Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 107 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 107 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM LẺ BẢY
“Trận Hàm Tử giết tươi Toa Đô” (Bình Ngô Đại Cáo)
(Tiếp theo)

Ngày 20 tháng 5 năm Ất dậu (23-6-1285) niên hiệu Thiệu Bảo thứ 7 đời vua Trần Nhân tông.

Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 22 đời Thế tổ Hốt Tất Liệt.

Tại Hàm tử, vương phi Ý Ninh, vương phi Trung nghĩa vương Thanh Nga, Hoài Văn hầu, phu nhân Trần Đại Như Vân đã bố trí quân xong từ cuối giờ thìn. Ba binh Tế tác leo lên cây cao, nhìn về cuối sông Hồng. Nước sông tiếp tục rút xuống. Sang giờ ngọ, Tế tác báo:

– Từ cuối giòng, một hàng thuyền kéo cờ Nguyên đang tiến tới. Chúng thúc trống, khua chiêng vang vang.

Hơn khắc sau đoàn thuyền đi ngang qua Hàm tử. Tế tác báo:

– Tổng cộng 180 thuyền.

Phu nhân Như Vân biết đây là đoan thứ nhất của Ô Mã Nhi với Lưu Khánh. Đợi đoàn thuyền đi xa, phu nhân cầm dùi đánh ba tiếng chiêng. Lập tức thuyền của hạm đội Bạch đằng từ các nhánh sông nhỏ tiến ra sông Hồng. Các chiến hạm dàn ra thành 3 hàng, chặn đường tiến về trước. Thủy quân vừa dàn xong thì Tế tác báo:

– Thuyền Nguyên ở cuối sông đếm không hết, đang tiến lên. Chúng thúc trống, khua chiêng.

Đoàn thuyền Nguyên tới khúc Hàm tử thì đoàn chiến thuyền Bạch đằng dàn ngang. Thuyền Nguyên cũng dàn ngang. Nhưng sông hẹp quá, mỗi hàng chỉ được 5 chiếc. Đây là những thuyền chở bộ binh, kị binh. Binh sĩ không quen thủy chiến. Bước lên sàn thuyền, thuyền chòng chành, ngã xiêu, ngã lộn. Trong khi chiến sĩ thủy quân Bạch đằng là những người sinh ra, lớn trên biển, luyện tập quen. Họ tung mình sang thuyền Nguyên, chém giết như chém bầy heo. Chỉ không đầy một khắc, bốn hàng chiến thuyền Nguyên bị chiếm.

Thình lình quân Nguyên kêu thét lên:

– Thuyền thủng đáy, nước tràn vào thuyền.

– Thuyền chìm.

Những người lái thuyền thấy thuyền chìm thì áp vào bờ. Không có cầu leo lên, mạnh ai nấy nhảy xuống sông, lóp ngóp lội vào bờ. Cả một khúc sông lố nhố đầy người. Một số đã vào được bờ. Vũ khí không, giáp trụ không, cung tên không. Tất cả đưa mắt nhìn vào con đê cao vòi vọi. Phía sau thủy quân Việt đang bắn như bắn vịt.

Tiểu Lý nói với Toa Đô:

– Quân mình là quân bộ, quân kị, không địch lại bọn thủy quân Bạch đằng. Chúng dùng Ngạc binh đục thuyền. Bây giờ mình phải tiến quân lên đê rồi chiếm mấy ngôi làng, sau đó tiến về Thăng long.

Toa Đô hỏi một tên hướng đạo người Việt:

– Đây là đâu? Trên bờ có quân Việt không?

Thình lình trống thúc vang dội! Trên ba cây cao cạnh bờ đê ba ngọn cờ Đại Việt kéo lên. Trên bờ đê hơn mười cây cờ mang chữ: Phá cường địch báo hoàng ân.

Tên dẫn đường kinh hoảng hét lên:

– Trên bờ có hiệu binh Hàm tử. Hiệu này do Hoài Văn hầu thống lĩnh.

Toàn thế binh tướng Nguyên từng nghe đồn đại về hiệu binh Hàm tử với Hoài Văn hầu, hiệu Tứ thần với Hoài Nhân vương. Bây giờ giữa lúc họ đang bị chìm thuyền, lội lõm bõm ở bờ sông, tìm cách lên bờ đê thì trên bờ đê lại xuất hiện hiệu Hàm tử.

Phía sau thủy quân Việt vẫn nã tên veo véo. Toa Đô lăm lăm đoản đao, men theo một bờ đỗi. Tiểu Lý men theo một bờ đỗi. Quân sĩ xếp hàng theo sau. Một số lội ruộng tiến vào đê, tránh tên của thủy quân Việt.

Thình lình một tiếng kẻng vang lên. Trên đê cung thủ Việt xuất hiện bắn xuống. Binh tướng Nguyên kêu thét lên kinh khủng. Toa Đô, Tiểu Lý nhấp nhô mấy cái đã lên được đê. Tiểu Lý gặp một tướng trẻ, thân thể hùng vĩ, chính là Trần Quốc Toản. Quốc Toản đánh một chiêu, y bị bay tung xuống sông. Y bơi lóp ngóp lại một con thuyền chìm, phần trên nhô trên mặt nước. Hoài Văn hầu lại đánh ba chiêu liền, tất cả binh sĩ theo sau Tiểu Lý bị bay tung xuống ruộng.

Toa Đô dẫn đầu một đội quân, vừa lên được đê thì gặp Bạch Viên. Bạch Viên xáng một côn sắt. Toa Đô khinh thường dùng đao gạt. Choang một tiếng, đao của y suýt vuột khỏi tay. Cánh tay y tê rần. Y vọt mình lên đê. Bạch Viên lại vung côn tấn công. Toa Đô là một tướng võ công cao nhất quân Nguyên. Hồi đánh Tống, đánh Nhật, không một tướng nào chịu của y được quá 20 chiêu. Còn Bạch Viên thì công lực thâm hậu, nhưng chiêu số chỉ có giới hạn. Quân Nguyên theo sau Toa Đô đã lên được trên đê khá đông, đang giao chiến với quân Hàm tử. Thanh Nga trấn trên một bờ đỗi. Kiếm thuật của phi khá tinh vi, nên không một tên lính Nguyên nào lên được đê. Tại bờ đỗi vương phi Ý Ninh trấn, quân Nguyên, tướng Nguyên nào cũng chỉ chịu được 2, 3 chiêu là mất mạng.

Hoài Văn hầu đánh bay Tiểu Lý rồi, thì không còn tướng nào dám tiến lên. Thấy Bạch Viên bắt đầu yếu thế, hầu hú lên một tiếng lanh lảnh, vọt mình tới. Còn ở trên không, hầu rút thanh kiếm Trấn bắc xỉa vào giữa làn đao quang của Toa Đô. Choảng một tiếng, cánh tay Toa Đô tê rần, đao suýt vuột khỏi tay. Y cảm thấy chân khí bị mất hết. Y nhảy lùi lại, quát lên:

– Phải chăng mi là Trần Quốc Toản?

– Chính thị.

– Uổng cho mi là đệ nhất cao thủ An Nam, mà hai người đánh một. Nếu mi là anh hùng hãy cùng ta đơn độc đấu.

Quốc Toản cười nhạt:

– Bạch Viên đâu phải người? Mi muốn đơn đấu ư? Được, nếu mi thắng ta, ta sẽ mở vòng vây cho tất cả binh tướng của mi rời đây.

Toa Đô cũng đánh cuộc:

– Ngược lại nếu mi thắng ta thì ta đầu hàng An Nam cùng với tất cả binh tướng.

Bạch Viên tung mình leo lên chót vót cây đa bên cạnh.

Như Vân cầm cờ phất, quân Hàm tử, lui vào trong làng, nhưng vẫn dàn trận nghiêm chỉnh. Quân Nguyên ào ào lên đê. Toa Đô nhìn binh tướng của mình, hơn 3 vạn, mà bị thủy quân giết, bị chết đuối, bị tên bắn ở bờ đê, chỉ còn hơn vạn, y phục tả tơi, vũ khí không còn.

Y đứng thủ thế:

– Nào mời!

Hoài Văn hầu biết đây là một kỳ tài võ học, cần phải giết y để bớt một mối nguy cho binh tướng Việt. Hầu xuất chiêu Lâm trung kiến ngưu, một chiêu cực kỳ phức tạp trong bộ Tán lạc tiêu hồn chưởng. Toa Đô thấy chưởng đối phương như có như không. Y vận đủ mười thành công lực đỡ. Xèo, kình lực của y biến mất. Y đánh một chiêu trong bộ Thái cực chưởng mà y học được của võ lâm Trung nguyên, chân từ Càn vị bước sang Trấn vị. Quốc Toản phát chiêu Phản bản hoàn nguyên đỡ. Hai chưởng chạm nhau, hầu cảm thấy như đánh vào bị bông. Kinh hãi, hầu nghĩ:

– Thái cực chưởng là chưởng đặt căn bản trên Dịch lý, thì Mục ngưu chưởng không phá được.

Hầu lui lại sau, tay vòng ra lưng móc cái chài. Hầu dùng Thiên la thập bát thức, chân từ Khôn vị, bước sang Đoài vị. Chài chụp lên đầu Toa Đô. Toa Đô kinh hoàng tay rút kiếm. Kiếm rít lên vo vo. Đấu được trên trăm chiêu, thấy Thiên la thập bát thức không khống chế được Thái cực kiếm. Quốc Toản quẳng chài, tay rút thanh Trấn bắc. Hầu dùng Mê linh kiếm pháp. Lại hơn trăm chiêu, vẫn không thắng đối thủ. Thình lình Toa Đô xả một chiêu rất thô kệch. Vương phi Ý Ninh đứng lược trận, nhắc con:

– Kiếm pháp Hồi cương.

Bất đắc dĩ Quốc Toản phải trực diện đỡ. Chít một tiếng, kiếm của Toa Đô bị đứt tận chuôi. Biết nguy, y lao đầu vào Quốc Toản, hai tay bóp cổ hầu. Lúc tay y dơ lên, hầu xỉa kiếm vào nách phải y. Kiếm xuyên thủng áo giáp từ ngực xéo xuống bụng. Quá đau, y bóp cổ hầu. Bạch Viên ở trên cao thấy chủ lâm nguy, nó nhảy xuống, tay xáng một côn vào lưng Toa Đô. Bốp, xương sống Toa Đô bị dập, y buông Quốc Toản ra, người lảo đảo. Hầu rút kiếm khỏi thân y, đưa một nhát, đầu y rơi xuống đất.

Tiểu Lý thấy Toa Đô chết, y rút kiếm tự tử. Phu nhân Như Vân hô lớn:

– Ngừng tay!

Nàng đánh một chưởng, khiến kiếm của y văng ra xa. Như Vân điểm huyệt rồi nắm tay y:

– Tướng quân! Được thua là truyện thường tình của binh gia. Huống hồ tướng quân là người Hán, việc gì phải chết cho Thát đát.

Như Vân phất cờ, quân Hàm tử bao vây đám quân Nguyên trên đê. Vương phi Ý Ninh hô bằng tiếng Hoa vùng Kinh hồ, Lâm an:

– Đầu hàng thì được tha chết.

Đám quân Nguyên quẳng vũ khí quỳ gối xin hàng.

Phu nhân Như Vân ra lệnh cho quân Hàm tử:

– Đây là những tinh hoa của tộc Hán, bị rợ Thát đát đem sang đây chịu chết. Hãy đối xử tử tế, nuôi ăn thực chu đáo.

Đô đốc Võ Văn Sáu báo cáo:

– Thưa vương phi, thuộc hạ bắt được 72 thuyền của Nguyên, cầm tù 8 nghìn người.

Đạo binh Hàm tử cũng thu được hơn một vạn binh đầu hàng. Sau khi cho tù binh ăn uống với thịt cá ê hề. Như Vân chuyển họ xuống hạm đội Bạch đằng chở về Thăng long.

Có sứ giả của Thượng hoàng tới. Vương phi Ý Ninh hỏi:

– Mặt trận Tây kết thế nào?

Sứ giả trình:

– Ô Mã Nhi với đoàn thuyền chở quân đổ lên Tây kết. Khi đổ một nửa thì bị hai hiệu binh Tiền thánh dực, của Hưng Trí vương Quốc Hiện, hiệu binh Tả thánh dực, của Hưng Hiếu vương Quốc Uy ép hai bên. Trên sông hạm đội Thăng long với đội Ngạc binh đánh đắm gần hết các thuyền chở quân. Ô Mã Nhi xung sát thì gặp Hưng Ninh vương. Vương chỉ đánh 10 chiêu, y lạc bại, bị vương điểm huyệt. Biết vương là Bồ tát tại thế, y niệm:

– Nam mô Tuệ Trung Bồ tát. Xin bồ tát mở lượng từ bi đại xá cho đệ tử.

Vương hạ lệnh:

– Nếu hô tất cả binh tướng đầu hàng ta sẽ tha chết.

Ô Mã Nhi làm theo. Giữ lời hứa, vương cấp cho Ô Mã Nhi với Lưu Khánh một con thuyền, trên có 10 thủy thủ Mông cổ, cùng lương thực, nước ngọt, rồi cho hạm đội Thăng long hộ tống y tới bờ biển.

Sứ giả nói:

– Triều đình biết quân hầu sẽ thắng, nên sai tôi tới thưa với hầu: đem tù binh về Thăng long. Thỉnh hầu về Thăng long nghị sự.

Hoài Văn hầu hỏi vương phi Ý Ninh, Thanh Nga:

– Hai mẹ có về Thăng long không?

Vương phi Ý Ninh lắc đầu:

– Vai vế trong họ của bố, địa vị bố quá lớn. Mẹ về, triều đình phải đón tiếp phiền phức quá. Mẹ không về đâu. Con với Như Vân về được rồi. Mẹ ở đây với bà nội. Sau trận này uy tín, công lao của con quá lớn. Nhớ, phải thực nhũn nhặn, bằng không triều đình sẽ cho rằng con kiêu căng.

– Mẹ ơi! Con là cháu nội của một ông vua uyên thâm Phật pháp mà! Mẹ khỏi lo.

Quốc Toản, Như Vân về tới Thăng long giữa lúc triều đình thiết triều. Hầu bưng cái hộp đựng đầu Toa Đô đâng cho hoàng đế Thiệu Bảo. Hoàng đế để hộp giữa án thư, rồi mở ra cho triều đình xem. Ngài nói:

– Làm tôi, phải nên như người này.

Rồi ngài lấy áo long bào trùm lên hộp, ban chỉ cho Tổng thái giám:

– Khanh hãy về Hàm tử lấy thây người này, ráp với đầu, rồi chôn cất tử tế, để sau này vợ con người ta sang, còn biết nơi chôn cất, mà cải táng mang về.

Hoài Văn hầu nghĩ thầm:

– Trong nhà mình đã có ông bác là Tuệ Trung Bồ tát, thêm ông vua Thiệu Bảo này là đệ tử của ông bác, nhân từ hiếm có!

Về phần Hoài Văn hầu, đau xót vì Hoài Nhân vương tuẫn quốc. Hầu hỏi Thượng hoàng bằng ngôn từ bình dân:

– Thưa chú! Kể từ khi viễn tổ Tự An ban luật: “Người trong giòng hộ Đông a tuyệt đối không được giết nhau. Tuyệt đối không để người ngoài giết người trong giòng họ trước mặt mình. Chính vì vậy mà chú ban chỉ ân xá cho ông Trần Di Ái, các chú Trần Văn Lộng, Trần Quang Kiện, Trần Tú Hoãn về tội bắt cóc cháu, mưu xóa bỏ chứng cớ làm gian tế cho Mông cổ. Từ khi cháu học được bản lĩnh thừa sức chặt cổ bọn bắt cóc mình, nhưng tuân chỉ chú, cháu đành ngậm bồ hòn. Thế rồi ông Di Ái phản quốc, các chú Tắc, Lộng, Kiện, Hoãn đâm sau lưng tộc Đông a, đâm sau lưng binh tướng hy sinh vì triều đình. Thảm thiết hơn nữa chú Ích Tắc đang tâm giết em ruột là cô An Tư, cháu ruột là Quốc Kiện. Không biết bây giờ cháu có thể tìm chú ấy, để xử tội không? (3)

Thượng hoàng còn đang suy nghĩ thì Hưng Ninh vương trả lời:

– Quốc Toản ơi! Cháu có tin rằng bác yêu thương cháu không?

– A Di Đà Phật, cháu biết bác là Bồ tát, lòng dạ rộng hơn biển.

– An Tư chết, Quốc Kiện chết, chẳng qua là số phận, nghiệp quả do kiếp trước để lại. Nếu cháu tìm chú Ích Tắc, giết chú ấy, thì nghiệp quả của cô An Tư, của Hoài Nhân vẫn chưa hết.

– Thưa bác, hiện bà nội cháu là Tuyên cao Thái phi, ngày đêm thương nhớ cô An Tư, thân thể hao mòn. Cháu nghĩ chỉ có cái đầu chú Ich Tắc mới có thể để cho bà nội cháu nguôi mối thương tâm.

Như Vân bước ra xin tâu. Thượng hoàng vẫy tay:

– Cháu là vợ Quốc Toản, thì là người tộc Đông a. Cháu cứ tâu.

– Chú là Thượng hoàng Đại Việt. Chú ban chỉ ân xá cho những người như chú Tắc, Kiện, Lộng, Hoãn thì chỉ có hiệu lực trong lãnh thổ Đại Việt. Nếu chú vẫn quyết tâm nhẹ tay với mấy người đó thì cháu tin rằng anh Quốc Toản sẽ nhờ phụ vương cháu, hiện đang thống lĩnh Cần vương Tống xuống tay. Hoặc giả bố Nhật Duy, mẹ Ý Ninh của chúng cháu ra tay, e còn kinh khiếp hơn nữa.

Nghe Như Vân nhắc đến Vũ Uy vương, cả triều đình đều ớn xương sống. Như Vân tâu tiếp:

– Vương mẫu Thanh Nga, Ý Ninh mới từ Trung nguyên về Hàm tử vấn an bà nội. Hai vị có dự trận Hàm tử. Sau buổi thiết triều này cháu sẽ về khải với hai vị, để hai vị sang Trung nguyên hành sự. Cháu cam đoan rằng chú Ích Tắc ba đầu sáu tay cũng bị vương mẫu Ý Ninh chặt hết. Sớm thì một tháng, trễ thì nửa năm.

* Chú giải của thuật giả:
(1) Về cái chết của Hoài Nhân vương Quốc Kiện, các sách sử chép lầm là Hoài Văn hầu Quốc Toản. Nguyên do sách Kinh thế đại điển tư lục đã lầm chữ Nhân thành chữ Văn.
Nguyên sử, q.209, An nam truyện chép: “Quan quân (chỉ quân Nguyện) rút đến sông Như nguyệt. Nhật Huyên (vua Thánh tông) sai Hoài Văn hầu đến đánh.
Kinh thế đại điển tư lục chép: “Thoát Hoan chạy đến sông Như nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đuổi theo. Giết được Hoài Văn hầu.
Thế rồi các sách cứ theo Kinh thế đại điển tư lục chép lại. Do lầm chữ Nhân thành chữ Văn. Rồi quyết rằng Trần Quốc Toản tuẫn quốc tại sông Như nguyệt.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép về hội nghị Bình than (1282) ghi rằng khi Hoài Văn hầu tử trận, vua rất thương tiếc, truy phong tước vương. ĐVSKTT không chép rõ Hoài Văn hầu tử trận năm nào! Tại đâu?
Ngày mà Kinh thế đại điển tư lục chép Hoài Văn hầu bị giết là ngày 6 tháng 5 năm Ất dậu (10-06-1285). Trong khi gia phả của Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc, chính vương chép:
Trận Như Nguyệt, ngày 6-5, niên hiệu Chí nguyên thứ 22, Quốc Kiện đuổi theo chú, buông lời vô lễ. Giết Quốc Kiện.
Rõ ràng Ích Tắc thuật mình giết Hoài Nhân vương thì sai thế nào được.
Các gia phả của giòng Hưng Nhượng vương, Hưng Vũ vương, chính gia phả của Chiêu Quốc vương đều chép Quốc Toản giết Toa Đô, bắt Ô Mã Nhi.
Nếu Quốc Toản tuẫn quốc ngày 6 tháng 5, thì sao ngày 20 tháng 5, tức 14 ngày sau vương có thể giết Toa Đô ở Hàm tử? Rồi chính vương đánh bay Ô Mã Nhi xuống sông Bạch đằng, Đỗ Hành dùng câu liêm móc y lên chiến thuyền bắt sống y vào ngày 8 tháng 3 năm Mậu tý (9-4-1288)? Tức gần 3 năm sau.
Trong các gia phả đều chép ngày giỗ Hoài Nhân vương Quốc Kiện là 6 tháng 5. Ngày giỗ của Hoài Văn vương Quốc Toản là 18 tháng 9.
Tôi chỉnh lại một sai lầm lớn của lịch sử với tất cả dè dặt.
Tra trong Nguyên sử, Việt sử, gia phả chúng tôi ghi nhận Hoài Văn vương là tướng vô địch, đánh đâu thắng đó. Vương đã đánh các trận sau:
– Một là trận Đâu đỉnh, chặn đạo quân dùng thượng đạo đánh úp Chi lăng, do Lý Hằng, Ô Mã Nhi chỉ huy. (Cùng Hoài Nhân vương).
– Hai là trận trấn Thăng long chặn không cho Mông cổ chiếm Thăng long (cùng Hoài Nhân vương).
– Ba là trận cứu viện Chiêu Văn vương ở Thanh hóa (Cùng Chiêu Minh vương).
– Bốn là trận tái chiếm Trường yên (Cùng 2 vua, Khâm Từ hoàng hậu).
– Năm là trận Tây kết (Cùng Hoài Nhân vương).
– Sáu là trận tái chiếm Thăng long (Cùng Chiêu Minh vương, Chiêu Văn vương, Hoài Nhân vương).
– Bẩy là trận truy Thoát Hoan ở Như nguyệt (Cùng Hưng Đạo vương, Hưng Ninh vương, Hoài Nhân vương).
– Tám là trận Hàm tử, giết Toa Đô (cùng nhiều tướng).
– Chín là trận Bạch đằng bắt Ô Mã Nhi (cùng nhiều tướng).
Gia phả của giòng Hưng Vũ vương, Hưng Hiếu vương, Nhượng vương, Hưng Trí vương, gia phả của con cháu Hoài Văn vương ở Phúc kiến đều có bài tán giống nhau như sau:
Tam tổ thị Hoài Văn,
Trí dũng thực vô biên,
Niên thiếu cam thống khổ.
Lao tù tại Trường yên.
Ngự tứ Trấn bắc kiếm.
Cửu độ phá ác Nguyên.
Truy Thoát Hoan Như nguyệt
Hàm tử trảm Toa Đô.
Bạch đằng cầm Ô Mã.
Di dức vạn vạn niên.
Tạm dịch:
Tổ thứ ba Hoài Văn (a)
Trí, dũng thực vô cùng.
Thời niên thiếu thống khổ,
Bị cầm tù tại Trường yên (b)
Được ban kiếm Trấn Bắc (c)
Chín trận phá giặc Nguyên (d)
Đuổi Thoát Hoan Như nguyệt,
Trận Hàm tử giết Toa Đô (e)
Trận Bạch đằng bắt Ô Mã (f)
Để đức lại vạn năm.
(a) Các gia phả con cháu họ Trần chia làm 3: một là Đế phái, tức hậu duệ các vua. Hai là Thánh phái, hậu duệ của Hưng Đạo vương. Ba là Vương phái, hậu duệ của chư vương. Gia phả con cháu Trần Quốc Toản thuộc Đế phái. Nên chép tổ thứ nhất là vua Trần Thái tông. Tổ thứ nhì là Vũ Uy vương. Tổ thứ ba là Hoài Văn vương. Như con cháu Minh Trí hầu Trần Linh thuộc Vương phái, vì hầu là con của Hưng Ninh vương. Như họ Đặng ở Hành thiện, Nam định thuộc Thánh phái, vì là hậu duệ của Hưng Hiếu vương Quốc Uy, con thứ ba của Hưng Đạo vương.
(b) Sử không chép vụ Trần Quốc Toản bị Trần Di Ái, Trần Quang Kiện, Lê Tắc bắt giam ngài tại Trường yên. Vụ việc này chỉ chép trong gia phả.
(c) Chỉ Trần Quốc Toản được vua ban cho thanh kiếm Trấn Bắc.
(d) Chín trận đã chép ở trên.
(e) (f) Quốc Toản đánh trận Hàm tử, Bạch đằng, chứng tỏ ngài không tuẫn quốc như sách Kinh thế đại điển tư lục chép.
Đầu thế kỷ thứ 20, nhà thơ Phan Kế Bính có làm bài thơ ca tụng vương, được chép trong các sách giáo khoa dành cho học sinh cấp tiểu học:
Giỏi thay Trần Quốc Toản
Tuổi trẻ dư can đảm
Dốc bụng báo hoàng ân
Cả gan bình quốc nạn.
Cờ bay giặc hãi hung
Giáo trở Nguyên tan rã
Lừng lẫy tiếng anh hung
Giỏi thay Trần Quốc Toản.
Gia phả của con cháu Hưng Vũ vương (con trưởng của Hưng Đạo vương) còn chép thêm 4 chiến công của Hoài Văn vương nữa là 13:
– Trợ Chiêm, bắt gian vương Chiêm.
– Đánh trận Hỏa giáp, phá đạo quân Sài Thung, bắt gian vương Di Ái.
– Đánh chặn Thoát Hoan ở Bắc cương (cùng Vũ Uy vương).
– Giải phóng Thăng long.
Vì vậy mới có câu:
Hoài Văn thập tam chiến,
Uy vũ chấn Trung nguyên.
Nghĩa là: Hoài Văn vương thắng 13 trận, oai rung động Trung nguyên.
(2) Dã sử, huyền sử Việt đều nói rằng Thoát Hoan, Ích Tắc bị Trần Quốc Toản, Dã Tượng ném đá truy kích mấy trăm dặm. Hai người phải chui vào váy của vợ Thoát Hoan, Lý Hằng mới thoát chết. Từ đấy trong dân gian có câu tục ngữ: núp váy vợ. Hoặc chửi tục: Đồ hèn! Núp váy vợ. Khi viết đến đây tôi đẳn đo: có nên chép sự kiện dơ bẩn này vào bộ sách thuật hành trạng của những anh hùng bậc thánh của Đại việt không? Sau khi tham khảo ý kiến cua 50 độc giả, 50 văn hữu, tất cả đều đồng ý thuật lại, vì đó là nguồn gốc một từ ngữ dân gian. Một nét văn hóa gần nghìn năm của người Việt.
Tội Trần Ích Tắc quá nặng với Đại việt. Sau khi Thoát Hoan đại bại, rút về năm 1288, Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt đầy y ra Dương châu. Bọn triều thần tâu những công lao làm gian tế của Ích Tắc, nhà vua ban cho chức Bình chương sự ở Ngạc châu (Hồ quảng). Lại ban cho 500 mẫu ruộng. Thế tổ băng, Thái tử Chân Kim lên kế vị tức vua Thành tông, nhớ tội Ích Tắc làm hại Ngọc Kỳ, nhà vua ban chỉ thu lại số ruộng trên. Gia thuộc trải qua một thời kỳ túng thiếu, đến nỗi phải đi đánh cá sinh sống. Năm 1308 Nguyên Vũ Tông lên ngôi, xét lại sử cũ, thấy Ích Tắc già nua, thương tình lại ban cho số ruộng cũ. Trong bài chiếu, có đoạn:
Vớt kẻ đắm thuyền, cứu người chết cháy là điều nên làm. Xét công lao Ích Tắc là người từng theo quân vương 2 lần, ban lương ăn, tối sống nhờ trọ; ở bên hồ gần 30 năm, thờ trải 4 triều, chi vẫn không sai tiết cũ.
Đứng trên phía Nguyên, thì là điều vua tỏ lòng thương xót kẻ bán nước theo Nguyên. Nhưng đứng trên lòng người Việt, đây là áng văn phỉ nhổ. Sau Ích Tắc chết ở Ngạc châu, thọ 70 tuổi, vua Nguyên ban thụy là Trung mẫn.
(3) Ích Tắc bội cha, phản anh chỉ vì muốn được giặc ban cho cái danh An Nam quốc vương. Ấy vậy mà y còn tỏ ra mặt dầy, khi làm bài thơ tự biện hộ: mình theo Nguyên không giống Tấn Văn công bôn ba hải ngoại, muốn làm chúa Tấn. Mà giống như Vi tử Khải hàng Võ vương để giữ gìn lăng tẩm tiên vương.
Xuất quốc
Đương niên trượng nghĩa xuất Nam bang,
Cảnh cảnh đan ai đối bỉ sương.
Bất thị Văn công đào Tấn nạn (a)
Thứ cơ Vi tử kế Ân vong (b)
Cơ cừu vị dẫn tiền nhân chí.
Giản sách tư lưu hậu thế phương!
Hoàn vũ xa thư hội đồng nhật,
Cố gia tông tự Việt sơn trường.
Dịch:
Bỏ nước,
Năm xưa vì nghĩa bỏ Nam bang,
Phơi với trời xanh tấm dạ vàng.
Nào phải vua Văn lo nạn Tấn,
Những mong ông Khải nối giòng vong.
Cơ cừu hai chữ lòng tiên tổ,
Sử sách muôn đời tiếng vẻ vang.
Bốn bể thông đồng khi gặp hội,
Nước còn đồi núi, lửa còn hương.
(a) Thời Xuân thu, Chiến quốc, Tấn linh công sủng ái một cơ thiếp. Bà này muốn giết các con chồng là Thái tử Lịch Sanh, Trùng Nhĩ, để dành ngôi vua cho con mình. Bà cùng gian thần giả chỉ dụ của Linh công gọi Lịch Sanh về rồi ban chỉ giết. Lịch Sanh biết lệnh giả, vẫn về, chịu chết để được tiếng là tử hiếu, thần trung. Em Lịch Sanh là Trùng Nhĩ, bỏ nước lưu vong. Sau mượn quân Tần về chiếm lại ngôi, tức Tấn Văn công. Ích Tắc tự ví mình theo Nguyên, không phải giống Lịch Sanh, mưu cầu ngôi vua. Trong khi sự thực Ích Tắc muốn tranh ngôi với Thánh tông.
(b) Vi Tử Khải, con vua Trụ. Khi Võ vương phạt Trụ. Vi Fử Khải xin hàng, mong được tha mạng, để gìn giữ lăng tẩm tổ tiên, và muốn sống để nối dõi dòng giống. Võ vương chuẩn cho.
Thế nhưng thực tế, Thoát Hoan sai binh lính quật lăng vua Thái tông, đem xương vứt ra đồng cho chó tha. Nhưng đó là lăng giả. Vậy mà Ích Tắc vẫn cúc cung trung thành với Nguyên. Suốt trong chiều dài 5 nghìn năm lịch sử, mỗi lần các triều đại Trung nguyên muốn thôn tính Đại việt, họ đều tìm những kẻ ngu xuẩn, vô tài, bất đức, rồi lên mật nhân nghĩa trợ giúp. Chưa một lần nào bọn vong quốc này thành công, và mưu đồ của Trung nguyên đạt được.
Gần đây nhất, Việt gian Hoàng Văn Hoan, tranh quyền với nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, bị thất bại, trốn sang Trung quốc, mưu cầu thế lực Trung quốc về ngồi lên đầu, lên cổ dân Việt. Cuối cùng chết trong cô độc. Hồn bay phiêu phưởng làm ma đói ở Bắc kinh. Ấy thế mà khi thấy Hoan chạy sang Trung quốc, bọn lưu manh thất nghiệp, chết đói ở Paris, đội tên cộng sản cù lần, nửa mùa Trương Như Tảng lên đầu, kéo sang Bắc kinh, quỳ gối bái tên Hoàng Văn Hoan làm lãnh tụ, xin Trung quốc cho tiền, cho súng về nước giết cha, giết mẹ. Trung quốc không thí cho một tệ, đuổi về. Kinh tởm hơn nữa tên ký giả Cậu Chó (Tô Văn) từ Mỹ sang Pháp cúc cung theo mấy tên lưu manh hề. Chẳng được đồng nào, bị đánh thuốc độc bán thân bất toại, chết trong ô nhục.

(Hết Hồi 107)

Share this post