Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 103 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 103 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM LẺ BA
Võ kinh Thuần Chính Thập Nhị Thủ
(Tiếp theo)

Ngày 23 tháng chạp, năm Giáp thân (29-1-1285) niên hiệu Thiệu Bảo thứ sáu đời vua Trần Nhân tông bên Đại Việt.

Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 21 đời Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt.

Tại Tổng hành doanh Nguyên.

Sau khi hội họp chư tướng, ban lệnh hành quân ngày hôm sau, Thoát Hoan trở về lều của vương phi Ngọc Trí. Thấy vương phi còn thức, y hỏi:

– Phi chưa ngủ ư?

– Thái tử với em viễn chinh, phải xa hai con, em thấy khó chịu vô cùng. Nhớ chúng quá.

– Chúng là con của mình, nhưng là cháu của phụ hoàng, mẫu hậu. Tục ngữ có câu: con là thịt, là xương, cháu là tâm là can. Chúng mình thương chúng một thì ông bà thương chúng 10. Nếu chúng mình mang chúng đi, chinh chiến gian nan vất vả, sơn khê lam chướng chắc gì chúng hạnh phúc. Chúng ở Đại đô được ông bà yêu thương, chúng hạnh phúc hơn nhiều.

– Nhưng là mẹ, em nhớ chúng quá.

– Nàng chờ đi! Chúng ta sắp vào Thăng long rồi. Phi sẽ được về quê thăm phụ mẫu, làng xóm. Quê phi ở đâu nhỉ?

– Ở ngay giữa Thăng long, làng Thụy khuê.

– Thăng long có đẹp bằng Đại đô không?

– Thăng long không lớn, không rộng bằng Đại đô, nhưng là nơi em sinh ra, lớn lên. Nên cái gì cũng thiêng liêng, cao quý cả.

– Ta báo cho phi biết, khi chiếm xong Đại Việt, ta ban sắc chỉ phong cho tên thân vương quy phục triều đình làm An Nam quốc vương, đặt Tuyên phủ ty, cắt cử quan cai trị rồi về Đại đô. Phụ hoàng lớn tuổi quá, không biết băng hà lúc nào. Ta cần hiện diện cạnh người. Hiện hầu hết tướng sĩ, các đạo quân đều nằm trong tay ta. Phụ hoàng băng, đương nhiên ta lên ngôi. Nàng sẽ là Hoàng hậu. Con của ta thành Thái tử!

– Vương gia nói như dễ lắm vậy! Còn Thái tử Chân Kim kia, còn triều đình nữa chứ!

– Binh quyền trong tay ta, hỏi ai dám chống lại việc ta lên ngôi vua? À, ta sắp phải nhờ đến phi đây?

– Việc gì vậy?

– Nội ngày mai, ta sẽ vượt qua bốn ải địa đầu, tiến về vòng đai phòng thủ thứ nhì. Tướng chỉ huy vòng đai này với phi vốn quen biết. Ta nhờ phi thuyết phục y hàng.

– Y là ai vậy?

– Trần Quốc Kinh.

– À thì ra Dã Tượng. Vợ Dã Tượng là Thúy Hồng. Thúy Hồng với em học cùng trường Đông hoa. Thúy Hồng là sư tỷ của em đấy. Không chắc y đầu hàng đâu! Nhưng em sẽ cố gắng làm! Anh có biết hôm nay là ngày gì không?

– Anh không chú ý.

– Hôm nay là ngày 23 tháng Chạp là ngày dân Hán, Việt tiễn ông Táo về chầu trời.

– Em có cúng ông ấy không?

– Có chứ!

– Táo là người Hán hay người Việt?

– Ở đây là đất Việt thì dĩ nhiên ông Táo là người Việt. Theo anh thì người Hán, người Việt, người gì giỏi?

– Dòng nào, giống nào cũng có người khôn, người ngây. Nhưng con gái Việt đẹp hơn con gái Hán. Bằng cớ là mấy cô gái Việt được sủng ái tại triều đình.

Nói rồi y tính:

– Nguyên phi Bạch Hoa này. Em là hai này. Ngọc Kỳ là phi của Chân Kim là ba này. Ngọc Quốc là phu nhân của Lý Hằng là bốn này. Ngọc Cách là phu nhân của Đường Ngột Đải (Tang’utai) là năm này.

Ngọc Trí cười:

– Công chúa An Tư là người Trấn Nam vương ngày mơ đêm tưởng là sáu này.

Bị vợ trêu, Thoát Hoan đánh trống lảng:

– Hiện phía An nam có nhiều nữ tướng trí dũng hơn nam nhi. Em có nghe biết không?

Ngọc Trí giả ngây:

– Em chỉ ở trong cung phục thị anh thì làm sao mà biết được?

– Lý Hằng cho biết, An nam hiện có vương phi Vũ Uy vương là đệ nhất kiếm thuật danh gia, tài trí hơn cả vương. Cũng may vương với phi hiện lĩnh tước vương của triều đình, trấn nhậm miền Tây cho Nguyên. Thứ đến công chúa Thủy Tiên, phu nhân của Bình nam đại tướng quân Phạm Ngũ Lão. Công chúa trấn thủ ải Khả lan vi. Trí dũng như như Bột la Cáp đáp nhĩ mà hôm qua đem quân đánh Khả lan vi, suýt bỏ mạng. Thứ ba là Lý Thúy Hồng, phu nhân của Dã Tượng, nhan sắc, ca múa không thua gì Nguyên phi Bạch Liên, mà võ công, tài trí kinh nhân. Đệ nhất dũng sĩ Mông cổ là Ô Mã Nhi bị bại về tay phu nhân trong trận đánh Thảo trường. Thứ tư là Khâm Từ hoàng hậu, từ võ công đến tài dùng binh, không thua công chúa Thủy Tiên.

Ngọc Trí tiếp:

– Thứ năm là công chúa An Tư, kiếm thuật thần thông, tài dùng binh như Tôn-Ngô. Nhan sắc khuynh quốc. Hiện thống lĩnh hiệu nữ Thị vệ! Còn ai không?

– Nhiều lắm: lớp già có ba vị sư thái Vô Sắc, Vô Ảnh, Vô Huyền. Phu nhân của Quốc công Tạ Quốc Ninh, từng đả bại đệ nhất kiếm thuật Tây hạ là chánh phi của Ngột Lương Hợp Thai. Còn Thanh Nga, vương phi của Phó tể tướng Ngột A Đa! Thúy Nga, vương phi của Tể tướng A Lan Đáp Nhi. Nhất là 10 nữ tướng trâu, từng làm cho kị binh Mông cổ phiêu hồn, bạt vía. Lớp trẻ có Trần Đại Như Vân, phu nhân của Trấn bắc đại tướng quân Hoài Văn hầu. Hôm qua đã xuất trận cạnh công chúa Thủy Tiên. Ngoài ra anh nghe nói vương phi của Hoài Nhân vương là công chúa Chiêm Nang Tiên đang sát cánh cùng chồng trấn ngự một vùng.

Sau trận đầu, 4 vạn phu Nguyên bị tổn thất không nhiều, nhưng binh sĩ bị thương, kiệt sức. A Lý Hải Nha điều 4 vạn phu ấy về Ung châu bổ xung, tái tổ chức, điều trị thương binh. Y điều 4 vạn phu khỏe mạnh, tinh nhuệ khác thay thế.

Trời tảng sáng, Bột lan Cáp giáp nhĩ xuất vạn phu bộ binh, năm thiên phu kị binh tới trước ải Khả lan vi dàn ra. Y cảm thấy không khí có cái gì khác lạ: cổng chiến lũy không cờ, trên đài cao chỉ huy không một bóng người. Y ra lệnh cho một bách phu kị binh tới trước cổng ải: trong ải im lìm. Sợ có phục binh, y dàn quân trước lớp thứ nhất chiến lũy. Trong lũy không một tiếng động, không một bóng người. Y chưa quyết định gì thì có phi mã của Thoát Hoan báo:

Ba chiến lũy Đại trợ, Khâu ôn, Khâu cấp, đều không thấy bóng quân trú phòng. Hãy dàn quân bên ngoài quan sát. Nếu vẫn không thấy trong lũy động tĩnh thì sai người gọi mở cổng. Nếu vẫn không thấy động tĩnh thì phá cổng tiến vào.

Bột lan Cáp đáp nhĩ sai người tới gọi cổng. Cổng mở ra. Trong cổng có 4 người, y phục chỉnh tề. Một người tự giới thiệu là bang trưởng bang Khả lan vi. Một người nữa là Quản quân phụng ngự. Người thứ ba là Nghi bang sứ. Người thứ tư là Hợp chính bang.

* Ghi chú:
Bang trưởng: chức vụ do dân bầu, tương đương với miền xuôi là Đại tư.
Quản quân phụng ngự: tương đương với Câu đương ở miền xuôi.
Nghi bang sứ, coi về tôn giáo của bang.
Hợp chính bang: coi về thuế vụ, xã hội, thương binh.

Bốn người cúi rạp mình xuống. Bang trưởng nói:

– Thưa đại tướng quân. Sau trận đánh hôm qua, binh tướng triều đình bị chết, bị thương nhiều quá. Đêm binh sĩ bỏ trốn gần hết. Nữ tướng trấn thủ cùng một số binh lính bỏ chạy hết rồi. Chúng tôi xin theo về thiên triều. Mời tướng quân vào.

Bột lan Cáp đáp nhĩ không tin vào tai mình, nhưng y vẫn ra lệnh cho kị binh tiến vào ải. Bộ binh tiến sau. Bốn người lãnh đạo bang mời tướng sĩ tới sân của nhà hội. Trong nhà hội, xác của quân Nguyên chết để lại hôm trước được xếp ngay. Bột lan Cáp đáp nhĩ sai Tế tác lục khắp ải, không còn bóng quân Việt. Y yên tâm. Sai phi mã báo cho Thoát Hoan.

Một lát Thoát Hoan tới. Tình trạng ba ải kia cũng tương tự. Y ra lệnh chôn xác tử sĩ, rồi quyết định giữ nguyên các chức sắc trong bang. Y hỏi:

– Bang trưởng! Khi ta có lệnh, bang trưởng phải cung cấp lương cho quân ta, cung cấp cỏ cho kị binh của ta. Liệu bang trưởng có chu toàn được không?

Bang trưởng sợ sệt:

– Bang chúng tôi không có nhiều ruộng, chỉ có ít đồi núi, thung lũng. Lúa gạo chỉ tạm đủ nuôi dân trong bang. Bang luôn thiếu gạo ăn, phải về miền xuôi đong. Lương thực tích trữ chỉ có ít khoai, sắn khô với ngô mà thôi. Tuy nhiên dân trong bang có thể cung cấp cỏ cho kị binh.

Thoát Hoan ban lệnh cho Bột lan Cáp đáp nhĩ:

– Bang đã theo gió quy phục! Cấm tuyệt không cho binh sĩ cướp bóc, hãm hiếp. Binh sĩ cướp của, giết người; hãm hiếp thì từ thập phu đến thiên phu bị cách chức. Phạm nhân bị xứ tử.

A Lý Hải Nha ra lệnh cho Bột lan Cáp đáp nhĩ, Khiếp tiết Tán lược nhi, Lý Bang Hiến đem kị binh đi trước, bộ binh đi sau tiến về Chi lăng.

Thoát Hoan, A Lý Hải Nha, Lý Hằng cùng bộ tham mưu thủng thỉnh tiến sau. Lý Hằng trình bầy:

– Chi lăng là vùng đất hiểm. Tống từng hai lần đem quân đánh An nam. Các tướng Tống bị đánh bại, bị giết tại đây mấy phen. Xin vương gia tiểu tâm.

Thoát Hoan từng nghe nói về địa danh Chi lăng. Y cảm thấy lạnh lưng, ơn ớn da gà nổi lên. Đang đi thì có ngựa lưu tinh phi từ sau tới. Kị mã là viên Thái giám hầu cận vương phi Ngọc Trí. Viên Thái giám trình:

– Khải vương gia, vương phi đang ở Đại trợ. Vương phi thỉnh vương gia trở lại ngay!

– Cái gì?

– Tướng quân A Thâm tiến quân vào ải Đại trợ. Tuy các chức sắc dàn ra đón xin quy phục. Nhưng nhớ cái thù bị đánh hôm qua. Tướng quân hạ lệnh cho binh sĩ đốt hết nhà, giết tất cả dân chúng bất kể già trẻ. Chém hai Quản quân phụng ngự họ Đỗ. Y cho binh sĩ bắt phụ nữ hiếp thỏa thích. Hiếp xong quẳng vào những ngôi nhà đang cháy. Đúng lúc đó xa giá vương phi tới. Vương phi ban chỉ bắt A Thâm lệnh cho binh sĩ ngừng giết người, đốt nhà. Nhưng A Thâm không tuân.

Thoát Hoan, A Lý Hải Nha cùng quay ngựa trở lại. Từ xa xa, Đại trợ khói bốc lên đen kịt bầu trời. Khi hai người vào trong cổng thì một cảnh kinh hoàng bầy ra trước mặt: xác người nằm rải rác khắp nơi. Cái thì bị chặt một chân, cái thì bị chặt một tay, nạn nhân lăn lộn kêu khóc. Lại có hơn chục lính Nguyên đang hiếp những thiếu nữ, miệng cười ha hả tỏ vẻ khoái trí. Trên một bãi đất, ước khoảng 3 nghìn người gồm đủ trai, gái, già, trẻ ngồi thành hàng. Xung quanh là lính Nguyên tay lăm lăm vũ khí. Vương phi Ngọc Trí, phu nhân Ngọc Quốc đứng trước đám người khốn nạn như che chở cho họ. Mấy toán lính Nguyên tiếp tục lùa người đem tới.

Thoát Hoan ban chỉ thổi tù và thu quân. Lính Nguyên khắp bản từ từ tập trung lại. A Lý Hải Nha hỏi A Thâm:

– Chiêu thảo sứ! Tại sao người lại hành sự như thế này?

A Thâm lạnh lùng:

– Thưa quân sư, tiểu nhân chỉ thi hành quân lệnh từ đời đức Thái tổ để lại mà thôi. Đức Thái tổ từng có quân luật: “Khi đánh vùng nào, thành nào mà quân, dân đầu hàng thì tuyệt đối không được chém giết, đốt nhà, hãm hiếp, cướp bóc. Còn như chúng chống trả thì phải giết tuyệt, đốt sạch. Đàn bà con gái, cho hiếp tùy thích, hiếp xong thì giết. Hồi Thái sư Ngột Lương Hợp Thai vào Thăng long từng thi hành luật này. Lại nữa khi quân sư đánh Tống, từng giết sạch dân Đàm châu, chôn sống toàn thể một thành ở Tĩnh giang mà!

Y chỉ vào đám dân bị tập trung:

– Huống hồ bọn này hôm qua từng cùng quân Man Việt, giết không biết bao nhiêu binh sĩ của tiểu nhân. Tiểu nhân phải làm cỏ khu này, để các nơi khác coi đó làm gương.

A Lý Hải Nha chỉ Ngọc Trí:

– Tai sao vương phi đã ngăn chặn, mà người không tuân?

– Tiểu nhân là thuộc hạ của vương gia. Tiểu nhân không cần biết đến vương phi!

Ngọc Trí mắng:

– Hôm qua, dân ở đây chống lại ta. Nếu hôm qua Chiêu thảo sứ vào được ải thì chém giết là đúng luật của Thái tổ. Còn sáng nay, họ mở cổng đón sứ vào, mà sứ vẫn tàn sát thì không thể tha thứ được. Rồi đây khắp nước An Nam sẽ không làng, xã nào dám đầu hàng nữa.

Thoát Hoan tuyên án:

– Ân xá cho tất cả dân Đại trợ. Còn A Thâm, cách chức Chiêu thảo sứ, giáng xuống làm thập phu trưởng, đi tiên phong trong vạn phu đánh Chi lăng.

Ngọc Trí nói với đám dân khốn nạn bằng tiếng Việt:

– Các người thoát chết rồi. Hãy lo chôn cất người bị nạn, dựng lại nhà bị cháy.

Thoát Hoan, A Lý Hải Nha, Lý Hằng, Ngọc Trí lên đường đi Chi lăng. Từ xa xa, nhìn chiến lũy Chi lăng dài theo chân núi rất kiên cố. A Lý Hải Nha than:

– Tên Dã Tượng không chỉ là tướng có thể lực phi thường, mà còn có tài đại tướng.

Bột lan Cáp đáp nhĩ, Khiếp tiết Tán lược nhi, Lý Băng Hiến đến trình:

– Đã dàn quân bao vây chiến lũy. Chiến lũy có 10 lớp rất kiên cố. Chờ chỉ dụ của vương gia.

Thoát Hoan vào căn lều lớn mới dựng lên. Xung quanh Thị vệ canh phòng nghiêm mật. Y bàn luận hơn giờ với Ngọc Quốc, Ngoc Trí rồi ban chỉ:

– Vương phi làm chánh sứ, phu nhân Lý Tham tri làm phó sứ. Đem theo 2 Thái giám, 10 Thị vệ. Nghi vệ là một xe bốn ngựa. Nhớ thuyết với Dã Tượng rằng: “Quân hầu xuất mã lập biết bao nhiêu công trạng cho Tống, mà chỉ được tước hầu nhỏ bằng hạt vừng, hạt đậu. Bây giờ quân hầu hàng Nguyên sẽ được phong tước Quốc công. Còn như quân hầu cố chấp, thì liệu với hai hiệu binh, hơn 2 vạn người, quân hầu có giữ được chiến lũy Chi lăng; khi bị hơn chục vạn quân Nguyên, mạnh như thác đổ, như băng tan không? Liệu có bảo trọng được thân thể không? Chết như thế là chết ngu. Là ngu trung.

Đoàn nghi vệ rời trại Nguyên hướng chiến lũy Chi lăng. Khi còn cách cổng chiến lũy hơn trăm trượng, thì có ba tiếng chiêng vang lên, rồi trong chiến lũy bắn vọt lên cao ba Lôi tiễn. Lôi tiễn nổ rung chuyển rừng núi, tỏa ra ba trái cầu lửa trên không trung. Cánh cổng chiến lũy mở ra: bên trong, một đội nữ dân quân, lưng đeo mã tấu, dàn ra hai bên. Tiếp theo, một đội Ngưu binh, do mười thiếu nữ đứng cạnh. Một đội nhã nhạc với 30 nam nữ nhạc công đang tấu nhạc. Ngọc Trí nhận ra đó là bản nhạc ca tụng chiến thắng Chi lăng. Dã Tượng, Thúy Hồng trong quân phục tươi cười ra đón. Một nữ lễ quân hô:

Thiên tượng đại tướng quân,
Nam phương uy dũng công thần.
Khâu Bắc đình hầu
Nam phương, đại từ, thạc hòa huyền quân.
Vũ uy, quang minh công chúa
Kính cẩn bái kiến Thiên sứ vương phi Trấn Nam vương và phó sứ phu nhân Lý Tham tri.

Ngọc Trí, Ngọc Quốc xuống xe. Đám thị vệ và thái giám được mời vào một căn lều. Lễ quân nói:

– Hôm nay là ngày tiễn ông Táo về trời, Vũ uy công chúa kính mời quý vị dùng mấy món thổ sản nam phương lấy thảo.

Nữ binh bưng ra: bánh chưng, bánh dầy dò, xôi, gà luộc, cùng một mâm trái cây. Lại có cả rượu chuối, rượu tăm Thiên trường.

Ban nhạc lại tấu một bản cực kỳ hùng tráng. Vốn là đấng tài hoa về âm nhạc, Ngọc Trí hỏi:

– Chị ơi! Bản nhạc này tên gì mà em chưa từng nghe qua?

Thúy Hồng cười:

– Đó là một trong 10 bản nhạc Sát đát thập ca. Bản này là bản thứ 3 mang tên Ngưu binh đại chiến Phù lỗ, ca tụng Ngưu binh đuổi Kị binh Mông cổ trong trận Phù lỗ!

– Ai là tác giả vậy?

– Đó là một đại tướng cầm quân tên Trần Bình Trọng.

– À em có nghe Thoát Hoan nói: tên gian vương cung cấp tin tức có báo cáo về Trần Bình Trọng.

– Y cung cấp thế nào?

– Trần Bình Trọng không phải con cháu họ Trần, mà là giòng dõi vua Lê Đại Hành. Đây là một mỹ nam tử, cầm, kỳ, thi, họa đều nức tiếng. Tài dùng binh không thua Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Võ công không thua Hoài văn hầu Trần Quốc Toản. Hiện giữ chức Quang nghĩa thượng tướng quân, thống lĩnh hiệu binh Thiên thánh tước Hải lộ hầu, trấn thủ vùng Đa mạc, yết hầu của Thiên trường.

Vào trong lều, chỉ có Dã Tượng, Thúy Hồng, Ngọc Quốc, Ngọc Trí. Thúy Hồng hỏi:

– Tin tức hai em gửi về chỉ có mình anh Địa Lô nhận, rồi trình cho Hưng Đạo vương. Tin quan trọng nhất là: Quân Nguyên không đánh thành, giữ đất mà thẳng tiến về Thăng long bắt triều đình. Hưng Đạo vương nhân đó lệnh cho các đồn ải chỉ đánh cầm chừng, rồi rút lui để tránh mũi nhọn của Nguyên.

Ngọc Trí nhỏ nhẹ:

– Điều đáng sợ nhất là tên thân vương nội phản. Không biết y là ai, mà lại có sơ đồ tất cả các đồn ải gửi cho anh ấy. Anh chị phải khải với Hưng Đạo vương đổi hết hệ thống bố trí, phòng thủ, bằng không các đồn ải sẽ bị tràn ngập dễ dàng. Kể cả chiến lũy Chi lăng này nữa. Tên thân vương gửi báo cáo nói: Chiến lũy Chi lăng thiết trí quay lưng lại sông Phú lương. Để hở lưng. Nguyên đánh được 10 lũy phòng thủ Chi lăng sẽ hao ít ra 10 vạn quân. Y cung cấp một con đường thượng đạo qua Đâu đỉnh, chiếm Phú lương thì đánh vào lưng Chi lăng dễ dàng.

Nghe Ngọc Trí nói, mồ hôi Dã Tượng toát ra, mặt tái xanh. Bởi khi thiết trí 10 lũy phòng thủ Chi lăng, hầu thiết trí cho quân trấn phía trước, mà không tạo lũy phía sau. Lưng để hở. Vì phía sau là nơi đồn trú của Hiệu Trung thánh dực của Văn chiêu hầu Trần Văn Lộng, trên sông Như nguyệt. Nếu bây giờ Nguyên đánh phía trước, rồi đem một đạo quân vượt rừng chiếm Đâu đỉnh, Phú lương thì chúng đánh vào lưng quân trú phòng Chi lăng. Chi lăng chỉ có chết!

Thúy Hồng hỏi:

– Thoát Hoan có dự tính gì khi chiếm được Đại Việt không?

– Anh Thoát Hoan hứa ngay khi vào Thăng long sẽ thực hiện ba điều: một là ban chỉ phong cho tên gian vương làm An nam quốc vương. Hai là đặt Tuyên phủ ty. Tuyên phủ sứ là Lý Hằng. Ba là bổ nhiệm các Tuyên vũ sứ, An phủ sứ. Thay thế toàn bộ quân Việt: tổ chức thành thập phu, bách phu, thiên phu, vạn phu. Các tướng soái là người Hán, Mông cổ, đem từ Trung nguyên sang.

Dã Tượng hỏi:

– Thoát Hoan là Trấn Nam vương. Y không ở lại làm An Nam vương ư?

– Không! Chí của anh ấy là ngôi vua. Phụ hoàng đã già rồi. Anh ấy hiện nắm binh quyền nghiêng nước. Anh ấy phải về Đại đô, để khi phụ hoàng băng thì anh ấy dùng Thiết đột, Thị vệ phong tỏa Hoàng thành, lên ngôi vua. Nghĩa là làm như Tần vương Lý Thế Dân đời Đường. Hiện Tổng lĩnh Thị vệ, Tổng trấn Đại đô là người của anh ấy.

Thúy Hồng hỏi:

– Đại Hành là Tuyên uy đại tướng quân, Trung hòa hầu. Thống lĩnh Cấm quân, Thị vệ. Vậy Đại Hành theo Thoát Hoan ư?

– Chính em vận động anh Đại Hành theo phe của chồng em. Chồng em không thiết tha việc đánh Đại Việt. Anh ấy giả hăm hở đánh Đại Việt để lấy lòng phụ hoàng. Anh ấy nói: khi lên ngôi vua sẽ buông mặc Đại Việt làm đế, làm vương gì thì làm. Coi như trên thế gian không có nước Đại Việt. Bấy giờ anh ấy sẽ yêu cầu Đại Việt, mỗi năm thi tuyển lấy 10 người đẹp, đem cống cho Nguyên. Nguyên sẽ gả cho các văn quan, võ tướng để thu phục nhân tâm họ.

Dã Tượng mỉm cười:

– Sau này anh tâu lên đức vua, mỗi năm sẽ tuyển ít nhất 100 người đẹp đem cống Nguyên. Những người đẹp đó thành phi tần của vương tôn, là phu nhân các văn thần võ tướng, thì lợi cho Đại Việt biết mấy. Tỷ như Thoát Hoan lên làm vua, Ngọc Trí là hoàng hậu. Con của Ngọc Trí sau này sẽ lên ngôi vua. Thế là ông vua Nguyên nửa Mông cổ, nửa Đại Việt.

Ngọc Trí xua tay:

– Cái đó còn tùy các mỹ nhân có giáo dục được con mình hay không? Cái gương tên Nguyễn Linh Nhan ở Tuyên phủ ty còn đó! Mẹ y là người Việt, cha y là Mông cổ, thế nhưng y cứ tự hào mình là người Mông, không lý đến nước của mẹ. Y làm hại Đại Việt còn hơn bọn Mông cổ chính gốc nữa.

Ngọc Quốc hỏi Dã Tượng:

– Anh Lý Hằng quan sát địa thế từ biên giới tới Chi lăng rồi nói với em: với địa thế như vậy, nếu khi quân Nguyên thua chạy, thì người dùng binh như thần là Hưng Đạo vương sẽ phục binh dài dài, e không một người sống sót. Em lo, khi Nguyên thua chạy, phục binh khắp nơi, mạng sống của em với Ngọc Trí khó bảo toàn.

Thúy Hồng tát yêu hai nàng:

– Em đừng lo, lúc Đại đởm đại tướng quân đột nhập vào doanh Nguyên, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đã căn dặn không được đột nhập vào lều của em vơí Ngọc Trí. Vậy thế này: soái kỳ của Thoát Hoan thì mầu đỏ, trên có con chim ưng bay ngang mặt trời. Cờ của hai em mầu xanh. Chị sẽ khải với Hưng Đạo vương ban lệnh cho truy binh, phục binh không được đánh vào nơi nào có cờ xanh. Như vậy hai em an tâm chưa?

Ngọc Trí, Ngọc Quốc lên xe rời Chi lăng. Đội nữ dân binh, đội Ngưu binh, đội nhạc lại dàn ra tiễn đưa hai nữ Thiên sứ. Nhạc tấu bản Sát đát cực kỳ hùng tráng.

Thoát Hoan, Lý Hằng đón hai bà vợ vào trướng. Ngọc Trí tường thuật:

– Dã Tượng cứng rắn vô cùng. Anh ấy nói: trước đã ném đá giết Mông Ca. Nếu nay anh ấy hàng Nguyên, thì không thiếu người giết anh ấy trả thù cho Mông Ca. Vả lưng anh ấy cứng lắm, không khom để hàng ngoại xâm được.

Ngọc Quốc tiếp:

– Bọn em khuyên thế nào anh ấy cũng không nghe. Em hẹn cho anh ấy suy nghĩ hai ngày. Nếu trong hai ngày anh ấy không hàng, thì Đại Nguyên sẽ đánh Chi lăng. Còn chị Thúy Hồng, chị ấy nói: đa tạ Thái tử đã có nhã ý thuyết phục quy hàng. Nhưng chị ấy là con bà Triệu, cháu vua Trưng thì thà thịt nát xương tan, chứ không chịu hàng.

Thoát Hoan trầm tư một lúc rồi thăng trướng. Y nói:

– Theo đúng pháp lệnh của đức Thái tổ Thành cát Tư hãn: trước khi đánh một nước, một thành, một đồn đều phải sai sứ chiêu hàng. Vì vậy cô gia đã để vương phi, phu nhân của Lý Tả thừa chiêu hàng tướng trấn thủ Chi lăng. Nhưng y cứng đầu, không biết từ chỗ tối, tìm chỗ sáng. Vì vậy chúng ta chuẩn bị phá chiến lũy Chi lăng.

A Lý Hải Nha điều quân:

– Chiến lũy Chi lăng có 10 lớp, rất chắc, hào sâu. Dù đánh cách nào cũng hao ít ra là mười vạn người. Nhưng một tên thân vương An nam đã vẽ cho ta đồ hình chiến lũy. Chiến lũy dàn quân hướng về bắc, quay lưng về nam. Có một đường thượng đạo vòng qua Đâu đỉnh, tới sau lưng Chi lăng. Vậy một mặt ta giả đánh chính diện phía bắc. Một mặt ta âm thầm đánh Đâu đỉnh, chiếm Phú lương, rồi dọc theo sông đánh vào sau lưng bọn Dã Tượng.

Y chỉ Lý Hằng:

– Dùng kỳ binh đánh sau lưng Chi lăng, phải vượt rừng, cần dùng tới các tướng, quân khí lực sung thịnh. Vậy đệ nhất dũng sĩ Quốc Uy đại tướng quân Ô Mã Nhi, Chiêu thảo Nạp Hải, Trấn phủ quân Tôn Lâm Đức được đặt dưới quyền Tả thừa Lý Hằng; đem 3 vạn bộ binh, 5 nghìn kị binh lĩnh nhiệm vụ nguy hiểm này.

Y ra lệnh tiếp:

– Tấn công mặt trước thì ngày 25 tháng chạp, do Bột la Cách đáp nhĩ, chỉ huy đánh buổi sáng với 3 vạn phu bộ binh, năm vạn lao binh. Buổi chiều do Khiết tiết Tán lược nhi đem 3 vạn phu khác thay thế. Nếu phá được Chi lăng thì thôi. Bằng như vẫn chưa phá được thì Lý Bang Hiến đem 3 vạn phu công phá trong đêm. Cứ như thế, cho đến khi Tả thừa Lý Hằng đem quân đánh vào sau lưng Chi lăng thì Chi lăng phải vỡ.

Trong ải Chi Lăng, sau khi Ngọc Quốc, Ngọc Trí về rồi, Dã Tượng bàn với phu nhân Thúy Hồng:

– Tin tức hai nàng Ngoc cho ta vô cùng quan trọng. Vậy em lấy con ngựa Bắc mã của anh về Vạn kiếp cáo với Hưng Đạo vương, để người ứng phó với việc tên thân vương khốn nạn đã cung cấp kiến trúc phòng thủ các đồn ải cho Nguyên.

Thúy Hồng lên ngựa đi liền. Con Bắc mã là giống ngựa rừng, sức mạnh vô song, thêm công lực Thúy Hồng thâm hậu. Ngựa phi như bay. Không đầy một giờ đã tới Nội bàng, Tổng hành doanh tiền quân.

Hưng Hiếu vương Quốc Uy thấy Thúy Hồng phi ngựa như bay tới, thì biết có tin gì cực kỳ quan trọng. Vương hỏi:

– Bà chị dâu xinh đẹp. Có tin gì trọng đại vậy?

– Phụ vương đâu?

Có tiếng nói đầm ấm:

– Yết Kiêu! Con mời chị vào.

Rõ ràng tiếng Hưng Đạo vương. Yết Kiêu mở cửa trướng.

Lễ nghi tất.

Thúy Hồng trình bầy những gì hai nàng Ngọc báo cho biết. Hưng Đạo vương hỏi Địa Lô:

– Hầu nghĩ sao?

– Khi dàn quân lập vòng đai, vương không chú tâm đến giữ đồn, trấn ải. Nên bỏ qua con đường thượng đạo. Sự thể đã như thế này, thần đề nghị hai phương án. Một là lệnh cho Dã Tượng âm thầm rút quân ém vào rừng đề cho chúng đi qua, rồi chiếm lại sau.

– Như thế giặc sẽ nghi ngờ. Chúng đóng quân lại trong ải, thì mình bị chặn mất đường thông thương giữa bắc cương với bình nguyên.

– Phương án thứ nhì, lệnh cho Dã Tượng lờ đi như không biết đến cái vụ chúng đi thượng đạo. Mình dùng một hiệu binh trấn dọc thượng đạo, đợi chúng đánh Chi lăng mấy ngày, rồi mình rút cả quân cả Chi lăng, lẫn thượng đạo.

Hưng Hiếu vương đề nghị:

– Con thấy phương án 2 là hơn.

– Đóng ở phía nam bến đò Phú lương là hiệu binh Trung Thánh dực của Trần Văn Lộng. Nếu ra lệnh cho Lộng đem quân vượt sông trấn thượng đạo, thì cần 2 ngày hiệu binh này mới có thể tới nơi. Trong khi đó bọn kị binh Nguyên chỉ cần một ngày là tới Đâu đỉnh rồi. Làm sao đây?

Hưng Hiếu vương nhắc:

– Hiện mình có hai hiệu binh cơ động đang đóng ở đây. Chỉ cần một giờ là lên đường được.

– Ý con muốn nói hiệu Hàm tử của Quốc Toản, hiệu Tứ thần của Hoài Nhân vương phải không? Hai hiệu đó vừa từ biên giới rút về. Cần cho nghỉ ngơi ít ngày. Vả hai hiệu đó đang làm trừ bị, bảo vệ Tổng hành doanh, cùng Thăng long. Nay đem hai hiệu đó ra đi, giặc tràn đến đây thì Hành doanh nguy tai. Thăng long bị tràn ngập ngay.

Thúy Hồng bàn:

– Hai hiệu đó chưa từng chạm địch, tinh lực còn nguyên. Con nghĩ không cần nghỉ ngơi.

Địa Lô đề nghị:

– Trong đạo binh của Nguyên có tên Ô Mã Nhi, đệ nhất dũng sĩ Mông cổ. Trước đây Vũ Uy vương phải nhờ vương phi Ý Ninh dùng Mê linh kiếm pháp mới trị được y. Không biết y sẽ dự trận ở Chi lăng hay đánh úp Đâu đỉnh. Nếu y dự trận Chi lăng đã có chị Thúy Hồng đương. Còn trận Đâu đỉnh, cần phải đem Quốc Toản trị y. Quốc Toản cũng luyện Mê linh kiếm pháp đến chỗ tuyệt cao, nên dùng Quốc Toản vào nhiệm vụ chặn đạo kỳ binh thì hơn.

Hưng Đạo vương ban lệnh mời Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu. Hai tướng trẻ dẫn theo công chúa Nang Tiên, quận chúa Như Vân đến phục mệnh. Hưng Đạo vương tóm tắt tình hình, giảng giải cho hai tướng, rồi hỏi:

– Nếu lên đường thì phải mất bao nhiêu lâu, hai hiệu binh mới khởi hành được?

Hoài Văn hầu dùng ngôn từ gia đình:

– Thưa bác, hiệu Hàm tử chỉ cần 2 khắc (14 phút). Còn hiệu Tứ thần thì cần một giờ.

Hưng Đạo vương ban lệnh:

– A Lý Hải Nha áp dụng xa luân chiến. Mỗi ngày y dùng tới ba đợt, mỗi đợt 3 vạn người thay phiên đánh Chi lăng. Trong khi quân trấn trong ải chỉ có một hiệu hơn vạn người. Sau hai ngày, quân mình mệt mỏi, Nguyên sẽ tràn ngập. Vậy Thúy Hồng trở về cùng Dã Tượng chia quân làm hai. Một nửa nghỉ, một nửa đánh. Cố gắng giữ 2 ngày, rồi âm thầm rút trong đêm, ém vào rừng.

Vương ban lệnh cho Hoài Văn hầu:

– Cho hiệu Hàm tử lên đường khẩn cấp. Đem theo 5 đô Ngưu binh. Chia nhau phục trên đường thượng đạo chặn đánh kị binh của chúng. Chỉ cần đánh một trận phá kị binh rồi rút vào rừng. Khi bộ binh của chúng tới thì cũng là lúc hiệu binh Tứ thần tới. Anh em cần cầm chân chúng 2 ngày, để Dã Tượng rút khỏi Chi lăng mà thôi.

Vương ban lệnh cho Yết Kiêu:

– Thiên kình đại tướng quân đem mấy đô Ngạc ngư ẩn trên bến đò Phú lương tới Vạn kiếp, phá các thuyền chở quân của Nguyên.

Vương trịnh trọng gọi Nguyễn Thiên Sanh:

– Vừa rồi Thần vũ quốc công đã làm cho Thoát Hoan kinh tâm động phách. Bây giờ quốc công mang bốn đô Đại đởm ẩn trên con đường thượng đạo. Chờ cho kị binh, bộï binh Nguyên đi qua, thì đốt lương, phá hậu quân của chúng.

Địa Lô hỏi:

– Cánh quân này gồm hiệu Tứ thần, hiệu Hàm tử, các đô Ngạc ngư, Ngưu binh, Đại đởm, thành phần hơi phức tạp, cần có một người tổng chỉ huy. Xin đại vương chỉ định một tướng lĩnh trách vụ này!

Vương chỉ vào Hưng Nhượng vương:

– Quốc Tảng tổng chỉ huy.

Tại chiến lũy Chi lăng, trời hừng sáng, Thoát Hoan cùng bộ tham mưu ngồi trong căn lều lớn tại một mỏm núi, quan sát chiến trận.

Bột la Cách đáp nhĩ, cho suất 3 vạn phu lao binh, tay ôm những bó cỏ tiến trước để lấp hào. Phía sau 3 vạn bộ binh, tay cầm vũ khí dàn ra làm ba hàng. Một tiếng tù và rúc lên, lao binh reo hò xung tới hàng rào chiến lũy.

Một tiếng pháo lệnh nổ, ba tiếng vi vu trên không, tiếp theo ba tiếng nổ lớn rung chuyển rừng núi, rồi ba trái cầu lửa tỏa ra khắp không gian. Quân Việt trong chiến lũy xuất hiện, dùng tên bắn ra. Chỉ một loạt, lớp lao binh Nguyên tiến đầu ngã xuống. Loạt thứ nhì, lớp lao binh sau ngã lổng chổng. Đám bộ binh lao tới nhặt những bó cỏ, giẫm lên xác lao binh, ném cỏ vào hào, rồi lội qua hào, tới chân chiến lũy, dùng vũ khí chặt các hàng rào. Quân Việt thủ bên trong dùng đao phản công. Cuộc giao chiến giữa hai đạo quân tinh nhuệ bên bờ chiến lũy thực khủng khiếp.

Đứng đốc chiến phía ngoài, Bột la Cách đáp nhĩ, chỉ huy công đồn. Hễ thấy chỗ nào quân chết nhiều, lập tức y cho lệnh toán khác trám vào thay thế. Cuộc giao tranh tới giờ ngọ, thì quân hai bên đều thấm mệt. Quân tấn công, ba vạn chỉ còn hơn vạn. Bột la Cách đáp nhĩ ra lệnh đánh chiêng thu quân. Lao binh được điều đến thu nhặt xác chết bộ binh, xác chết lao binh, xếp thành những đống lớn.

(Hết Hồi 103)

Share this post