trang, động xung quanh phải cô lập bọn hèn nhát đó. Sau khi đuổi giặc rồi, thì những làng, xã hàng giặc sẽ bị trừng phạt: Không được ứng thi, không được làm quan. Trai không được lấy vợ làng khác, gái không được lấy chồng có chức tước. Toàn thể phải nộp thuế gấp đôi làng khác. Kẻ chủ xướng bị chém đầu. Các chức sắc như Tiên, Thứ chỉ, Đại tư, Chánh ty, Câu đương, Học lễ bị tội chặt một chân.

Tiệc bắt đầu. Trên từ Thượng hoàng, Thái hậu, hoàng đế, hoàng hậu, phi tần, công chúa, hoàng thân chia nhau mỗi cỗ một người cùng ăn uống, cùng trao đổi chuyện trò với bô lão.

Tiệc tàn, Thượng hoàng cùng Hoàng đế cùng tiễn các bô lão ra tận cổng thành.

Thế rồi tòa Tổng Tiết chế ban hành lệnh cho các hiệu quân, các hạm đội, phụ trách vùng trấn đóng của mình:

– Phân chia các cấp chỉ huy đến từng xã, từng ấp giúp dân chúng lập hành rào, vét hào, đặt chông, chế vũ khí, cung tên.

– Huấn luyện dân chúng cách tác chiến, tấn công, giữ ấp, rút lui. Nhất là tổ chức dân chúng thành từng Ngũ (5 người), Lượng (20 người), Đô (80 người), cử người chỉ huy.

Cả nước bừng bừng khí sắc chống giặc giữ nước.

Hưng Đạo vương ban hành bài Hịch tướng sĩ, in ra thực nhiều bản, gửi tới cấp đô. Có các thầy đồ tới từng đô giảng giải ý nghĩa bài hịch cho binh sĩ hiểu.

(Bài hịch này có nhiều bản dịch, tôi xin lấy bản dịch của Văn tuyển. Xem nguyên văn, chú giải cuối hồi này).

(Còn tiếp Hồi 102)

Share this post