Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 104 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 104 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM LẺ BỐN
Ta thà làm quỷ nước Nam,
Còn hơn làm vương đất Bắc.
(Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng)

(Tiếp theo)

Lại nói, Đỗ Khắc Chung, Trần Quốc Toản trở về phục mệnh.

Thiệu Bảo Hoàng đế ban chỉ:

– Giữ Thăng long là nhiệm vụ của Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc. Vương có hai hiệu binh Tứ thần, Hàm tử, thêm hiệu Tả thánh dực của Hưng Hiếu vương Quốc Uy và hiệu Trung thánh dực của Quang Hòa hầu Trần Lộng. Đánh, hay rút, đánh như thế nào tùy nghi vương quyết định. Trẫm quyết định rút nội các, hậu cung khỏi đây, để không làm vướng chân, vướng tay vương.

Nhà vua ban chỉ cho Nội các:

– Thượng hoàng đã rút về Thiên trường bằng đường bộ. Có hai hiệu binh Hàm tử, Tứ thần chặn hậu. Ta rút về Thiên trường bằng đường thủy. Chư khanh hãy tản vào dân chúng, ẩn thân, chỉ huy dân quân phòng giặc. Nội trong 2 tháng, Hưng Đạo vương ban lệnh phản công thì sẽ trở về Thăng long.

Nhà vua nói với công chúa An Tư:

– Thoát Hoan, A Lý Hải Nha chưa đến đây, thì bọn Ô Mã Nhi chưa đánh Thăng long đâu. Vậy công chúa cho nội cung dùng thuyền rút về Thiên trường ngay. Phải tối đề phòng thủy đạo. Khi tới Đa mạc là nơi trấn thủ hiệu binh Thiên thánh của Quang nghĩa thượng tướng quân, Hải lộ hầu Trần Bình Trọng thì không sợ nữa.

Nhà vua dùng một thủy đội của hạm đội Thăng long, rút về Thiên trường. Đoàn thuyền 15 chiếc, 1 chiếc đầu chở bốn dàn nỏ thần, một đô Ngạc ngư, 3 chiếc sau chở Thị vệ. 5 chiếc chở nhà vua, cung quyến, với đội nữ Thị vệ. 5 chiếc cuối chở đội cung thủ Long biên. 1 chiếc chở Ngạc ngư, 4 dàn nỏ thần. Người tổng chỉ huy đoàn thuyền là đô thống Dư Anh. Tổng thái giám Trung hiến hầu Trần Dương đi đầu, phó Tổng thái giám Trung minh hầu Đào Kiên cản hậu. Công chúa An Tư thống lĩnh đội nữ Thị vệ đi trên con thuyền có nhà vua với hoàng hậu Khâm Từ. Đoàn thuyền âm thầm khởi hành vào giờ Tý.

Thuyền đi trong đêm, nhưng thủy thủ là những người thuộc hải đội Thăng long, nên không khó khăn.

Ngồi trong khoang con thuyền lớn, Thiệu Bảo Hoàng đế hỏi công chúa An Tư bằng ngôn từ gia đình:

– Cô ơi! Tháng trước phụ hoàng tâu với Tuyên cao Thái phi xin gả cô cho Trần Bình Trọng. Tuyên cao Thái phi đã bằng lòng. Vậy ý kiến cô thế nào?

Nét mặt thoáng ửng hồng, công chúa mỉm cười:

– Truyện dựng vợ gả chồng là truyện của cha mẹ. Cô không có ý kiến. Mẹ định sao thì cô chỉ biết vâng dạ thôi. Huống hồ mẹ đã sai sứ đến Thần quang tự thỉnh ý sư phụ rồi!

– À, thế Vô Huyền bồ tát định sao?

– Sụ phụ tuyên chỉ: Người chỉ dạy cô thôi. Còn truyện trăm năm thì do mẫu thân.

Khâm Từ hoàng hậu cười:

– Thế là Bồ tát đồng y rồi. Cô đã thấy mặt Trọng chưa?

– Chưa!

– Ấy à! Trọng là một trang mỹ nam tử, tuy không đẹp bằng Địa Lô, nhưng không thua Quốc Toản!

– Đẹp mà ích gì? Nam nhi cần đạo đức, tài năng.

Nhà vua tấm tắc:

– Trần Bình Trọng là dòng dõi vua Lê Đại Hành. Võ công cực cao, tài dùng binh e không thua Hưng Nhượng vương. Ngoài ra hầu còn là người thông âm luật. Người đã soạn ra Sát Đát thập ca, là 10 bản nhạc hùng tráng cho quân sĩ hát. Sau này cùng cô thành vợ chồng thì đúng là duyên cầm sắt.

Khâm Từ hoàng hậu tiếp:

– Cháu nghe nói, hồi Thoát Hoan gặp cô ở Trường sa, y gọi cô là tiên nữ. Cháu nói ví dụ thôi, y sai sứ cầu hôn, phụ hoàng gả cô cho y thì cô tính sao?

– Cô đành chịu. Phụ hoàng của cháu vừa là vua, vừa là anh! Cô cãi thế nào được. Cô là Phật tử, vừa có hiếu, vừa có đễ mà.

– Lát nữa tới Đa mạc, chúng ta rời thuyền đi đường bộ. Đa mạc là nơi trấn thủ của Quang nghĩa thượng tướng quân, Hải lộ hầu Trần Bình Trọng, thống lĩnh hiệu binh Thiên thánh, hầu ắt tới yết kiến. Cô sẽ thấy mặt Trọng. Năm nay Trọng 26 tuổi, còn cô thì 20. Đẹp đôi quá.

Nhà vua ban chỉ:

– Sự ở đây xong, triều đình rút về Thiên trường an toàn, cô nên đi sứ tới Thăng long để dò la tình hình giặc. Từ hôm Thoát Hoan nhập Việt, triều đình không nhận được tin tức của Ngọc Trí, Ngọc Quốc.

An Tư hỏi:

– Cô đi sứ vậy ai sẽ là bồi sứ?

Nhà vua chỉ Trung hiến hầu Trần Dương, Trung minh hầu Đào Kiên:

– Hai hầu hãy theo phò công chúa.

Trần Dương thắc mắc:

– Thần nghe từ khi Thoát Hoan gặp công chúa ở Trường sa, y say mê đến điên đảo thần hồn. Y ban chỉ cho A Lý Hải Nha phải ra lệnh cho các tướng, khi đối trận với công chúa không được đả thương, phải bắt sống. Nếu như công chúa đi sứ, y ra lệnh bắt công chúa thì lôi thôi to.

Công chúa An Tư tự tin, vỗ tay vào bao kiếm:

– Y không phải là đối thủ của thanh kiếm này.

Thình lình có tiếng pháo nổ, đuốc cháy sáng rực, hai bên sông, hơn 30 chiến thuyền dàn ra, cắt ngang sông. Rồi phía sau, một đoàn thuyền hơn 30 chiếc cũng dàn ra khóa hậu. Trên thuyền toàn lính Nguyên gốc Mông cổ, tên đặt trên cung. Chúng đứng thành hàng trên thuyền.

Lý Bang Hiến cầm loa gọi:

– Trần Khâm (tên vua Nhân tông), người trúng phục binh của chúng ta rồi. Mau đầu hàng, bằng không ta hô lên một tiếng, tên sẽ ghim trúng người như con nhím.

Các văn quan và cung quyến kinh hoàng.

Khâm Từ hoàng hậu bình tĩnh tâu:

– Chúng ta trúng phục binh của giặc rồi. Bệ hạ ẩn trong khoang, để thần với cô An Tư chống giặc.

Nhà vua liếc nhìn hai đoàn thuyền giặc: tất cả đều là chiến thuyền Việt. Không biết bằng cách nào Nguyên đã chiếm được.

Dư Anh ra lệnh cho con thuyền chở nhà vua cùng cung quyến cập vào bờ nam ngạn, Dư nói với Tổng thái giám Trần Dương:

– Công công hộ tống hoàng thượng cùng cung quyến đổ lên bờ. Tại bờ có đê. Sau đê là 6 ngôi làng, hệ thống phòng thủ rất kiên cố. Sau khi vào làng phải theo lối tắt về Thiên trường ngay. Chúng ta đang ở vùng Đa mạc. Cần dùng pháo thăng thiên báo cho Trần Bình Trọng cứu giá.

Còn lại 14 thuyền. Dư chia ra 7 chiếc phía trước do công chúa An Tư chỉ huy. Đích thân Dư chỉ huy 7 chiếc phía sau, với Trung minh hầu Đào Kiên. Thị vệ bình tĩnh chuẩn bị tác chiến. Công chúa An Tư ra lệnh cho đô trưởng chỉ huy Ngạc binh.:

– Cho Ngạc binh trườn xuống nước đục thuyền của chúng.

Viên Tham tá chỉ huy Nỏ thần ra lệnh:

– Tác xạ.

Nỏ thần bắn loạt đầu, gần 20 cung thủ Mông cổ bị trúng tên lật ngược. Đám cung thủ còn lại vội nhảy lùi, ẩn vào mép thuyền. Thuyền Mông cổ đã áp vào thuyền Việt. Thị vệ, Nữ Thị vệ dàn ra chống đỡ. Quân hai bên lẫn vào nhau. Gió thổi mạnh, Thị vệ, nữ Thị vệ Việt được luyện tập chiến đấu trên sông, trên biển, nên khả năng chiến đấu vẫn không giảm. Nhưng đám lính Mông cổ gốc là kị binh, dường như lần đầu tiên đánh nhau trên mặt nước nên thuyền nghiêng ngả, sức chiến đấu giảm đi. Thình lình các thuyền Nguyên bị thủng đáy, nước tràn vào. Binh Nguyên la hét bơi lóp ngóp trên sông, các thuyền bị chìm. Binh Nguyên giáp trụ trên người, không biết bơi, bị nước cuốn đi.

Thoát nạn.

Công chúa An Tư ra lệnh cho thuyền áp vào nam ngạn, Thị vệ đổ bộ lên bờ. Dư An ra lệnh đánh chìm thuyền của mình. Công việc vừa xong thì trống thúc vang dội: phía trước, phía sau đuốc đốt sáng rực, thuyền chở lính Nguyên dàn ngang sông nhiều đếm không hết, đang siết vòng vây. Người chỉ huy chính là Ô Mã Nhi, Lý Hằng.

Công chúa An Tư ra lệnh cho Dư Anh:

– Đô thống tiến lên bảo vệ hoàng thượng. Để tôi chặn hậu cho.

Cung quyến, các văn quan đã lên bờ. Công chúa An Tư ra lệnh cho Trần Dương, Đào Kiên theo hộ vệ cung quyến và các văn quan. Lại lệnh cho Thị vệ, nữ Thi vệ tắt hết đuốc, dàn ra dọc con đê, rồi theo bờ đỗi từ từ rút vào ngôi làng sau đê.

Ô Mã Nhi, Lý Hằng thấy quân Việt phá các dàn Nỏ thần, đánh chìm thuyền rồi biến vào đêm tối thì cho thuyền dàn dọc sông. Ô Mã Nhi bàn:

– Bọn vua An Nam chạy lên bộ. Đây là vùng lầy lội, đêm tối, chúng ta không thể đuổi theo được. Đành chờ trời sáng.

Lý Hằng cương quyết:

– Dù đêm tối, ta cũng phải đuổi bắt cho được Trần Khâm.

Nói rồi y ra lệnh cho Lý Bang Hiến đem 3 nghìn quân đổ bộ lên phía phải. Kiết tiết Tán lược Nhi 3 nghìn quân đổ bộ lên phía trái. Đích thân y với Ô Mã Nhi, Lý Quán đem một vạn quân đổ bộ vào chính giữa. Đuốc đốt sáng rực một khúc sông.

Từ sông vào bờ có khoảng cách trên 50 trượng là vùng lầy lội, chỗ cao, chỗ thấp rồi tới con đê khá cao. Quân Nguyên là Thiết đột kị binh, giáp trụ nặng nề, đổ bộ lên cực kỳ khó khăn, mỗi bước đi chân lún sâu xuống tới đầu gối. Tuy nhiên các thập phu trưởng dẫn đầu cũng tìm ra: cứ khoảng cách trăm trượng lại có một cái bờ đỗi, khá cao. Thập phu trưởng đi trước, lính đi sau. Trong ánh đuốc chập chờn, một người lỡ chân, trượt chân khỏi bờ đỗi ngã lăn xuống ruộng, thì phải hai, ba người đỡ mới lên được bờ. Khi mấy nghìn lính gần tới bờ đê thì một tiếng cồng vang lên, tên từ sau đê bắn ra vun vút, một số lính Nguyên bị trúng tên la ơi ới. Phải hơn giờ lính Nguyên mới vượt được làn mưa tên, lên được bờ đê thì không còn thấy một bóng quân Việt nào.

Lý Hằng ra lệnh vác tử sĩ, thương binh lên bờ đê. Y chửi tục:

– Mẹ cha bọn Man Việt chỉ giỏi cắn trộm

Ô Mã Nhi ngao ngán chỉ vào phía trong đê:

– Kìa là 6 ngôi làng. Từ đê vào làng ít ra là 3, 4 dặm. Mà đường vào chỉ có thể đi được một người. Làng bao bọc bởi những con hào sâu, dưới hào đầy chông, gai. Sau hào là lũy tre dầy. Quân Man Việt nấp ở trong. Nếu đánh vào làng thì không khác đánh vào các ải Khả lan vi, Đại trợ, Khâu Ôn, Khâu Cấp. Chiếm được một làng ít ra hy sinh hơn một nghìn người. Mà khi vào làng thì quân Man, dân Man trốn đi hết rồi. Việc đuổi bắt Trần Khâm e muôn vàn khó khăn.

Lý Hằng chỉ vào 2 cái bờ đỗi dẫn vào ngôi làng đối diện:

– 2 cái bờ này đầy vết chân. Chắc bọn vua Man Việt chạy vào làng này.

Thình lình cả 6 ngôi làng, trống ngũ liên thúc dồn dập vọng ra, rồi những ánh đuốc chập chờn phía sau các lũy tre.

Lý Quán than:

– Bọn Man Việt thực kinh khủng. Tại những ngôi làng xa xôi như thế này, thế mà chúng huấn luyện cho bọn nhà quê biết tổ chức phòng ngự bén nhậy Thoáng một cái, trong đêm tối, chúng đã báo động, rồi chuẩn bị tác chiến

Lý Hằng ra lệnh cho quân Nguyên ngủ trên con đê, chờ trời sáng.

Nguyên từ hồi Thành Cát Tư Hãn lập quốc, đã huấn luyện cho kị binh Mông cổ ngủ ngồi trên mình ngựa, ngủ ngồi trên tuyết, ngủ ngồi tại bất cứ đâu. Sau này Hốt Tất Liệt huấn luyện thanh niên Trung nguyên, cũng rập theo phương cách cũ. Nên đám quân Nguyên này, suốt một ngày phi ngựa dọc bờ sông truy đuổi vua Trần, rồi dùng thuyền truy sát, cuối cùng lội bùn, đã mệt lử. Bây giờ được phép ngủ, hai người một dựa lưng vào nhau, lập tức chìm vào giấc ngủ rất sâu.

Nhưng đoàn quân vừa ngủ được hơn khắc, thì trống trận thúc vang dậy, thuyền từ phía Thăng long nối đuôi nhau tới, đèn đuốc sáng rực một khúc sông dài. Sứ báo:

– Trấn Nam vương với quân sư A Lý Hải Nha đang đem đại binh tiếp ứng quyết bắt vua Man Việt. Vương truyền Tả thừa xua quân đuổi theo vua Man Việt ngay.

Đoàn quân của Lý Hằng lại bị đánh thức.

Ô Mã Nhi, Lý Hằng bàn với nhau:

– Chắc chắn bọn Trần Khâm hiện ẩn trong mấy làng ven sông này, chứ không xa. Dù địa thế lầy lội, di chuyển khó khăn, cũng phải đánh chiếm mấy làng, truy đuổi triều đình Man Việt tới cùng.

Ô Mã Nhi hỏi Lý Hằng:

– Vùng này do tướng Man Việt nào chỉ huy?

– Đây là vùng Đa mạc thuộc Thiên trường, do hiệu binh Thiên thánh dưới quyền chỉ huy của Quang nghĩa thượng tướng quân, Hải lộ hầu Trần Bình Trọng. Theo như tên thân vương của chúng báo cho ta, đây là một tên tướng trẻ, võ công, tài dùng binh không thua gì hai tên nhãi Trần Quốc Toản với Trần Quốc Kiện. Hèn gì 6 làng này có hệ thống phòng chủ bén nhậy như thế này.

Lý Hằng ra lệnh cho quân mới tới đổ bộ lên bờ. Y chỉ vào 6 làng ven sông:

– Bọn Trần Khâm chỉ quanh quẩn ở 6 làng này chứ không chạy xa đâu! Cần tấn công ngay.

Lý Hằng ra lệnh cho 5 tướng Ô Mã Nhi, Lý Bang Hiến, Kiết tiết Tán lược Nhi, Lý Quán, Ku Đai mỗi người chỉ huy 5 nghìn quân, đánh vào 5 làng. Còn đích thân y chỉ huy một vạn quân đánh vào ngôi làng gần nhất, có nhiều vết chân trên ruộng.

Y chỉ vào ngôi làng, mà ruộng đầy vết chân người, chứng tỏ triều đình Việt chạy vào, ra lệnh cho vạn phu trưởng Ku-Đai:

– Người chỉ huy bản bộ quân mã đánh vào ngôi làng này.

Ku Đai than:

– Binh lính của tiểu tướng thuộc binh Thiết đột, giáp trụ, mũ bằng thép nặng nề. Hồi nãy phải khó khăn lắm mới đổ bộ được từ thuyền vào đây. Làm sao có thể lội ruộng tấn công?

– Ra lệnh cho Thiết đột cởi bỏ giáp trụ, mũ đồng, cởi bỏ luôn giầy để lại con đê này. Rồi đi chân không, dùng đoản đao, cung tên; lội ruộng tiến vào làng.

Thảm thiết thay, mấy vạn con người trẻ, đầy sinh lực, ra đời ở vùng đất khô cằn, từ 6 tuổi đã luyện tập bắn cung, cỡi ngựa, rồi được huấn luyện dàn trận, xung sát trên mặt trận đất liền. Bây giờ bị đưa vào vùng lầy lội, giữa đêm đen âm u, mỗi bước đi chân bị lún xuống bùn lầy lóp ngóp, mà cái chết đến chỉ trong chớp mắt. Dù mệt mỏi rã rượi, bước đi không nổi, dù buồn ngủ díp mắt lại họ vẫn phải tiến.

Trống trận thúc vang dội trong màn đêm, đoàn quân kị binh từng xông pha trên vùng Thảo nguyên, Tây vực, Trung nguyên mắt mở trừng trừng, tay lăm lăm đoản đao nhìn về trước: dưới ánh đuốc chập chờn, một con lạch khá rộng. Sau con lạch là lũy tre cao vút dầy đặc. Trong lũy im lìm, rờn rợn. Tiếng lội nước lõm bõm lẫn tiếng chửi tục của quân tấn công.

Một hồi tù và rúc lên, đó là lệnh quân dừng lại, chỉnh đốn hàng ngũ, chuẩn bị xung phong. Ba hàng quân đều nín thở chờ đợi, mắt đăm đăm nhìn về phía trước.

Thình lình sau lũy tre, một tiếng kẻng vang lên, tên từ sau lũy bay ra, hàng quân phía trước vì không còn áo giáp, họ như những con gà làm mồi cho quân dân Việt. Người người rú lên đau đớn, rồi người ngã lộn đi trên ruộng nước. Có nhiều tiếng la hét:

– Quân Man bắn ra.

Người ngã, kẻ bị thương, kẻ chết, nhưng tù và rúc lên. Đó là lệnh xung phong. Đoàn quân hàng hàng lớp lớp lao tới lội qua lạch, nước lên tới cổ. Họ cố lội qua, nhưng chân dẵm phải chông, tiếng la hét râm ran. Tên trong lũy tre bắn ra ào ào. Lao bằng tre ném ra. Những người không dẵm phải chông, đã tới chân lũy tre, dùng đao chặt tre. Lớp thứ nhì lội qua lạch, thoát được tên, tiếp lớp thứ nhất chặt tre.

Khoảng hơn giờ, quân Nguyên đã phá được một khoảng lũy tre. Họ lao vào trong. Đó là một khu vườn, với những ngôi nhà tranh, không thấy bóng một quân Việt nào. Quân nguyên chiếm một xóm đầu với hơn mười ngôi nhà. Căm hờn vì đồng đội bị chết, uất ức vì không hề thấy bóng quân thù, chúng dùng đuốc châm lửa đốt những ngôi nhà tranh. Lửa bốc cháy ngụt trời. Viên thiên phu trưởng đầu tiên vào được trong lũy tre ra lệnh cho các bách phu tập trung, chia từng thập phu đi lục soát những ngôi nhà. Vẫn không thấy bóng quân Việt, dân Việt. Quân Nguyên tràn vào làng.

Trời tang tảng sáng.

Cả vạn phu đã vào trong làng.

Ku Đai cho thu nhặt xác tử sĩ, thương binh từ con lạch, từ các lũy tre đem vào làng. Lại ra lệnh cho từng thập phu tiếp tục lục soát, chiếm hết phần còn lại của làng.

Lý Hằng ban lệnh:

– Rõ ràng quân Man vừa từ trong bắn ra, làm chết không biết bao nhiêu người mà thoáng một cái chúng đã trốn đâu mất. Không cần bắt dân Man, quân Man, phải tìm ra dấu vết tên vua Man.

Trời đã sáng. Ánh nắng ban mai chiếu lên những thửa ruộng xanh tươi. Lý Hằng ra lệnh cho kiểm điểm lại quân số. Mười thiên phu trưởng cùng kinh ngạc, khi thấy vắng 18 thập phu không trở về. Ku Đai ra lệnh cho tù và rúc hiệu lệnh thu quân.

Hơn khắc qua, 18 thập phu vẫn biệt tăm.

Ku Tai được báo cáo:

– Có tất cả 515 quân tử trận, hơn 2 nghìn bị thương, và toàn bộ 18 thập phu biến mất.

Quân báo với Lý Hằng:

– 5 cánh quân đánh vào 5 làng, chết nhiều mà không phá được lũy, quân sĩ mệt quá, bước không nổi, nên phải rút ra bờ đê.

Lý Hằng cực kỳ căng thẳng:

– Con bà nó, một cái làng nhỏ xíu này, mình thiệt hại hơn 500 người chết, 2 nghìn bị thương, mà thảm thiết thay đến mặt mũi một tên Man quân, Man dân cũng không thấy!

Y ra lệnh cho Ku Đai:

– Cho kiểm soát lại khắp làng, đốt sạch nhà.

Hơn giờ sau, Ku Tai báo cáo:

– Bắt được một Man dân bị thương. Tra khảo, y khai: làng này thông với ba làng bên cạnh bằng ba con đường khác nhau. Hồi đêm qua, vua Việt cùng các quan văn đã do ba lối đi băng qua ruộng sang làng bên cạnh. Bọn nấp trong lũy tre bắn ra gồm một Vệ bộ binh (800 người) thuộc hiệu binh Thiên thánh. Vệ này trấn đóng trong làng với dân đã 6 tháng. Binh tướng cùng dân quân nam, dân quân nữ với đội nữ Thị vệ. Tất cả đã đem dân chúng di tản sang làng bên cạnh, rồi phối hợp chống trả. Khi thấy không giữ được làng, chúng rút sang ba làng bên cạnh cả rồi.

Thình lình có tiếng kêu gọi ồn ào; Lý Hằng sai Thị vệ chạy ra xem xét, thì một thiên phu báo:

– Đã tìm ra xác một thập phu ở dưới ao. Khi vớt lên thì tất cả 10 người đều bị trúng tên. Theo giải đoán của tiểu nhân thì thập phu đi men dọc theo bờ ao, bị trúng phục binh, tất cả bị lộn xuống ao.

Lại tìm thấy toàn bộ một thập phu bị giết, xác nằm ngổn ngang trong ngôi đình làng.

Cứ như thế sau khi lục soát kỹ, đã tìm ra xác toàn bộ 18 thập phu bị giết. Lý Hằng giải đoán:

– Đám quân Mông cổ bị giết trọn vẹn như vậy là do bọn Thị vệ, nữ Thị vệ đã ra tay.

Y ra lệnh cho Ku Đai đóng quân giữ làng, còn y ra ngoài xem xét tình hình 5 đạo quân kia. Y vừa tới đê thì hàng trăm chiến thuyền chở quân tiếp viện cho y đã tới, đang đổ bộ lên. Thoát Hoan, A Lý Hải Nha đích thân tới đốc chiến.

Lý Hằng tường trình tình hình chiến trận. Thoát Hoan than:

– Lỗi tại cô gia tới trễ.

Y gọi các tướng lại, rồi nói:

– Tên thân vương giúp chúng ta một tay để bắt vua Man Việt. Trở ngại nhất của ta là hai hiệu binh Tứ thần và Hàm tử trấn ở nam Thăng long. Y đã điều hiệu binh Tứ thần của Trần Quốc Kiện về phía Tây Thăng long, y lại điều hiệu Hàm tử vào Nghệ an. Thế là lực lượng trấn nam Thăng long của Man Việt không còn. Lập tức cô gia lệnh cho Hữu thừa Mang Cổ Đải, Bôn Kha Đa, đem 4 vạn bộ binh, 2 vạn kị binh đuổi theo Nhật Huyên. Giờ này đã bắt được bọn chúng rồi cũng nên. Mang Cổ Đải đã tới ngã ba Tam lộ đi Thiên trường, Trường yên; đang đánh nhau với tên Trần Bình Trọng. Hiệu binh Thiên thánh của y quả thực thiện chiến, vũ dũng. Ta đã thiệt hại hơn vạn, mà cũng chưa phá được.

Y nhấn mạnh:

– Từ đây đến ngã ba Tam lộ Thiên trường, Trường yên không xa. Ta đánh được mấy làng này thì thọc vào hông ải Tam lộ của tên Trần Bình Trọng.

A Lý Hải Nha chỉ vào 6 ngôi làng:

– Trong 6 làng, ta đã chiếm được một làng, mà phải hy sinh trên 500 người. Còn 5, tên thân vương đã cung cấp sơ đồ đồn trú tất cả các làng từ Thăng long tới Tam lộ. Đây! Các người nhìn sơ đồ, chỗ nào không có quân phòng thủ, chỗ nào không có rào, mà tiến quân vào.

Năm tướng cầm 5 tấm lụa, nghiên cứu một lúc rồi họp các thiên phu, bách phu giảng giải: những thiên phu nào tiếp tục đánh trực diện như đêm trước. Những thiên phu nào âm thầm đánh vào nơi không có công sự, không có quân phòng thủ.

Các thiên phu, bách phu thúc tù và lên đường.

Khốn nạn thay cho 5 ngôi làng dọc sông Hồng, đó là nơi mà nam, phụ, lão, ấu suốt năm qua được một Vệ, 800 quân của hiệu binh Thiên thánh về sống chung, huấn luyện, phối hợp chống giặc giữ làng, lập công sự chiến đấu. Đêm qua, giặc tới, dân quân bị đánh thức chống giặc. Dù giặc là đội quân tinh nhuệ, thiện chiến, nhưng đánh đến sáng, chết, bị thương không biết bao nhiêu, rồi đành rút lui. Dân, quân reo hò nghỉ ngơi, ăn uống.

Thình lình giặc trở lại, trống ngũ liên thúc vang đội, quân dân lại ra trấn ở vị trí phòng ngự. Cuộc giao chiến lại diễn ra. Trong khoảng 2 khắc (30 phút ngày nay), thình lình có tiếng la hoảng, tiếng gào thét, rồi lửa bốc lên từ những ngôi nhà cuối làng. Giặc đã đột nhập vào hông, vào sau làng. Chúng đang đốt nhà, chém giết trẻ con, người già, và tấn công vào lưng phòng tuyến. Phòng tuyến bị vỡ. Giặc từ ngoài tràn vào. Lực lượng chiến đấu bị tử trận hết. Không đầy một giờ, tất cả nhà cửa đều bị đốt. Dân chúng bị giết chết hết. Xác bị vứt rải rác khắp làng.

Thoát Hoan, A Lý Hải Nha đã vào từng làng thị sát chiến trường. Trong cơn say máu, y ban chỉ:

– Tiếp tục lục soát, còn tên nào ẩn náu, bắt giết sạch.

Bấy giờ là giờ Ngọ.

A Lý Hải Nha chỉ tay về phía tây nam nới có khói bốc lên:

– Kìa là nơi bọn Mang Cổ Đái đang đánh nhau với tên Trần Bình Trọng. Ta đánh vào sau lưng giặc để bắt tên này. Từ đây đến đó có 3 ngả đường. Vậy ta chia làm ba mũi tấn công vào phía sau, phía hông phải, phía hông trái, mỗi mũi 1 vạn quân. Ô Mã Nhi, Ku Đai đánh vào hông trái. Lý Hằng, Lý Bang Hiến đánh vào phía sau. Lý Quán, Khiết Tiết Tán Lược Nhi đánh vào hông phải. Vương gia với tôi lĩnh 5 nghìn Thị vệ đi sau tiếp viện.

Các đạo quân lên đường rồi, A Lý Hải Nha lệnh cho bộ tham mưu tiến tới một khu đất hoang, an dinh, hạ trại. Thoát Hoan cho họp bộ tham mưu.

A Lý Hải Nha hân hoan:

– Cái tên gian vương của An Nam này thực lợi hại cho ta vô cùng. Không có y điều bọn Quốc Toản, Quốc Kiện đi, thì ít ra bọn Khoan Triệt, Mang Cổ Đái phải hao hơn vạn người chưa chắc đã tới vùng Tam lộ. Nếu không có y cung cấp sơ đồ phòng thủ 6 xã quanh đây thì ta phải hao cả vạn người mới chiếm được.

Thoát Hoan cười sung sướng:

– Sau khi dứt được Tam lộ, chúng ta cho một tướng đóng đồn tại đây, không cần đuổi bắt cha con Nhật Huyên nữa. Ta tạm về Thăng long chờ bọn Toa Đô từ Nghệ an tiến ra thì coi như ta đã thành công. Không biết mặt trận Hoan, Ái ra sao?

– Thần được tin báo cánh quân của đại vương Giảo Kỳ, hữu thừa Toa Đô, tả thừa Tang Gu Tai, tham chính Khê Đê tiến đánh Nghệ an. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật bị đánh bại. Toa Đô tiến đánh Ái châu, thì gặp đạo binh Hàm tử của Trần Quốc Toản cứu Nhật Duật. Toa Đô bị chặn lại. Không biết bao giờ y mới tiến ra đây hợp với quân của ta.

Thoát Hoan cười lớn:

– Dù Chiêu Minh vương đã vào Thanh hóa, dù Trần Quốc Toản có chặn đường, nhưng Toa Đô sẽ chiếm Ái châu dễ dàng, rồi ra Trường yên. Tới Trường yên thì coi như đến đây. Đến đây thì hai cánh quân của ta bắt tay với nhau. Viêc chinh An Nam coi như xong.

A Lý Hải Nha kinh ngạc:

– !?!

– Từ trước đến giờ ta giữ kín không cho quân sư biết. Tên Trần Quang Kiện, tước phong Chương hiến hầu, thống lĩnh hiệu binh Thiên cương trấn tại Ái châu, là người của ta từ lâu. Y chỉ chờ quân ta tới là đem bản bộ quân mã đánh lại bọn Nhật Huyên.

– Lẽ nào? Y là con của Tĩnh Quốc đại vương Quốc Khang. Y là anh em chú bác với Nhật Huyên!

– Y bất mãn với cháu là Tá thiên vương Đức Việp, con của Nhật Huyên. Y từng dự vào việc bắt cóc Trần Quốc Toản, nên triều Trần nghi ngờ y. Y âm thầm gửi biểu xin ta thu dụng y. Y vốn thuộc loại nhã lượng, cao trí giống Vũ Uy vương, nên trong phủ của y có nhiều tân khách lỗi lạc. Trong đó có bọn Lê Tắc.

– Như vậy, khi Toa Đô tới Thăng long, thì ta có thể cho tên thân vương xuất hiện, làm lễ tấn phong cho y lên ngôi An Nam quốc vương là xong.

Một tham tướng thắc mắc:

– Thần có một thắc mắc. Tên Trần Kiện tước phong Hoài Nhân vương, thống lĩnh hiệu binh Tứ thần. Sao bây giờ y lại là hiệu Thiên cương, là Chương Hiến hầu tổng trấn Nghệ an?

A Lý Hải Nha cười:

– An Nam có hai tên Kiện. Một tên Trần Quốc Kiện, là con của Nhật Huyên, em của tên vua An Nam tước phong Hoài Nhân vương, thống lĩnh hiệu binh Tứ thần. Một tên Trần Quang Kiện, con của Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang, tước phong Chương Hiến hầu, thống lĩnh hiệu binh Thiên cương. Hai đứa chỉ khác nhau có chữ lót: một đứa là Quang, một đứa là Quốc.

Thoát Hoan hỏi tham tướng Nguyễn Chiến Thắng phụ trách tế tác:

– Tình hình miền bắc của ta ra sao?

– Ta đang gặp khó khăn.

– Tướng quân trình đi.

– Dường như những đồn ải mà ta từng giao chiến, chúng chỉ đánh một trận rồi trốn biệt, đó là mưu kế của Hưng Đạo vương, dụ cho ta vào sâu trong nước, rồi những đạo quân rút lui lại xuất hiện, đánh chặn đường tiếp tế lương thảo. Từ hơn mười ngày qua, các kỵ mã ngựa trạm, các đoàn tải lương từ Ung châu, Vân Nam sang bị phục kích liên tiếp. Cũng giống như bên An Nam, tin các Hành tỉnh Quảng đông, Quảng tây báo rằng bọn khốn nạn Cần vương Tống phục kích đánh thuyền vận lương trên sông Tương. Hai ngọn núi Đại giáp, Hỏa giáp bị chúng chiếm mất. Ta tái chiếm, lập đồn thì mươi ngày sau lại bị đánh. Nên hai hành tỉnh phải bố trí quân dọc sông Tương, dọc đường từ Côn luân tới Ung châu.

Thoát Hoan hỏi A Lý Hải Nha:

– Quân sư định sao?

– Con đường chính từ Lạng sơn tới Thăng long, giao cho Lưu Thế Anh, cứ 30 dặm lập một đồn, với 300 quân phòng ngự, 60 dặm lập một trạm ngựa. Một trong những tướng giỏi lập đồn là Lý Bang Hiến, y đang ở đây. Ngày mai sai y lên đường phụ với Lưu Thế Anh.

Có tiếng reo hò từ xa vọng lại. Viên tướng chỉ huy thiên phu Thị vệ là Nguyễn Linh Nhan (Bá Linh) báo:

– Có một đoàn quân Việt bị bại vừa đánh, vừa chạy về phía ta. Còn tướng dẫn quân đuổi theo đám quân Việt là Ku Đai với Ô Mã Nhi.

A Lý Hải Nha ra lệnh:

– Dàn ba bách phu ra chặn đường, bao vây đám quân Việt.

Ba bách phu nhanh chóng dàn ra. Đoàn quân Việt khoảng hơn trăm người đang chạy, thấy có quân chặn đường thì ngừng lại, dàn thành trận, chia làm 2, một nửa chống với bọn Ô Mã Nhi, một nửa chống với Thị vệ.

Quân của Ô Mã Nhi, Ku Đai cũng đã tới. Nhìn trận của quân Việt, Thoát Hoan khâm phục, vì bị bao vây, mà họ đều tỏ ra không sợ hãi, thản nhiên chống vũ khí nhìn quân thù.

Ku Đai nói lớn:

– Tên Trần Bình Trọng kia! Chiến lũy của mi bị phá, quân tan, mi có chạy cũng không thoát. Chi bằng hàng đi, thì tính mệnh được bảo toàn.

Quang nghĩa thượng tướng quân, Hải lộ hầu Trần Bình Trọng đáp:

– Ta vì bị nội phản chứ tài ta không hèn, quân ta không nhược. Bây giờ chúng ta còn không quá trăm người, quyết lấy cái chết để khí tiết lại đời sau.

Thoát Hoan vẫy tay cho quân Nguyên nới vòng vây, y nhỏ nhẹ với Trần Bình Trọng:

– Bình Trọng! Cô gia yêu tài tướng quân, khuyên tướng quân nên đầu hàng, đừng chết vì ngu trung. Tướng quân có biết không? Một thân vương Trần triều đã đầu hàng thiên triều. Chính y đã cấp thuyền cho cô gia đuổi theo Trần Khâm. Cũng chính y ra lệnh cho hai hiệu binh Hàm tử, Tứ thần rời khỏi nam Thăng long, nên Khoan Triệt, Mang Cổ Đái mới đến Tam lộ dễ dàng. Y cũng cung cấp tất cả sơ đồ phòng thủ các làng vùng này cho ta, trong đó có chiến lũy Tam lộ của tướng quân. Vì vậy chúng ta chiếm các làng từ ven sông đến đây dễ như trở bàn tay. Cũng y cung cấp hệ thống phòng thủ của chiến lũy Tam lộ mà Mang Cổ Đái cho quân đánh vào sau lưng tướng quân, làm cho quân của tướng quân tan vỡ.

Nghe Thoát Hoan nói, Trần Bình Trọng mới tỉnh ngộ. Hầu thống lĩnh hiệu binh Thiên thánh trấn tại ngã ba Tam lộ, yết hầu của Thăng long vào nam biên. Hầu chia quân ra từng Đô, Vệ về các xã thống thuộc để huấn luyện nam, nữ dân quân tổ chức phòng vệ xã, tổ chức họ thành đội ngũ, luyện tập hành binh, bố trận rất tinh nhuệ, không thua gì quân của các hiệu binh triều đình. Hôm qua, thình lình quân Mông cổ từ hướng Thăng long ào ào tràn về đánh các xã thuộc quyền trấn nhậm của hầu. Quân, dân các xã chống trả mãnh liệt. Nhưng lạ lùng thay, giặc biết những nơi không phòng vệ, những ngả đường phía sau, mà tấn công vào, nên các xã thất thủ. Rồi chiến lũy Tam lộ, hệ thống phòng thủ cực kỳ kiên cố, cũng chịu chung số phận. Giặc đánh vào ngả sau. Nhưng hầu kịp thời dàn quân đánh bật chúng ra ngoài. Thế nhưng sáng nay, mặt sau, hông phải, hông trái lại bị ba đạo quân vây đánh. Chiến lũy thất thủ. Hầu cùng hơn trăm vệ sĩ phá vòng vây chạy đến đây thì lại bị vây đánh. Từ kinh ngạc này, đến kinh ngạc khác, khiến hầu uất ức. Bây giờ nghe Thoát Hoan nói, hầu như người mù được mở mắt: thì ra hầu bị nội phản.

Hầu dùng tiếng Mông cổ nói với Thoát Hoan:

– Đa tạ vương gia đã nói thực cho tôi biết. Thưa vương gia, nếu như không có tên thân vương táng tận lương tâm, mãi quốc cầu vinh thì tôi cũng không chống nổi với vương gia. Tôi chỉ có một hiệu binh, đã chia ra trấn tại các xã mất một nửa quân số. Làm sao đương nổi 2 vạn kị binh của Khoan Triệt, Mang Cổ Đái, lại thêm 4 vạn binh của vương gia đánh vào hông?

Lợi dụng trong lúc Thoát Hoan với Trần Bình Trọng đối thoại, Ku Đai ra lệnh cho quân của y buông tên. Đám tráng sĩ Việt vung vũ khí gạt tên rồi lao vào đội hình quân của Ku Đai. Trần Bình Trọng nổi giận, hầu rút kiếm xả vào đầu Ku Đai một chiêu. Ku Đai vung đao đỡ. Choảng một tiếng, đao của y bị văng lên không. Bình Trọng xả chiêu thứ nhì, đầu Ku Đai bay khỏi cổ. Ô Mã Nhi đứng cạnh rút kiếm đỡ kiếm của Trần Bình Trọng, cứu Ku Đai, nhưng không kịp.

Thoát Hoan ban chỉ cho Ô Mã Nhi:

– Phải bắt sống viên tướng này. Không được giết y.

Hai người đấu với nhau được trên 20 chiêu thì kiếm của Trần Bình Trọng bị văng lên không. Ô Mã Nhi điểm huyệt hầu. Đám tráng sĩ Việt chỉ còn 10 người, bị đánh văng vũ khí, bị bắt.

Thoát Hoan ra lệnh đem Trần Bình Trọng với 10 tráng sĩ vào soái lều. Y nhỏ nhẹ:

– Hải lộ hầu. Hầu còn trẻ, văn võ kiêm toàn, tinh thông âm luật. Ta yêu tài của hầu mà ra lệnh cho Ô Mã Nhi không được giết hầu.

Trần Bình Trọng trả lời bằng tiếng Mông cổ:

– Đa tạ nhã ý của vương gia. Tôi tự biết, nếu dùng hết sức, tướng Ô Mã Nhi chỉ cần hai hiệp là tôi mất mạng rồi.

Thoát Hoan tưởng Trần Bình Trọng đã xiêu lòng, y tiếp:

– Thân vương, hoàng tộc bọ Trần đầu hàng hết rồi. Tướng quân ơi! Tướng quân họ Lê thì phải, tại sao lại khư khư giữ tiết với họ Trần? Chương Hiến hầu Trần Kiện với gia thuộc đã hàng. Y đem toàn bộ binh mã dưới quyền hợp với quân của Toa Đô đánh Chiêu Minh vương, Chiêu Văn vương chiếm Thanh hóa, Nghệ an rồi, Kiện sẽ được phong tước vương. Gia thuộc của y là Lê Tắc sẽ được phong tước công. Nếu tướng quân hàng, ra lệnh cho các làng trực thuộc buông vũ khí, tướng quân sẽ được phong vương. Dân chúng các làng được bảo toàn mạng sống. Bằng không, hãy noi gương 6 làng chống lại quân ta, từ già, trẻ, đến con nít đỏ hoe đều bị giết, thây phơi nắng, phơi mưa cho ruồi bu, cho quạ rỉa.

Trần Bình Trọng hỏi 10 tráng sĩ bị bắt:

– Trấn Nam vương chiêu hàng. Các em có hàng không?

Tất cả 10 người đều quát lên:

– Không! Chúng tôi xin chịu chết.

Trần Bình Trọng nói nhỏ nhẹ:

– Đa tạ thái tử trọng tài tôi mà chiêu hàng. Tôi thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc.

Thoát Hoan ra lệnh:

– Cô gia để tướng quân suy nghĩ trong 10 ngày.

Y ra lệnh cho quân y sĩ băng bó cho đám tráng sĩ Việt.

Sáng hôm sau, quân báo cho A Lý Hải Nha:

– Đêm qua, bọn Ngạc binh An Nam đã lấy trộm tất cả 250 chiến thuyền của ta, rồi xuôi giòng ra biển, biến mất. Hưng Đạo vương tập trung được hơn nghìn chiến thuyền, đã trở lại chiếm Vạn kiếp rồi.

Thoát Hoan kinh ngạc:

– Trời ơi! Hỏng to rồi! Tên thân vương vét hết chiến thuyền vùng Thăng long trao cho ta. Ta mừng vì có phương tiện chuyên chở trên sông, trên biển, bây giờ bị lấy cắp hết thì sao đây?

Thoát Hoan định đem chém đầu viên thiên phu trưởng phụ trách coi đội thuyền, Lý Hằng can thiệp:

– Vương gia! Bọn trộm thuyền là Ngạc ngư binh của An Nam. Ngạc binh được chỉ huy bởi tên Yết Kiêu Trần Quốc Vỹ. Y có tài kinh thiên động địa, xuất quỷ nhập thần. Dù ta canh phòng đến dâu, y cũng ăn cắp được.

Thoát Hoan truyền tha cho tên thiên phu. Tên thiên phu khải:

– Sau khi chư quân đổ bộ, thần sai mỗi chiếc thuyền một tên lính ngủ lại canh gác. Đêm bọn Ngạc binh từ dưới nước leo lên thuyền giết binh canh, rồi cắt dây cột thuyền, cầm lái cho thuyền xuôi giòng.

Trong suốt 10 ngày, hằng ngày Thoát Hoan đều sai người vào nhà tù chiêu hàng Trần Bình Trọng. Nhưng hầu cũng như các võ sĩ không chịu ăn uống, chỉ nghe mà không trả lời. Tới ngày thứ 10, viên văn quan chiêu hàng khải với Thoát Hoan tình hình:

– Lòng dạ tên Trần Bình Trọng như thép, không thể thay đổi.

Biết không chiêu dụ được, Thoát Hoan ra lệnh đem hầu cùng 10 tráng sĩ ra bãi đất chém đầu cho toàn danh tiết.

Hôm đó là ngày 21 tháng Giêng năm Ất Dậu (26-2-1285), nhằm niên hiệu Thiệu Bảo thứ bẩy đời vua Trần Nhân Tông, bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 22 đời Thế tổ Hốt Tất Liệt.

* Ghi chú của thuật giả: Sau khi hết giặc, triều đình nghị công truy phong cho Trần Bình Trọng tước Bảo Nghĩa vương, lập đền thờ ngay tại bãi Đà mạc. Đặng Minh Khiêm trong thi tập vịnh sử có thơ ca tụng Vương:
Cam tâm thệ tác Nam triều quỷ,
Phản diện tu xưng Bắc địa vương.
Đà mạc châu biên tu chính khí,
Đường đường đế trụ thiết vi trường.
(Một lòng thà làm quỷ nước Nam.
Ngoảnh mặt không làm vương đất Bắc
Bên bãi Đà mạc chính khí tỏ ra,
Dòng dõi vua xưa, dạ sắt son).
Đương thời nhiều nơi lập đền thờ Bảo Nghĩa vương. Nhưng đền thờ chính tại xã Mạn trù, huyện Đông anh, phủ Khoái châu, tỉnh Hưng yên. Trải qua 624 năm, cho đến nay (2005) huân công, lòng yêu nước của Vương, luôn được nêu cao. Hằng năm đến ngày 21 tháng giêng, dân chúng tổ chức giỗ Vương rất long trọng. Hằng tháng, ngày sóc, ngày vọng vẫn hương khói, cúng rất thành kính. Ngoài ra, tại đền thờ Hưng Nhượng vương ở Cửa ông, đền thờ các vua Trần và Hưng Đạo vương ở Mỹ Lộc, Nam định, đền Kiếp bạc ở Hưng yên đều có tượng thờ Bảo Nghĩa vương. Các giáo sư, giáo viên dậy sử khi giảng về Vương, đều khiến cho học sinh bừng bừng chính khí khâm phục.
Một thi sĩ đầu thế kỷ thứ 20 là Phan Kế Bính đã làm thơ ca tụng Vương:
Giỏi thay Trần Bình Trọng,
Dòng dõi Lê Đại hành;
Đánh giặc dư tài mạnh,
Thờ vua một tiết trinh.
Bắc vương sống mà nhục,
Nam quỷ thác cũng vinh.
Cứng cỏi lời trung liệt,
Nghìn thu tỏ đại danh.
Trên tất cả các thành phố lớn ở Việt Nam, đều có đường mang tên Vương. Có nhiều trường mang tên Vương. Nhiều khóa sĩ quan mang tên Trần Bình Trọng.
Tài liệu ghi chép (bằng chữ Hán):
– Về Trần Bình Trọng:
Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ 4).
Nam thiên trung nghĩa lục,
Thoát hiên vịnh sử.
– Về đền Kiếp bạc ở xã Hưng đạo, huyện Chí linh, tỉnh Hưng yên:
Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ 5-6).
Khâm định Việt sử thông giám cương mục (CB6-CB8).
An Nam chí lược,
Đại Nam nhất thống chí.
Hưng yên tỉnh nhất thống chí.
Hưng yên danh tích lược biên,
Nam định tỉnh đia dư chí,
Đồng Khánh địa dư chí,
Địa dư chí,
Bắc thành địa dư chí lục.

(Hết Hồi 104)

Share this post