Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 104

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 104

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM LẺ BỐN
Ta thà làm quỷ nước Nam,
Còn hơn làm vương đất Bắc.
(Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng)

Ngày 25 tháng chạp, năm Giáp thân (31-1-1285) niên hiệu Thiệu Bảo thứ sáu đời vua Trần Nhân Tông bên Đại Việt.

Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 21 đời Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt.

Khiết Tiết Tán Lược Nhi đem 3 vạn phu khác thay thế cho đám của Bột La Cách Đáp Nhĩ. Chiến lũy đã bị phá mất lớp thứ nhất. Quân Nguyên tràn vào trong. Quân Việt nấp trong lớp thứ nhì tiếp tục chiến đấu. Cuộc chiến cực kỳ khốc liệt tiếp tục diễn ra.

Thoát Hoan ngồi trên đỉnh đồi quan sát. Y nóng lòng, chạy tới chiến lũy, chính tay thúc trống cổ võ cho quân Nguyên. Giữa lúc thắng nghiêng về phía Nguyên. Thì tại một góc chiến lũy thông với khu đồng lầy, cánh cổng mở rộng. Một đoàn Ngưu binh xông ra, dàn thành trận đánh vào hông quân Nguyên. Thoát Hoan cầm tù và, gọi kị binh tới. Nhưng kị binh vừa bước được mươi bước thì bị sa lầy, lùi không được, mà tiến không xong. Kị binh làm mồi ngon cho Ngưu binh.

Khiết Tiết Tán Lược Nhi thấy ba vạn binh của mình còn không quá một phần ba. Y đề nghị với Thoát Hoan:

– Mình đánh từ sáng đến giờ, hy sinh quá nhiều. Mà quân Man Việt mệt lắm rồi. Xin vương gia cho rút lui. Đợi cánh quân của Lý Hằng đánh vào sau lưng chúng thì mình lại cho quân tấn công tiếp.

Thoát Hoan cũng tự cảm thấy mệt mỏi. Y thổi tù và thu quân. Thế là quân Nguyên mang thương binh, xác chết rời khỏi lớp thứ nhì của chiến lũy ra ngoài. Bỏ đợt đánh đêm. Ngưu binh cũng đã ngừng tấn công. Quân Việt trở lại chiến lũy thứ nhất, sửa lại rào, đắp lại chiến lũy.

Về tới bản doanh, Thoát Hoan truyền vương phi Ngọc Trí làm tiệc, cùng chư tướng ăn uống hội họp, bàn kế hoạch ngày hôm sau. A Lý Hải Nha thiết kế:

– Ngày mai, mình dùng hư binh reo hò ngoài chiến lũy khiến cho quân Man Việt phải tại vị trí phòng thủ. Ta cứ tiếp tục như thế, trong ba ngày thì chúng mệt lử, ta mới tấn công. Bấy giờ Lý Hằng cũng đã tới phía sau lưng chúng.

Tiệc vừa bầy ra, thì ngựa lưu tinh báo:

– Kị binh tiền quân của Lý Hằng trúng phục binh của Man Việt. Quân Man cực kỳ dũng mãnh, lại có Ngưu binh yểm trợ. Cuộc giao chiến bất lợi về phía ta. Nạp Hải đấu với tướng giặc là Hoài Nhân vương bị thương nặng.

Thoát Hoan nhảy dựng lên:

– Rõ ràng tin của tên thân vương báo, dọc thượng đạo Hưng Đạo vương không phối quân trấn thủ kia mà? Hiệu binh đó là hiệu nào của giặc? Tướng chỉ huy là ai?

A Lý Hải Nha trầm ngâm:

– Có thể tin tức của tên thân vương sai. Có thể Hưng Đạo vương mới điều quân tới thượng đạo.

Tiệc vẫn tiếp tục.

Sang canh ba, quân lại báo:

– Có hai hiệu binh trấn thượng đạo. Một hiệu tên Hàm tử. Tướng chỉ huy là Trấn bắc đại tướng quân Trần Quốc Toản, tước Hoài Văn hầu. Một hiệu tên Tứ thần, tướng chỉ huy là Hoài Nhân vương. Kị binh của Nạp Hải chong mặt với Ngưu binh qua đêm trong thung lũng cây khô, cỏ nỏ.

A Lý Hải Nha kinh hoảng ra lệnh:

– Kị binh sợ nhất là rừng rậm. Nạp Hải là tướng kị binh kinh nghiệm mà sao không biết thế? Trong thung lũng mùa này cỏ khô. Nếu giặc dùng hỏa công thì sao?

Y sai ngựa lưu tinh khẩn đem lệnh cho Nạp Hải. Nhưng ngựa chưa lên đường thì có tin báo:

– Trần Quốc Toản dùng Ngưu binh, dùng hỏa công đốt thung lũng. Lửa cháy tứ bề. Ô Mã Nhi mang quân mở vòng vây cứu kị binh. Ô Mã Nhi giao chiến với Trần Quốc Toản bất phân tháng bại. Đao của Ô Mã Nhi bị kiếm của Toản chặt đứt.

Sang giờ Sửu lại có quân báo:

– Đội quân chở lương cho kị binh, bộ binh bị bọn Đại đởm đột kích đốt hết. Tôn Lâm Đức bị Hoài Nhân vương đánh bại, bị trọng thương.

Sang giờ Mão lại có tin báo:

– Thượng đạo bị hai hiệu binh Hàm tử và Tứ thần đóng chặn mất đường tiến quân. Lý Hằng đang kiểm điểm nhân mã để mở đường.

A Lý Hải Nha than:

– Ôi thôi, kế hoạch đánh úp sau lưng Chi lăng đã bị lộ, dù Lý Hằng có mở được đường cũng vô ích. Bây giờ ta chỉ còn có thể trực diện đánh Chi lăng mà thôi.

Sáng hôm sau, tin báo cho Trấn Nam vương biết:

Cánh quân phía Tây của hành tỉnh Vân nam là Nạp Tốc Lạt Đình [Nâsir ud Din, đọc là Na xít út Đin] tiến như vũ bão. Các đạo quân phòng thủ của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật rút chạy về phía Thăng long. Quân Vân nam đuổi tới Thảo lâm, đang vượt sông Bạch hạc.

Lại có tin:

Cánh quân của Toa Đô từ Chiêm đánh vào Hoan châu, Diễn châu (Hà tĩnh, Nghệ an), thế như chẻ tre. Quân Man Việt bị phá. Triều Trần phải điều Chiêu Văn vương Nhật Duật vào trấn thủ”.

Thoát Hoan nhảy dựng lên:

– Hà! Hà! Bây giờ không cần đánh phía sau Chi lăng nữa. Ngày mai, ta dùng 10 vạn quân tràn ngập Chi lăng rồi tiến đánh Nội bàng, Vạn kiếp. Còn Nạp Tốc Lạt Đình, Toa Đô phải tiến về Thăng long bắt cha con Nhật Huyên.

Sáng hôm sau, Thoát Hoan thăng trướng sớm. A Lý Hải Nha điều quân:

– Phòng tuyến phía bắc của Chi lăng có tới 10 lớp chiến lũy. Phía đông là đồng lầy, chỉ có ba lớp. Phía Tây giáp núi đồi lại chỉ có 2 lớp. Hôm trước ta đánh vào phía bắc. Hôm nay ta đánh cả ba mặt. Vậy Bột La Cáp Đáp Nhĩ đánh mặt bắc. Khiếp Tiết Tán Lược Nhi đánh vào phía tây. Lý Bang Hiến đánh vào phía đông.

Thoát Hoan vỗ tay lên án thư:

– Đánh như vũ bão. Sao cho giờ ngọ phải chiếm được Chi lăng. Ai hạ được cây cờ trong chiến lũy sẽ được thăng ba cấp, thưởng cho 100 lượng vàng. Ai bắt, giết được Dã Tượng sẽ được thăng 5 cấp. Bao nhiêu của cải của y, sẽ được thưởng hết.

Ba tướng rời trướng.

Thoát Hoan, A Lý Hải Nha ngồi chờ tin.

A Lý Hải Nha hỏi Thoát Hoan:

– Hoàng thượng sợ tế tác của An nam, nên giấu kín tên thân vương quy phục mình. Không lẽ người dấu cả vương gia?

Thoát Hoan ghé miệng vào tai A Lý Hải Nha nói cho y nghe. A Lý Hải Nha cười:

– Thế thì mình vào Thăng long như đi chơi vậy! Việc bắt Nhật Huyên không khác gì bắt ba ba trong rọ.

Thoát Hoan dặn A Lý Hải Nha:

– Khi vây bắt Nhật Huyên thế nào cũng phải giao chiến với đội nữ Thị vệ. Mà đội này do công chúa An Tư chỉ huy. Quân sư phải thiết kế bắt sống bằng được cô công chúa này.

A Lý Hải Nha mỉm cười:

– Vương gia an tâm. Thần sẽ thi hành chỉ dụ của vương gia.

Đến đó có tiếng quân reo, ngựa hý, tiếng pháo lệnh nổ. Quân báo:

– Ba mặt của ta bắt đầu đánh vào chiến lũy.

Thoát Hoan, A Lý Hải Nha bồn chồn trong lòng. Cả hai đi đi lại lại trong căn lều da lớn như một tòa nhà.

Quân báo:

– Cả ba mặt chiến lũy, quân ta đã vào được lớp thứ nhất. Quân Man bỏ chạy. Không gặp kháng cự.

Quân báo tiếp:

– Cả ba mặt không thấy bóng quân Man. Quân ta vào trong, chiến lũy không còn bóng một quân Man. Chư tướng chia quân lục khắp nơi, không còn một tên nào cả.

Thoát Hoan, A Lý Hải Nha lấy ngựa đến chiến lũy Chi lăng. Bột La Cáp Đáp Nhĩ tường trình:

– Rõ ràng quân Man bỏ trốn đêm qua.

Đến đó có thám mã của đạo quân đi theo thượng đạo báo:

– Trong đêm, hai đạo quân Hàm tử, Tứ thần âm thầm rút lui. Có tin nói, hai hiệu quân này rút về trấn Thăng long. Tả thừa Lý Hằng đang cho quân tiến về Vạn kiếp.

Thoát Hoan cho họp ngay trong ngôi nhà chính của chiến lũy Chi lăng.

Thoát Hoan cười:

– Bọn Man Việt hèn thực. Bốn ải biên giới chỉ đánh được một ngày, đã trốn hết, bỏ ải chạy bán mạng. Đến Chi lăng cũng chỉ đánh được hai ngày. Hai hiệu binh mạnh nhất là Hàm tử với Tứ thần cũng chỉ đánh có một trận. Bây giờ chúng ta chuẩn bị đánh Nội bàng, Vạn kiếp rồi vào Thăng long ăn tết.

Lòng A Lý Hải Nha đầy nghi ngờ về việc đồn ải nào cũng chỉ đánh một trận rồi bỏ chạy! Nhưng chạy đâu thì không biết! Tuy nhiên thấy Thoát Hoan đang lạc quan, y cũng im lặng. Y đem mảnh vải vẽ sơ đồ đồn trú căn cứ Nội bàng, Vạn kiếp do tên thân vương quy phục cung cấp ra:

– Nội bàng là nơi Hưng Đạo vương đặt Tổng hành doanh tiền phương. Vạn kiếp là nơi Hưng Đạo vương đặt Tổng hành doanh. Ta phải cẩn thận hơn. Trấn tại Nội bàng có hiệu Tứ thánh của Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền. Tại Tổng hành doanh Vạn kiếp có hiệu binh Tả thánh dực của Hưng Hiếu vương, 10 đô Ngưu binh. Ta đánh Nội bàng, Vạn kiếp bằng 6 đạo binh khác nhau. Dù Hưng Đạo vương có ba đầu sáu tay cũng không giữ được.

Đạo thứ nhất, tại Vạn kiếp không có nhiều thủy quân. Quốc Uy đại tướng quân Ô Mã Nhi đem 3 vạn bộ binh, thu các dân thuyền, chặt chuối làm bè, tiến theo đường thủy đánh vào mặt nam.

Đạo thứ nhì, Chiêu thảo Nạp Hải dùng 1 vạn kị binh, 3 vạn bộ binh, dọc theo sông tiến từ tây sang đông Vạn kiếp.

Đạo thứ ba, Trấn phủ quân Tôn Lâm Đức, đem 3 vạn bộ binh đánh cắt hiệu binh Tiền thánh dực của Hưng Trí vương Quốc Uy tại núi Đông triều, không cho cứu ứng Vạn kiếp.

Đạo thứ tư, Tả thừa Lý Hằng đem 5 vạn bộ binh đánh vào mặt tây Vạn kiếp.

Đạo thứ năm, Bột La Cách Đáp Nhĩ đem 5 vạn bộ binh, đánh vào phía đông Vạn kiếp.

Đạo thứ sáu, Khiết Tiết Tán Lược Nhi, Lý Bang Hiến đem 6 vạn bộ binh, đánh vào Nội bàng, mặt bắc Vạn kiếp.

Ngày mai, 25 vạn bộ binh, 2 vạn kị binh chia làm 6 đạo đều xuất phát một lúc vào giờ Mão. Trấn Nam vương sẽ đi theo đạo thứ 6, để khích lệ tướng sĩ.

oOo

Ngày 27 tháng chạp, năm Giáp thân (2-2-1285) niên hiệu Thiệu Bảo thứ sáu đời vua Trần Nhân Tông bên Đại Việt.

Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 21 đời Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt.

Tại điện Uy viễn, trong thành Thăng long, Thượng hoàng (Thánh tông), Thiệu Bảo hoàng đế (Nhân tông) họp nội các, theo dõi chiến cuộc.

Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, Tổng trấn Thăng long, kiêm Quản Khu mật viện tường trình chi tiết các trận đánh Chi lăng, thượng đạo Đâu đỉnh. Rồi kết luận:

– Trong lúc khẩn cấp, Hưng Đạo vương đã điều hai hiệu binh thiện chiến nhất là Hàm tử với Tứ thần chặn đánh đạo kỳ binh của Lý Hằng. Quốc Toản, Quốc Kiện tuy chỉ có 2 vạn quân, mà đánh 4 vạn bộ, 1 vạn kị của Lý Hằng nghiêng ngả. Dùng hỏa công đốt kị binh trong thung lũng thượng đạo. Sau trận này, hai hiệu Hàm tử, Tứ thần được điều về Gia lâm, bảo vệ Thăng long.

Vương tiếp:

– Vì vậy tại Nội bàng, Vạn kiếp chỉ có ba hiệu binh Tứ thánh của hai tướng Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền đóng chặn tại Nội bàng. Hiệu Tiền thánh dực của Hưng trí vương đóng tại núi Đông triều. Hiệu Tả Thánh dực cuả Hưng Hiếu vương tại Vạn kiếp. Bây giờ đại quân Nguyên đều đã nhập Việt. Thoát Hoan dùng tới 26 vạn bộ binh, 2 vạn kị binh chia ra làm 6 mũi đánh Nội bàng, Vạn kiếp. Sáng nay Nguyên xuất quân.

Vương kết luận:

– Với ba hiệu binh, thì dù Hưng Đạo vương có tài đến đâu cũng không thể chống lại 26 vạn bộ binh, 2 vạn kị binh. Nội bàng, Vạn kiếp sẽ bị tràn ngập trong một ngày.

Đến đó tin tức báo về:

– Tất cả các xã chống lại Nguyên, khi Nguyên đánh chiếm được, chúng san bằng hệ thống phòng thủ. Nhà đốt sạch. Chúng giết tất cả dân chúng, dù già, dù trẻ, thây phơi đầy đồng. Còn đàn bà con gái từ 10 tuổi trở lên thì đem cho quân hiếp. Hiếp chán, chúng ném xác vào những căn nhà đang bị đốt cháy. Tin này rúng động toàn quốc. Các làng xã rục rịch đầu hàng để được toàn vẹn.

– Đạo binh Nguyên từ Vân nam đã tiến tới Kinh bắc. Đạo binh gày đã bắt tay được với đạo binh từ Cao bằng của A Lý Hải Nha.

Thượng hoàng, Hoàng đế cùng ôm đầu nhăn mặt, rùng mình. Thượng hoàng hỏi:

– Nội bàng, Vạn kiếp bị thất thủ thì Thăng long nguy tai. Vậy vương có đề nghị gì không?

Chiêu Quốc vương nói:

– Với quân số Nguyên đông như vậy, dù mình có tập trung cả 15 hiệu binh về, cũng không cứu được Thăng long. Đánh thì 15 vạn của mình không thể chọi với 50 vạn của Nguyên. Đánh thì tướng sĩ chết uổng, Nguyên sẽ làm cỏ Thăng long. Vậy chi bằng chịu khuất phục, đầu hàng, cung ứng lương thảo, mở đường cho chúng đánh Chiêm thành. Đó là kế vạn toàn.

Công chúa An Tư phản đối:

– Như đã bàn trước đây, mình hàng thì Thoát Hoan sẽ phế bỏ triều đình, lập Tuyên phủ ty, bổ nhiệm quan chức của mình. Chúng sẽ lập một An nam quốc vương bù nhìn, rồi dần dần khi đã giải thể binh đoàn của mình, chúng sẽ cử một thân vương Mông cổ sang làm An nam vương. Sự này từng xẩy ra ở Tây tạng, Hồi cương, Đại lý cũng như các nước Tây vực.

Khâm Từ hoàng hậu góp ý:

– Chi bằng triều đình tạm phân tán vào dân chúng, hoàng cung rút về Thiên trường. Ta ẩn nhẫn, rồi phản công.

Đến đó có tin báo:

– Dù đã chiến đấu hết sức can trường, hiệu binh Tứ thánh của hai tướng Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền bị đánh tan. Ai Nội bàng thất thủ. Quân Nguyên ồ ạt tiến về Vạn kiếp. Thoát Hoan cử sứ đến Vạn kiếp chiêu hàng Hưng Đạo vương.

Thượng hoàng ban chỉ cho Thiệu Bảo Hoàng đế:

– Con hãy lấy thuyền lên Vạn kiếp đưa ý kiến đầu hàng xem Hưng Đạo vương quyết định ra sao!

An Tư nói với Thượng hoàng bằng ngôn từ gia đình:

– Em xin đem Thị vệ theo hộ tống Thiệu Bảo.

Khâm Từ hoàng hậu cũng tâu:

– Con xin theo hộ tống xa giá.

Nhà vua dùng 5 con thuyền từ Thăng long lên Vạn kiếp. Thuyền vừa cập bến thì Yết Kiêu đón lên bờ.

Lễ nghi tất. Hưng Đạo vương tâu:

– Trận chiến đang diễn ra cực kỳ ác liệt. Hưng Trí vương phải chống với đạo quân 3 vạn người của Trấn phủ quân Tôn Lâm Đức. Hiệu binh Tiền thánh dực tại núi Đông triều, đã đẩy lui 10 đợt xung sát. Giặc chết hơn 2 vạn. Thoát Hoan gửi thêm 3 vạn nữa, quyết tiêu diệt trọn vẹn quân mình.

Nhà vua buồn buồn nói:

– Trước tình thế này, mình không thể đương nổi với Nguyên. Thượng hoàng nghe lời nghị của Chiêu Quốc vương, muốn đầu hàng để quân, tướng không bị chết vô ích, tránh cái vạ tàn sát dân chúng của Thát đát. Người muốn thỉnh thị ý kiến của vương.

Nguyễn Địa Lô tâu:

– Nguyên dùng số đông tràn ngập, dù chết nhiều đến đâu chúng cũng không từ. Ta tuy mất một số ải, nhưng tinh lực ta còn nguyên. Tại sao phải đầu hàng?

Hưng Đạo vương tâu:

– Vùng Hoan châu, Ái châu [Thanh hóa, Nghệ an] ta còn 10 vạn tinh binh. Vùng Thiên trường vững như bàn thạch. Ta hãy rút khỏi Thăng long, để giặc phải trải quân khắp nơi. Bấy giờ ta mới phản công.

Vương cương quyết:

– Nếu bệ hạ muốn hàng, xin chém đầu tôi trước đã.

Nhà vua yên tâm, xuống thuyền về Thăng long. Ngài nói với tả hữu:

– Xưa kia Việt vương Câu Tiễn, quân tan, nước mất, thủ đô Cối kê bị phá nát, nhưng vẫn can đảm kiên trì phục quốc. Ta há lại thua người xưa ư?

Ngài cầm bút viết lên mạn thuyền:

Cối kê cựu sự quân tu ký,
Hoan, Ái do tồn thập vạn binh.

(Cối kê sự cũ người nên nhớ,
Hoan, Ái vẫn còn mười vạn binh).

Nhà vua rời khỏi Vạn kiếp thì đại quân Thoát Hoan cũng ào ào tràn tới.

Từ khi Dã Tượng cùng Thúy Hồng bỏ Chi lăng ém quân vào rừng. Hầu nói với Thúy Hồng:

– Đại quân Thoát Hoan đã nhập vào bắc cương rồi. A Lý Hải Nha ắt dùng số đông đánh Vạn kiếp. Anh cần tới 10 đô Ngưu binh chống với chúng.

Hầu tới Vạn kiếp, chỉnh đốn lại 10 đô Ngưu binh, phối trí các ngả, chuẩn bị chống giữ.

Hưng Hiếu vương cùng hiệu Tả Thánh dực dàn ra trong chiến lũy chống trả mãnh liệt. Dã Tượng chỉ huy Ngưu binh tả xung hữu đột chống vời kị binh Nguyên. Nhưng đợt này bị giết, đợt khác lao tới. Cuộc chiến từ giờ Thìn, tới giờ Mùi, quân Nguyên chết dến hơn 3 vạn, nhưng A Lý Hải Nha đem các vạn phu khác thay thế. Dù Dã Tượng đích thân chỉ huy, 10 đô Ngưu binh, bị tử thương còn hơn trăm trâu. Quân trú phòng đã bắn đến mũi tên cuối cùng. Hưng Hiếu vương khải với Hưng Đạo vương:

– Phụ vương nên cùng các mưu sĩ rút về Thăng long thôi. Con chỉ còn chống giữ được một giờ nữa là cùng.

Dã Tượng khải với Hưng Đạo vương:

– Phụ vương. Yết Kiêu cùng các đô Ngạc binh vẫn còn ở bến sông. Yết Kiêu chưa thấy vương, ắt không chịu cho thuyền rời bến đâu.

Hưng Đạo vương tới bến sông, quả nhiên Yết Kiêu đang ngồi chờ vương trên con thuyền. Vương cùng các tướng tham mưu xuống thuyền. Thuyền rời bến, cũng là lúc các bè của Ô Mã Nhi đang xuôi giòng tới. Kị binh cũng tới. Dã Tượng can trường chỉ huy số Ngưu binh còn không quá trăm con dàn ra đánh với kị binh. Các ngạc binh lặn xuống cắt dây buộc bè chuối. Bè tan, quân Nguyên trên bè bị chìm xuống sông, bị nước cuốn đi, bị Ngạc binh giết chết. Trận chiến tới đêm, thì quân Nguyên chiếm được Vạn kiếp.

Hưng Đạo vương cảm động vì lòng trung của Yết Kiêu, vương nói một câu, lưu truyền trong sử Đại Việt:

Ôi chim hồng, chim hộc có thể bay cao được tất phải nhờ 6 trụ xương cánh. Nếu không có thì cũng như chim thường thôi”.

oOo

Ngày 12 tháng giêng, năm Ất dậu (17-2-1285) niên hiệu Thiệu Bảo thứ bẩy đời vua Trần Nhân Tông bên Đại Việt.

Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 22 đời Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt.

Cánh quân của hành tỉnh Vân nam là Nạp Tốc lạt Đình và cánh quân của Thoát Hoan đã hội ngộ với nhau. Các vạn phu đóng dài suốt một giải từ Vạn kiếp tới Đông bộ đầu. Từ ngã ba sông Bạch hạc đến Gia lâm. Đêm đêm đèn đuốc sáng rực một vùng. Bên sông hồng, quân Nguyên kéo một lá cờ lớn, rồi cho ngựa hí, quân reo, trống thúc uy hiếp tinh thần quân Việt!

Đối diện với quân Nguyên, đích thân Thiệu Bảo Hoàng đế cũng dàn quân bên kia sông, chiến thuyền đậu một giải liên tiếp với nhau. Hai dũng tướng Hoài Nhân vương, Hoai Văn hầu chỉ huy hai hiệu Hàm tử, Tứ thần bầy trận, rồi nã pháo sang trại Nguyên.

Thiệu Bảo Hoàng đế muốn biết tình hình tổng quát quân giặc, hỏi quần thần:

– Ai có thể đi sứ sang trại giặc?

Đỗ Khắc Chung tình nguyện đi. Chung một người, một ngựa tới trại Nguyên. Không thấy Thoát Hoan, A Lý Hải Nha, mà chỉ thấy Ô Mã Nhi, Lý Hằng tiếp.

Ô Mã Nhi trách móc về hai chữ Sát Đát thích trên cánh tay quân lính:

– Nước người dám khinh lờn đại binh của Thiên triều. Cái tội ấy to lắm.

Khắc Chung ung dung trả lời:

– Con chó trong nhà cắn người lạ, vì không phải là chủ nó. Việc thích chữ vào tay là do lòng trung phẫn của người nước tôi, tự ý thích vào đấy.

Nói rồi Chung vén áo trật cánh tay cho Ô Mã Nhi xem hai chữ Sát Đát:

– Chính tôi cũng thích chữ đấy.

– Đại binh từ phương xa tới đây sao không theo lễ nghi tiếp đón, lại dám kháng cự mệnh lệnh?

– Hiền tướng không bắt chước sách lược bình định nước Yên ngày trước; đóng binh ở địa đầu quan ải, đem thư báo tin có phải tốt đẹp không? Đây hiền tướng tung quân đánh ải, giết dân. Như vậy rõ ràng hiền tướng không có lòng tốt với nước tôi, đấy là lỗi ở hiền tướng. Hiền tướng đem binh đến ức hiếp nhau như thế; đến con chó khi cùng cũng cắn lại, con chim bi ép cũng mổ lại; huống chi là người.

– Đại binh mượn đường đánh Chiêm. Nếu vua anh đến đây hội kiến thì trong ấm, ngoài êm. Còn như chống lại thì chỉ trong khoảnh khắc non sông bị san bằng. Đến lúc ấy dầu có muốn hối lại cũng muộn.

Khắc Chung ra về. Ô Mã Nhi khen:

– Người này thực dũng cảm phi thường, An Nam có những người như thế, ta chưa dễ gì bình được.

Ô Mã Nhi chợt nhận ra sự thực:

– À thì ra tên này không hề đi sứ, mà tới dò quân tình. Nó chỉ thấy ta tiếp, thì biết rằng Trấn Nam vương, quân sư không có ở đây, thì rõ ràng là ta chưa chuẩn bị đánh ngay. Phải đi bắt lại.

Y điểm một bách phu đuổi theo, bắt Khắc Chung lại. Khi qua bến sông thì có một tiếng chiêng vang lên, hơn 100 ngưu binh dàn ra xung vào đội hình kị binh. Ô Mã Nhi vọt ngựa lên trước tay phát chiêu đánh bay một Ngưu binh. Tự nhiên y cảm thấy ngộp thở, rồi một chiêu chưởng êm đềm chụp lên đầu, sát thủ kinh khủng. Y vận đủ mười thành công lực đỡ. Binh một tiếng, người y rung động, tai nghe tiếng vo vo không ngừng. Y nhìn lại: người đánh y là một thiếu niên hùng vỹ phong lưu tiêu sái, mà y từng giao đấu trong trận vượt thượng đạo. Y vọt người lên tấn công thiếu niên, thì một con vượn lông trắng từ trên cây gần đó đáp xuống như thiên tướng. Con vượn giáng xuống lưng y một côn sắt. Y tung mình lên cao tránh, thì con ngựa của y hí lên một tiếng thảm thiết, xương sống gẫy gập, ngã lăn ra. Y hỏi:

– Tướng kia là ai?

Y nhìn: phía sau tướng trẻ có cây cờ thêu hàng chữ:

Trấn bắc đại tướng quân,
Hoài Văn hầu.

Y than thầm:

– Thì ra tên ôn con Trần Quốc Toản.

Bách phu của Ô Mã Nhi đã bị Ngưu binh giết sạch. Quốc Toản, con vượn cỡi trên lưng trâu với đội Ngưu binh đang lội xuống khu đồng lầy. Đâu đó tiếng tiêu vi vu vọng lại.

– Ôi! Vô địch Ô Mã Nhi cũng bình thường thôi.

Ô Mã Nhi về đến trại, thì đã thấy Thoát Hoan, A Lý Hải Nha cùng chư tướng hiện diện. Thoát Hoan xoa tay vào nhau:

– Cô gia được tin báo của tên gian vương Việt quy phục: triều đình Man Việt chia làm hai rút về Thiên trường. Nhật Huyên (Thượng hoàng Thánh tông) rút về vùng Trường yên bằng đường bộ. Còn Thiệu Bảo (Nhân tông) thì rút về Thiên trường bằng đường thủy. Vậy không cần dàn quân đánh nhau với chúng làm gì. Ta cần bắt Thượng hoàng với Thiệu Bảo thì coi như bình định An nam xong.

A Lý Hải Nha cầm trục giấy đọc:

– Đây! Tên gian vương báo cho ta tin tức mới nhất. Thăng long bỏ trống, không có quân phòng vệ. Hai hiệu binh Tứ thần của Hoài Nhân vương, Hàm Tử của Hoài Văn hầu trấn phía cánh đồng Văn, nam Thăng long, cản hậu cho Thượng hoàng của chúng rút chạy. Vậy ta cho bắc cầu phao sang sông, chiếm Thăng long.

Thoát Hoan hồ hởi:

– Trong hai cha con Nhật Huyên, ta chỉ cần bắt được một tên là đủ. Sau khi bắt được một tên, ta truyền hịch đi khắp nơi, làm lễ đăng quang, tấn phong tên thân vương quy phục làm An Nam quốc vương. Tên An Nam quốc vương mới sẽ ban chỉ các tướng, các An phủ sứ, Tuyên vũ sứ về Thăng long chầu hầu, ra lệnh toàn quân buông vũ khí. Ta lập Tuyên phủ ty, rồi từ từ rút quân.

A Lý Hải Nha điều quân:

– Ta tạm đóng đại quân tại các địa phương chính. Trước hết tại nam thùy có 3 khu là Nghệ an, Thanh hóa, Trường yên. Do thân vương Giảo Kỳ, Hữu thừa Toa Đô, Tả thừa Hành tỉnh Chiêm Đường Ngột Đải, binh bộ thị lang Diệc Hắc Mê Thất. Tại phía bắc ta đồn trú quanh Thăng long: Tây kết, Chương dương, Đông bộ đầu, Gia lâm, Kinh bắc.

Y quyết định:

– Chiêu thảo Nạp Hải chỉ huy Thiết đột đóng trong thành. Phải coi chừng bằng không sẽ bị trúng phục binh của Trần Quốc Toản, Trần Quốc Kiện.

Nạp Hải rời trướng.

– Trấn phủ quân Tôn Lâm Đức, đem 3 vạn bộ binh, 1 vạn kị binh vượt sông trấn tại cửa nam Thăng long, phòng hai hiệu binh của Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu tập kích.

Tôn Lâm Đức rời trướng. A Lý Hải Nha nói tiếp:

– Tên thân vương quy hàng báo cho biết Thượng hoàng của chúng dùng đường bộ rút về Thiên trường, dối rằng rút về Trường yên. Từ Thăng long về Thiên trường phải qua 41 làng xã. Mỗi làng xã là một thành. Muốn chiếm 41 xã rất khó khăn, rất lâu. Lại nữa hai tên ôn con Quốc Kiện, Quốc Toản cản hậu cho Nhật Huyên chạy. Cần đánh như sét nổ, bắt cho được Thượng hoàng của chúng. Hữu thừa Khoan Triệt (1) chỉ huy vạn phu Mang Cổ Đái (2), vạn phu Bôn Kha Đa (3), đem 4 vạn bộ binh, 2 vạn kị binh vượt thành Thăng long, đuổi theo Trần Huyên; chắc chắn phải giao chiến với hiệu binh Tứ thần của Trần Quốc Kiện và hiệu binh Hàm tử của Trần Quốc Toản. Sau khi vượt qua 8 xã, tới ngã ba Tam lộ, đây là ngã ba đi Thiên trường, Trường yên. Tại đây có hiệu binh Thiên thánh, do Quang nghĩa thượng tướng quân, Hải lộ hầu Trần Bình Trọng trấn đóng. Phải dùng số đông tràn ngập, rồi tiến về Trường yên, chờ Toa Đô từ Thanh hóa tới.

* Ghi chú: (1) Khoan Triệt, Nguyên sử phiên âm từ tên Mông cổ là Koncak đọc là Kôn Trếch. (2) Mang Khu Đải, Nguyên sử phiên âm từ tiếng Mông cổ là Mangqudai. (3) Bôn Kha Đa, Nguyên sử phiên âm từ tên Mông cổ là Bolqadar.

Khoan Triệt ái ngại:

– Trần Quốc Toản, Trần Quốc Kiện là hai tướng võ công, tài dùng binh vào hàng đệ nhất của An Nam. Tôi không phải đối thủ của chúng! Lại còn tên Trần Bình Trọng, tài dùng binh của y không tầm thường.

Thoát Hoan ban chỉ:

– Chúng chỉ có hai vạn người trong khi Hữu thừa có 4 vạn bộ, 2 vạn kị. Hữu thừa dùng số đông tràn ngập thì chúng phải bại.

Y vẫy 3 tướng lại gần:

– Tên gian vương đã nộp cho ta sơ đồ phòng thủ các xã từ đây tới Tam lộ. Các người xem kỹ, tìm những chỗ không phòng thủ, những chỗ không có hệ thống chướng ngại như lạch, chông, rào. Rồi chia quân làm hai. Một cánh hư đánh phía trước để hút lực lương chúng, một cánh thực, đánh vào phía sau. Tất cả các xã, đều có những đường đặc biệt, để khi thấy không giữ nổi làng thì rút sang làng khác. Các người phải phục một đội quân tại những con đường này, giết tuyệt không tha một mạng nào.

Y nhấn manh:

– Chiến lũy Tam lộ rất chắc, do tên Trần Bình Trọng trấn thủ. Về võ công, về hành quân, bố trận, các người không phải là đối thủ của y. Nhưng chiến lũy quá rộng, phía hông phải, trái có đến 5 chỗ không có quân phòng thủ. Các người cho vài thiên phu đột nhập vào đây, thì lực lượng phòng thủ phải vỡ.

Khoan Triệt, Mang Cổ Đải, Bôn Kha Đa rời trướng.

A Lý Hải Nha tiếp:

– Tên thân vương báo cho ta biết Thiệu Bảo cùng cung quyến rút theo đường thủy. Ta cần bắt nhà vua Thiệu Bảo. Vậy Lý Bang Hiến đem một thiên phu gốc Mông cổ đuổi trên sông, chặn phía trước vây bắt cho được triều đình.

Lý Bang Hiến hỏi:

– Chúng rút bằng đường thủy, e chúng tôi đuổi không kịp.

A Lý Hải Nha cười:

– Tên thân vương đã vẽ cho ta con đường tắt, có thể dùng ngựa đi đường bộ, đến vùng Đa mạc. Tại đây y sẽ cấp cho một thủy đội. Lý tướng quân dùng ngựa phi dọc sông, tới gần Đa mạc thì xuống thuyền, chặn ngang sông vây bắt chúng như bắt ba ba trong rọ.

A Lý Hải Nha gọi Kiết Tiết Tán Lược Nhi:

– Tướng quân đem một vạn phu gốc Mông cổ, dùng thuyền đuổi theo triều đình An Nam. Ép phía sau.

Y gọi Lý Hằng:

– Tuy phía trước Lý Bang Hiến chặn trên sông, phía sau Kiết Tiết Tán Lược Nhi truy sát. Nhưng tôi vẫn không yên tâm. Vậy Tả thừa Lý Hằng đem 5 nghìn cung thủ tiếp viện cho Kiết Tiết Tán Lược Nhi. Tổng chỉ huy cuộc truy bắt cho được vua An nam.

Lý Hằng than:

– Tôi vượt sông, đổ bộ chận bắt Thiệu Bảo, phía sau là hai hiệu Tứ thần của Hoài Nhân vương, hiệu Hàm tử của Hoài Văn hầu. Tôi không phải đối thủ của hai tên ôn con này.

– Vậy tôi tăng viện cho Tả thừa Ô Mã Nhi, Hữu thừa Lý Quán. Vương gia với tôi vào Thăng long, rồi sẽ đem đại binh tiếp viện cho Tả thừa.

(Còn tiếp Hồi 104)

Share this post