Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 108 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 108 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM LẺ TÁM
Đông hải thoái nhất bộ,
Vân đồn đoạt vạn lương.
(Tiếp theo)

Ngày 13 tháng11, niên hiệu Trùng Hưng thứ nhì (Đinh Hợi, 1287)

Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 24 đời Thế tổ Hốt Tất Liệt.

Quân Nguyên nhập Việt.

Vì quân Nguyên nhập Việt. Quản lĩnh Khu mật viện Đại việt, Hoài Văn vương Trần Quốc Toản xin thiết triều, cùng mời các thân vương, các tướng, đô đốc cầm quân về Thăng long hội.

Hoài Văn vương Trần Quốc Toản tâu:

– Nguyên xuất quân sang đánh ta. Thủy bộ đã nhập Việt gần nửa tháng. Chiến cuộc thực sự bùng nổ rồi.

Cả điện ồn lên những tiếng bàn tán. Vương tiếp:

– Hồi giữa năm trước, bị các đại thần can gián, Hốt Tất Liệt đành ban chỉ ngừng xuất quân. Nhưng đến tháng 11, y cấp cho Thoát Hoan 4 nghìn chiến mã. Cử A Bát Xích làm Chinh Giao chỉ hành tỉnh (9). Tháng giêng năm nay (Đinh hợi 1287) tái lập Chinh Giao chỉ hành thượng thư tỉnh.

Trùng Hưng hoàng đế nhìn Trung Thành vương:

– Quả như vương tiên liệu. Nhờ vương biết trước, đem nghị sự, vì vậy chúng ta đã chuẩn bị, chờ đợi cái ngày đó tới. Bây giờ đã tới. Ta không bị bất ngờ.

Thượng hoảng hỏi:

– Nhân sự trong Thượng thư tỉnh có gì thay đổi không?

– Tâu cũng vẫn như cũ, thêm:

Trình Bằng Phi lĩnh Hữu thừa.

A Lý (A li) lĩnh tả thừa.

Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp lĩnh Tham tri chinh sự.

Trương Văn Hổ lĩnh Giao chỉ Hải thuyền vạn hộ. Dưới quyền y có các đô đốc Phí Công Thìn, Đào Đại Minh. Giao nhiệm vụ dùng 70 thuyền lớn, chở 17 vạn thạch lương (10).

Phong cho Lê Tắc coi về Tế tác, thám mã. Lại phong cho tên Nguyễn Chiến Thắng lên chức vạn phu, con y là Nguyễn Linh Nhan lên chức thiên phu đặt dưới quyền Lê Tắc.

Nhân Huệ vương cười:

– Chắc do bọn Ích Tắc mách khôn cho Hốt Tất Liệt đây. Chứ y chỉ muốn dùng kị binh tràn ngập hơn là dùng thủy quân. Quốc Toản nói 70 thuyền lớn, đó là thuyền Nguyên đóng. Còn Quỳnh châu góp thêm 20 chiếc nữa. Thuyền của Quỳnh châu lớn hơn thuyền mới đóng. Thôi cháu tâu tiếp đi.

– Tháng 4, Hốt Tất Liệt gọi Trần Ích Tắc về Đại đô phong tước An Nam Quốc vương, làm lễ trao ấn phù rất lớn. Phong Trần Văn Lộng tước Phụ nghĩa công (11). Con Ích Tắc là Trần Bá Ý lĩnh An phủ sứ lộ Đà giang, tước hầu (12). Em họ Ích Tắc là Lại Ích Khuy lĩnh An phủ sứ lộ Nam sách. Trần Tú Hoãn lĩnh An phủ sứ lộ Quy hóa (13). Thống lĩnh thủy quân là Tham tri chính sự Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, với hai đô đốc Trương Ngọc, Lưu Khuê, đem 500 chiến thuyền. Đây là những thuyền lớn. Trên thuyền có máy bắn đá, có đại pháo. Nhất là có ụ nấp để phóng lao, phóng hỏa, bắn tên.

Đô đốc Võ Văn Sáu hỏi:

– Khải vương gia, thần được tin Quỳnh châu (Hải nam) cũng đem một đạo thủy binh theo Thoát Hoan trong dịp này. Không biết thực hư ra sao?

– Đô đốc thực giỏi. Quả có việc đó. An phủ sứ Quỳnh châu Trần Trọng Đạt, Tổng quản Nam ninh Tạ Hữu Khuê, tổng quản Diên lan Bồ Tý Thánh đem một số đại chu gồm 120 chiếc, 1.700 quân người Lê (Hải Nam) nhập vào đạo quân Thoát Hoan. Hốt Tất Liệt ban hổ phù cho Đạt, kim phù cho Lưu Khuê, Tý Thánh. (14)

Hưng Đạo vương ban chỉ:

– Cháu phải thuật rõ: Chúng đã khởi hành từ bao giở? Hiện quân Nguyên đã đến đâu rồi?

– Thưa ngày 3 tháng 9 (Đinh hợi 1287). Quân Nguyên khởi hành từ Ngạc châu. Ngày 28 tháng 10 thì tới Lai châu Quảng tây. Sáng nay 13 tháng 11, tiền quân chúng tới châu Tư minh. Chúng đang chỉnh đốn hàng ngũ trước khi nhập Việt.

Chiêu Minh vương hỏi:

– Còn cánh thủy quân. Chúng khởi hành chưa?

Nhân Huệ vương trả lời:

– Cánh thủy quân chúng khởi hành ngày 28 tháng 10 (4-12-1287). Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dẫn đầu, đem 1 vạn tám nghìn quân. Ô Vy, Trương Ngọc, Lưu Khuê, đem 2 vạn quân đến đánh Vạn ninh (Móng cái). Thần ban chỉ cho, Phán thủ thượngvị Nhân đức hầu Trần Toàn, đem hạm đội Âu Cơ. Đô đốc Phạm Cự Địa đem hạm đội Thần phù, rút vào các sông lạch. Chúng tiến đánh Ngọc sơn, thì bị Hưng Đức hầu Trần Quán đem hiệu Thiên cương đóng trên núi cản lại. Sáng nay cuộc chiến còn diễn ra ác liệt. Bọn Ô Vy, Trương Ngọc, Lưu Khuê đem quân vây núi.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Nhân Huệ vương khẩn trở về chỉ huy chiến trường. Bất cứ giá nào cũng không cho chúng vượt sông Bạch đằng tiến về Vạn kiếp bắt tay với cánh bộ binh.

Nhân Huệ vương rời điện.

Hưng Đạo vương tâu:

– Về bộ, thần đã bố trí rất chặt chẽ. Lệnh cho các hiệu binh chỉ đánh một vài trận, rồi rút lui, cho chúng tiến vào sâu trong nước ta.

Hoài Văn vương tỏ vẻ lo nghĩ:

– Thần lo cho mặt trận Vân đồn. Vì Nhân Huệ vương chỉ có 2 hạm đội Âu Cơ, Thần phù và hiệu binh Thiên cương, quân số không quá 3 vạn; sợ không đương nổi với quân số của Nguyên tới 5 vạn. Hơn nữa tình hình đặc biệt của quân Nguyên, khi mới nhập Việt thì hung hãn vô cùng! Cần tránh mũi nhọn của chúng, rồi phản công sau. Tạm thời thần đã cho hai hiệu Hàm tử, Thần cách chuẩn bị sẵn sàng cứu ứng mặt Vân đồn.

Vì tình hình căng thẳng, nên Trùng Hưng hoàng đế, Hưng Đạo vương, Chiêu Minh vương, Hoài Văn vương túc trực ngủ đêm tại Khu mật viện.

Sáng ngày 21-11 Đinh hợi, có tin báo:

– Bộ, Kị binh Nguyên chia làm hai cánh, vượt qua con sông Tả giang, Hữu giang tràn vào đất Việt. Cánh thứ nhất do Trình Bằng Phi, Bôn Kha Đa (Bolkhada) dùng 4 vạn bộ, kị binh, chia làm hai đánh ải Khâu ôn, Khâu cấp suốt hai ngày 16-17. Phò mã Phạm Ngũ Lão, công chúa Thủy Tiên giữ vững đồn ải. Tối hôm 18, phò mã công chúa âm thầm rút binh. Trình Bằng Phi tiến đánh Chi lăng. Cánh thứ nhì do Thoát Hoan, Áo Lỗ Xích đem 6 vạn bộ, kị từ Lộc bình đánh Khả lan vi, Đại trợ. Tướng Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh với hiệu Thiên thuộc cầm cự liền ba ngày 16-17-18, rồi ngày 19 rút vào rừng. Cánh quân này bắt tay với cánh của Trình Bằng Phi. Cả hai vây đánh chiến lũy Chi lăng. Tướng quân Dã Tượng, công chúa Thúy Hồng giữ vững chiến lũy ngày 19-20, rồi rút vào rừng. Thoát Hoan sai Trình Bằng Phi đi theo đường Hãm sa, Từ trúc tiến về Vạn kiếp. Dọc đường bị phò mã Phạm Ngũ Lão phục binh đánh 17 trận. Khi chúng tới đèo Lãnh kinh thì bị lọt vào trận Lôi tiễn của Hưng Đức hầu Trần Quốc Túy. Chúng không dám tiến nữa. Còn Thoát Hoan đi theo đường Nữ Nhi, tiến về Vạn kiếp. Dọc đường bị tướng quân Dã Tượng, công chúa Thúy Hồng phục binh đánh suốt ngày đêm. Hôm nay ngày 28 tháng 11, cả hai cánh đã đến Vạn kiếp. Thoát Hoan đóng đại binh tại Vạn kiếp, y cho làm thành gỗ đóng quân, chứa lương.

Chiều hôm đó quân báo:

– Mặt trận Vân đồn, Nhân Huệ vương bị bại. Vương đem 2 hạm đội Âu cơ, Thần phù đánh với Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp. Bị thua. Trên bộ, hiệu binh Thiên cương trấn Ngọc sơn, Vạn ninh thất thủ. Nguyên do khi xuất trận, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dùng các đội Võ vệ tấn công. Các đô đốc bị đánh bại, các tướng bộ binh bị cầm chân, không điều khiển được trận địa. Hiện Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chiếm An bang. Chúng theo sông Bạch đằng tiến về Vạn kiếp.

Hưng Đạo vương giật mình:

– Nếu cánh quân của Ô Mã Nhi hợp với cánh của Thoát Hoan thì Thăng long không giữ được.

Vương ban lệnh cho Hoài Văn vương:

– Quốc Toản đem hiệu Hàm tử, Địa Lô đem hiệu Thần Cách tái chiếm Ngọc sơn, Vạn ninh, rồi trấn tại An bang. Giữ vững các cửa sông.

Hoài Văn vương tâu:

– Xin Thượng hoàng viện cho cháu chú Yết Kiêu với 10 đô Ngạc binh.

– Được!

Thượng hoàng sai Trung hiến hầu Trần Dương:

– Người hãy mang xiềng ra Vân đồn xiềng Khánh Dư về đây trị tội: tại sao để vỡ mặt trận Vân đồn?

Trung hiến hầu Trần Dương mang xiềng tới Vân đồn tuyên chỉ xiềng Nhân Huệ vương về Thăng long trị tội. Nhân Huệ vương nói với Trần Dương:

– Tôi biết rằng để mặt trận Vân đồn vỡ là quốc gia lâm nguy. Trận vừa rồi, tôi dùng 2 hạm đội và một hiệu binh Thiên cương đánh với 5 vạn quân của Ô Mã Nhi nên bị bại. Nhưng bại vì thuyền của ta nhỏ, thuyền của giặc to, đánh nhau trên biển, nên thuyền ta bị vỡ. Tuy nhiên, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp vừa thắng, chúng kéo về Vạn kiếp. Tôi được tin các thuyền chở lương của Nguyên do Trương Văn Hổ, Phí Công Thìn, Đào Đại Minh, Từ Khánh có 90 thuyền, chở 17 vạn thạch lương đi sau, mà không có lực lượng hộ tống. Tôi sẽ dùng tiểu chu, mau nhẹ, phục binh, cướp lương. Khi lương mất thì cánh quân của Thoát Hoan, Ô Mã Nhi sẽ tự tan. Vậy xin trung sứ khoan còng tay, để tôi đánh trận này chuộc tội.

Trần Dương là hoạn quan, nghe cũng nể lời không còng vội. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư họp các đô đốc Võ Văn Sáu, Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn, Phạm Cự Địa. Hoài Văn vương Trần Quốc Toản, và Trung lang tướng Nguyễn Địa Lô bàn kế sách.

Hoài Văn vương nghị:

– Sau khi Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp thắng Nhân Huệ vương trên biển Đông, kiêu khí bừng bừng bốc lên. Hai người mang Trương Ngọc, Lưu Khuê tiến về Vạn Kiếp. Y trao cho Trần Trọng Đạt 6 nghìn quân, chia làm 2 đóng ở 2 bên cửa sông Bạch đằng. Cho Tạ Hữu Khuê 5 nghìn quân trấn ải Ngọc sơn; Bồ Tý Thánh 5 nghìn quân trấn An bang. Ta cần nhổ 4 đồn này trước khi Trương Văn Hổ tới đây. Trước hết tôi sẽ dùng hiệu Hàm tử đánh 2 đồn 2 cửa sông Bạch đằng, rồi phục tại đây với mấy trăm ngư thuyền. Nếu Ô Mã Nhi đem thuyền từ Vạn kiếp ra cứu thuyền lương, thì tôi chặn đánh. Chú Địa Lô dùng hiệu Thần cách tái chiếm Vạn ninh, Ngọc sơn, An bang. Phải đánh gọn không cho tên nào chạy thoát. Đánh xong vẫn kéo cờ Nguyên, phục trên bờ với thuyền nhỏ.

Yết Kiêu phát biểu:

– Trần Trọng Đạt đóng đồn ngay trên bãi đất của tổng An biên, ấp phong của tôi. Hôm qua mới tới đây bà vợ tôi về ấp phong. Bốn Đại tư cùng 4 Câu đương đã suất lĩnh nam, nữ Nghĩa dũng quân chờ lệnh quân triều, tùy nghi tham chiến. Lực lượng quan trọng nhất là 180 thuyền đánh cá. Các ngư dân rất giỏi thủy chiến. Họ chờ lệnh thủy quân.

Hoài Văn vương tiếp:

– Trương Văn Hổ gốc là tướng cướp. Võ công cao, giỏi xung trận. Nhưng đó là cái dũng của bọn thất phu, còn dàn quân, lập trận thì ngu như bò. Phí Công Thìn gốc là đô đốc thủy quân trên sông, y không biết gì về con nước lên xuống, gió bão. Chỉ Từ Khánh thực sự là tướng thủy quân. Chúng đi làm 3 đoàn khác nhau. Đoàn của Trương Văn Hổ đi trước. Đợi cho chúng vào vịnh Hạ long. Trong vịnh có hằng vạn đèo núi nhỏ. Chú Khánh Dư là Thái sơn Bắc đẩu về Vạn kiếp tông bí truyền thư. Chú sẽ dùng thuyền nhỏ của hai hạm đội Âu cơ, Thần phù bầy trận thủy đánh thuyền của chúng. Bị vây đánh, ắt chúng cho thuyền chạy vào bờ, vào sông Bạch đằng. Chú Địa Lô với tôi sẽ cho thuyền nhỏ, ngư thuyền của Nghĩa dũng ấp An biên vây bắt các thuyền lương.

Vương ngừng lại tiếp:

– Đoàn thuyền của Trương Văn Hổ chở một lúc 170 nghìn thạch gạo. Còn ngô, khoai, sắn khô, với cá khô, thịt khô, mực khô hơn 5 vạn cân, quân dụng, vũ khí, cung tên bổ xung cho các mặt trận, thì đoàn Phí Công Thìn chở. Đoàn thuyền của Từ Khánh thì chở lương thực, chiến cụ cho kị binh.

Vương chỉ đô đốc Võ Văn Sáu:

– Còn hai cánh của Phí Công Thìn, Từ Khánh, mỗi cánh có 30 thuyền lớn chuyên chở lương, với 20 chiến thuyền nhỏ chở quân hộ tống. Khi thuyền của chúng sắp vào vịnh Hạ long thì đô đốc Võ Văn Sáu dùng hạm đội Bạch đằng tấn công, chúng sẽ phải chạy ra xa. Năm nay, ngoài khơi có nhiều bão, thuyền chở lương nặng nề sẽ bị nhận chìm. Trời sẽ đánh chúng dùm ta.

Vương chỉ Yết Kiêu:

– Anh Yết Kiêu mang theo 10 đô Ngạc binh. Tôi chia cho 3 hạm đội. Mỗi hạm đội 2 đô. Tôi giữ 2 đô. Viện cho chú Địa Lô 2 đô.

Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư là em của Vũ Uy vương, lớn tuổi, là chú của Trần Quốc Toản, vai lớn hơn. Ba đô đốc nhiều tuổi hơn Hoài Văn vương. Nhưng Hoài Văn lĩnh Quản Khu mật viện, biết rất rõ tình hình địch. Lại nữa vương từng là tướng bách chiến bách thắng. Nên Nhân Huệ vương, 3 đô đốc nghe vương luận, đều răm rắp tuân theo.

Trong khi Nhân Huệ vương, 3 đô đốc dàn chiến thuyền bầy trận, thì chỉ trong một đêm, hai chiến tướng mưu trí Trần Quốc Toản, Nguyễn Địa Lô với hai hiệu binh hét ra lửa, mửa ra khói, được các Câu đương địa phương chỉ huy Nghĩa dũng quân dẫn đường đánh úp 5 đồn Nguyên quá dễ dàng. Rồi dàn quân chờ đợi.

Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư họp 3 đô đốc với Thiên kình đại tướng quân Yết Kiêu. Vương ban lệnh:

– Đô đốc Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn, dẫn hạm đội Âu cơ phục tại những dẫy núi trong vịnh Hạ long. Khi thấy đoàn thuyền của Trương Văn Hổ tới thì đổ ra đánh. Dùng Ngạc binh đục hết 20 chiến thuyền hộ tống. Sau đó vây đánh hai bên hông và phía sau 30 thuyền chở lương, bắt buộc chúng phải chạy về hướng cửa sông Bạch đằng. Chúng sẽ bị hiệu binh Hàm tử chặn đầu. Đô đốc cùng Hoài Văn vương bắt cho được 30 thuyền chở lương. Nhớ phải đánh chớp nhoáng; cướp, không cho chúng tự đánh đắm thuyền chở lương.

Yết Kiêu thêm:

– Tôi đã lệnh cho Câu đương các ấp dọc bờ biển dàn Nghĩa dũng quân bắt hết tụi bại binh bỏ chạy.

Nhân Huệ vương ban lệnh cho đô đốc Võ Văn Sáu:

– Đô đốc dùng hạm đội Bạch đằng ẩn vào sau những dẫy núi trong vịnh Hạ long. Chờ cho đoàn thuyền của Trương Văn Hổ đi qua, thì dàn ra chờ đoàn thuyền của Phí Công Thìn tới. Khi chúng tới thì dùng thuyền nhẹ tấn công các thuyền hộ tống. Phải đánh như sét nổ, nhận chìm hết 20 thuyền hộ tống. Thuyền hộ tống bị chìm hết thì Phí Công Thìn sẽ dẫn đoàn thuyền chở lương chạy ra xa. Đô đốc cho hạm đội vừa đuổi theo, vừa đánh trống khua chiêng, khiến chúng bỏ chạy. Đợi chúng chạy tới vùng biển Ái châu thì đánh bắt hết.

Vương tiếp:

– Đô đốc Phạm Cự Địa đem hạm đội Thần phù ém tại Hạ long. Chờ cho đoàn thuyền của Trương Văn Hổ, Phí Công Thìn đi qua thì dàn ra không cho đoàn thuyền của Từ Khánh tiến vào lãnh hải của mình. Đoàn này không chở lương, mà chỉ chở cỏ khô, lương thực, chiến cụ cho kị binh. Không cần cướp làm gì. Nhớ khi thấy chúng xuất hiện, thì dùng Ngạc binh đánh 20 thuyền hộ tống. Các thuyền này đắm thì Từ Khánh phải lui trở lại Quỳnh châu. Nếu chúng không lui, thì tùy nghi đánh chiếm hay nhận chìm hết 30 thuyền chở lương cho kị binh.

Ba đô đốc lập tức lên đường.

Khi khởi binh từ Đàm châu, lệnh tiến quân của Thoát Hoan định rằng:

Ngày 21 tháng 11, khi bộ, kị binh nhập Việt, thì cánh thủy quân cũng khởi hành từ Quỳnh châu. Cánh bộ, kị tới Vạn kiếp cuối tháng 11 thì cánh thủy quân cũng phải vượt sông Bạch đằng vào Vạn kiếp hội với nhau.

Ô Mã Nhi ban lệnh cho Trương Văn Hổ, Phí Công Thìn, Từ Khánh chia các thuyền vận lương thành 3 đoàn khác nhau. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đem các đội thủy quân xung kích đi trước. Khi đoàn xung kích vào sông Bạch đằng, y sẽ sai sứ báo cho biết. Đoàn Trương Văn Hổ chở lương đi đầu, Phí Công Thìn chở quân nhu, vũ khí đi thứ nhì. Từ Khánh chở cỏ, quân dụng cho kị binh đi thứ ba. Mỗi đoàn vận lương có 30 đại chu chở gạo, ngô, khoai, sắn, cá khô, muối, thuốc men, vũ khí; và 20 thuyền trung chở quân hộ tống.

Ngày 28 tháng 11, Trương Văn Hổ, Phí Công Thìn, Từ Khánh được tin báo: Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Lưu Khuê, Trương Ngọc đã phá thủy quân Man Việt, và đóng 5 đồn: Hai đồn bên bờ sông Bạch đằng và ba đồn trên bờ biển Ngọc sơn, An bang, Vạn ninh.

Thế là 3 đoàn thuyền ung dung lên đường. Ngày mùng 2 tháng Chạp, đoàn thuyền Trương Văn Hổ đã vào vịnh Hạ long.

oOo

Hôm đó là ngày đầu tháng chạp. Nắng non mùa đông phủ trên vịnh Hạ long. Các ngư thuyền được lệnh rời xa vùng chiến trận từ hai ngày trước. Đây là những dân sống trên biển đã nhiều đời. Một số lớn có nhà cửa ở trong các trang ấp dọc bờ biển. Các Đại tư, Câu đương những xã này ra lệnh cho Nghĩa dũng quân canh phòng, sẵn sàng chiến đấu, nếu giặc tấn công xã. Một số xử dụng thuyền đánh cá, ẩn thân vào các hốc núi, các sông lạch, chờ lệnh, tiếp chiến với thủy quân đánh giặc.

Nhân Huệ vương cùng mấy võ quan đã leo lên đỉnh một ngọn đồi trên vịnh Hạ long để chỉ huy.

Giờ Thìn thì xa xa, đoàn thuyền Nguyên đang tới. Viên Tá lĩnh ngồi trên ngọn cây quan sát đoàn thuyền của chúng, nói vọng xuống:

– Đội hình của chúng như sau: một đại chu soái thuyền kéo cờ đi đầu. Phía sau là 30 đại chu xếp thành 15 cặp song song. Các thuyền này khẳm, chắc chở đầy hàng. Dọc hai bên 15 hàng mỗi bên 10 chiến thuyền nhỏ. Chúng dùng buồm. Không thấy dùng chèo.

Nhân Huệ vương phất cờ báo hiệu cho các chiến thuyền. Đoàn thuyền Nguyên di chuyển mỗi lúc một gần. Viên tá lĩnh báo:

– Dường như thuyền giặc có người chỉ đường, nên chúng biết tránh vùng đá ngầm, đi vào vùng nước sâu len lỏi giữa các đồi núi nhỏ.

– Thuyền giặc lọt vào khu phục kích của ta.

Đích thân Nhân Huệ vương phất cờ lệnh. Ba lôi tiễn châm lửa. Lôi tiễn vọt lên trời kêu lên những tiếng vi vu rồi nổ. Ba tiếng nổ xé không gian. Trống trên các ngọn đồi thúc vang đội. Những thuyền quân Việt ẩn ở dưới chân những ngọn núi nhỏ túa ra. 20 chiến thuyền Nguyên tách khỏi đội hình, xông vào nghênh chiến. Thuyền của Nguyên là chiến thuyền đi biển. Còn thuyền của Việt là những thuyền đánh cá nhỏ, do các ngư dân chèo lái, nên di chuyển rất nhanh. Giao tranh khoảng một khắc, các ngư thuyền rút lui vào những ngọn núi nhỏ. 20 chiến thuyền Nguyên đuổi theo, mỗi chiến thuyền giao chiến với hơn chục ngư thuyền. Thế là cuộc chiến chia ra 20 nhóm khác nhau.

Lại 3 lôi tiễn nổ. Ngạc binh từ các hốc đá ven núi trườn xuống nước. Trong khi các ngư thuyền bỏ chạy. Các chiến thuyền Nguyên đuổi theo. Hơn hai khắc sau thấy đã rời các thuyền vận tải quá xa, viên thiên phu chỉ huy hộ tống ra lệnh cho chiến thuyền ngừng chiến quay lại; thì đáy thuyền thủng những lỗ lớn bằng cái chậu. Nước ồ ồ tràn vào. Binh sĩ la hoảng:

– Thuyền thủng đáy!

– Ôi lỗ thủng to quá, trám không nổi.

– Thuyền chìm rồi.

20 chiến thuyền từ từ chìm. Các chiến binh thủy quân Nguyên bơi lóp ngóp đầy biển. Bấy giờ dân thuyền Việt quay trở lại. Trên mỗi dân thuyền có 5, 6 chiến binh thủy quân và 2, 3 Nghĩa dũng quân. Ngư dân đứng trên thuyền tung chài xuống. Mỗi chài chụp một chiến binh Nguyên đem lên trói lại. Cuộc chiến chớp nhoáng. Kể từ lúc dân thuyền túa ra, không đầy 4 khắc, toàn thể 20 chiến thuyền Nguyên bị Ngạc binh đục chìm, chiến binh bị bắt hết.

Về phần các thuyền vận tải Nguyên, tuy nặng nề, nhưng các tay chèo hợp với buồm, chỉ hơn hai khắc bờ sông Bạch đằng hiện lên xa xa. Trương Văn Hổ thấy phục binh Việt toàn dân thuyền nhỏ bé, trên chở Nghĩa dũng quân thì khinh rẻ, bỏ mặc cho các chiến thuyền hộ tống đối phó. Y chỉ cho soái thuyền hướng cửa sông Bạch đằng. Càng gần cửa sông, hai đồn hai bên cờ Nguyên càng hiện ra rõ ràng, bay phất phới. Y đứng trên tháp chỉ huy phất cờ cầu cứu. Lập tức đài chỉ huy trong đồn cũng phất cờ đáp lại ngụ ý: “An ninh! Cứ tiến vào”. Y chia 30 thuyền làm hai cánh. Một cánh áp vào đồn bên bờ trái. Một cánh áp vào đồn bên bờ phải. Nhưng y chợt thấy từ hai bên sông, dân ngư thuyền từ các lùm cây, từ các lạch ào ào chèo ra, đếm không hết. Trên mỗi dân thuyền là 5 chiến binh Việt với 5 Nghĩa dũng quân. Ngư dân có cả nam lẫn nữ. Kinh hoảng, y phất cờ ra lệnh cho các thuyền vận tải không táp vào bờ mà tiến về trước. Nhưng phía trước hơn 20 chiến thuyền Việt trấn ngang trên sông, dàn trận như thành đồng. Trống thúc vang dội. Phía sau, dân thuyền đã áp vào các thuyền vận tải. Thủy quân, Nghĩa dũng quân đang leo lên như kiến. Mỗi thuyền vận tải không quá 20 thuyền phu sao chống nổi với quân Việt? Không đầy một khắc, trọn vẹn 30 thuyền bị chiếm. Thuyền phu bị bắt hết.

Trương Văn Hổ ra lệnh cho soái thuyền quay mũi chạy trở ra biển, thì từ một dân thuyền, có tướng An Nam tung mình lên cao. Ở trên cao, tướng đó đá gió một cái đã rơi xuống giữa sàn soái thuyền. Đó là một tướng trẻ thân thể hùng vĩ, uy vũ. Trương Văn Hổ phát một chiêu đao hướng tướng đó, ý nghĩ đánh bay đối thủ xuống biển. Một cây côn khổng lồ đỡ đao của y, kình lực mạnh khủng khiếp. Choảng một tiếng, thanh đao khổng lồ của y cong gần như gập đôi. Cánh tay y tê liệt. Y nhìn xem đối thủ là ai thì ra một con vượn lông trắng như tuyết. Tướng trẻ vẫy tay, con vượn lùi lại dùng côn sắt đập binh tướng Nguyên. Mỗi gậy vung lên, 3, 4 quân Nguyên tan thây, vỡ đầu.

Trương Văn Hổ hướng tướng trẻ phát một chiêu chưởng. Tướng trẻ phát chiêu chiêu đỡ. Bùng một tiếng, Hổ cảm thấy trời long đất lở, tai phát ra những tiếng vo vo không ngừng. Y ọe một tiếng, miệng phun ra máu, chân tay như tê liệt. Tướng đó chờ cho Hổ phục hồi công lực, rồi cười nhạt:

– Đỡ chiêu này.

Hổ hít một hơi, vận toàn lực ra đỡ. Binh một tiếng, người y bay bổng lên cao, rơi tòm xuống sông. Y không còn sức bơi, thì một nữ dân quân tung ra cái chài chụp y, kéo lên thuyền. Y được đưa lên soái thuyền.

Tuy đau đớn, nhưng Hổ vẫn cố gắng đứng bật dậy, mở to mắt nhìn kẻ đánh mình: đó là một thiếu niên thân thể hùng vĩ, mặt đẹp như ngọc. Cạnh tướng trẻ còn một thiếu phụ, thoát nhìn chân tay y muốn tê liệt, vì nàng đẹp chói chang. Đội Võ vệ của y rút vũ khí vây lấy nam nữ tướng Việt, xả vũ khí tấn công. Tướng trẻ rút kiếm, ánh thép lóe lên, đoản đao của Võ vệ bị chặt đứt, tiếp theo 4 cái đầu rơi xuống. Nữ tướng cũng vung kiếm, đầu 2 Võ vệ còn lại bay khỏi cổ. Trong khi con vượn vác gậy đập. Nó đi đến đâu thì quân Nguyên tan tác đến đó.

Hổ còn đang kinh hoàng, tay chống kiếm nhìn tướng trẻ thì Nghĩa dũng quân từ các thuyền nhỏ đã lên soái thuyền, bắt hết các thủy thủ Nguyên. Nam nữ tướng đã phóng tay điểm huyệt bắt hết 12 Võ vệ. Nữ tướng nói với Hổ bằng tiếng Quảng:

– Buông vũ khí đầu hàng thì được tha mạng. Người là đấng nam nhi Hán tử, không việc gì phải chết cho bọn rợ Thát đát đang dày xéo giang sơn của vua Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế.

Lòng Trương Văn Hổ nguội như tro tàn. Y ôm kiếm hỏi:

– Tướng trẻ kia! Mi là ai? Đã năm đời nhà ta làm chúa vùng biển đông. Không ngờ hôm nay bị thất bại về tay người, mà không biết người là ai?

Một tướng Việt, tuổi trung niên, dáng người thanh thoát, cạnh một thiếu phụ sắc nước hương trời. Thiếu phụ chỉ vào tướng trẻ trả lời:

– Người này cũng như tướng quân, cũng như tôi cùng là con cháu vua Thần Nông. Y họ Trần tên Quốc Toản, tước Hoài Văn vương.

Trương Văn Hổ quẳng kiếm xuống sàn thuyền than:

– Tôi thua là phải, vì từ tài trí cho đến võ công muôn nghìn lần tôi không thể so với Trần Quốc Toản, tướng mỗi chiến mỗi thắng, võ công vô địch thiên hạ. Các Võ vệ làm sao địch lại Toản!

Y nhìn thiếu phụ:

– Tôi nghe giọng nói của phu nhân, dường như phu nhân là người vùng Dương châu, chứ không phải vùng Quảng!

– Đúng như tướng quân nói, tôi họ Vương tên Chân Phương, người Dương châu, là thần tử Tống triều.

Hai chiến thuyền Việt đã kè vào hai bên soái thuyền. Nhân Huệ vương sang soái thuyền chắp tay vái Trương Văn Hổ:

– Cô gia là Nhân Huệ vương, thống lĩnh quân Việt vùng Đồn sơn này. Cô gia mời tướng quân sang soái thuyền Việt. Chúng ta uống chén rượu ghi kỷ niệm gặp nhau ngày hôm nay.

Trương Văn Hổ theo Nhân Huệ vương, Hoài Văn vương, sang soái thuyền Việt. Một tiệc rượu bầy ra. Tiệc có giò, chả, có nem (chả giò), chả cá. Soái thuyền chèo ra biển. Trong tiệc tuyệt đối phía Việt không đả động gì đến trận đánh hôm nay. Tiệc gần tàn thì thuyền tới một cù lao cát trên vịnh.

Trên cù lao binh Nguyên bị trói ngồi xếp thành từng hàng: khu thứ nhất là những thủy thủ của 20 thuyền hộ tống. Khu thứ nhì là thủy thủ của 30 thuyền vận tải. Xung quanh tù nhân là những ngư dân Việt, nam có, nữ có cầm vũ khí trấn áp.

Một bách phu trưởng Nguyên, gốc người Hán ngoác mồm ra chửi:

– Tổ bà bọn Man Việt chúng bay, không dám trực diện giao chiến, mà dùng thủ đoạn hèn hạ đục thuyền. Cha mày không phục.

Một nữ Nghĩa dũng quân cũng không kém, đáp lại bằng tiếng Quảng:

– Chúng mày là người Hán, con cháu vua Hoàng Đế, mà cúi đầu để bọn Thát đát đem sang đây đánh nhau cho chúng. Ngạc binh đục thuyền, rồi chúng tao dùng chài bắt chúng mày như bắt cá. Đã không biết nhục, còn già họng.

– Bọn đàn bà chỉ để cho chúng tao tụt quần ra chơi, mày đừng hách dịch với bọn ông!

Nữ dân quân mắng:

– Mày có câm họng không? Nếu mày còn mở miệng ra, bà sẽ chụp váy lên đầu cho hết kiêu căng!

Gã bách phu vừa mở miệng định nói, nữ Nghĩa dũng quân cầm cái váy tung lên. Váy chụp lên đầu tên bách phu. Váy ướt, hôi hám khiến gã bách phu ú ớ mấy tiếng rồi im bặt. Nữ Nghĩa dũng quân hỏi:

– Nào! Còn nam nhi Hán tử nào không phục thì lên tiếng! Bà không chụp váy lên đầu, mà tốc váy đái vào mặt cho biết con gái vua Trưng.

Nói rồi nàng xắn váy như định đái vào đầu đám tù binh.

Đám tù binh cúi mặt không dám lên tiếng nữa.

Trương Văn Hổ hỏi Nhân Huệ vương:

– Đây là những binh lính thuộc hạ của tôi. Không biết vương gia có nới tay cho họ được hưởng một vài ân huệ nào không?

– Tôi chỉ là tướng ngoài mặt trận. Việc quyết định cho các tù nhân được hưởng ân huệ phải do triều đình.

Vương Chân Phương nhỏ nhẹ:

– Trong gần nghìn người này chỉ có đâu không quá một trăm là bọn Thát đát. Còn lại họ đều là người Hán. Tôi sẽ về yết kiến Thượng hoàng, xin cho họ có thể vì quê hương mà tái lập công không.

– Nghĩa là?

– Họ sẽ được trao cho các lực lượng Cần vương Tống, để đánh Thát đát.

Đến đó có một con thuyền nhỏ phóng tới như bay. Thuyền áp vào soái thuyền Việt. Rồi một tá lĩnh hành lễ quân cách với Nhân Huệ vương:

– Khải vương gia, thần được đô đốc Phạm Cự Địa sai về báo quân tình với vương gia.

Nói rồi y trình ra một phong thơ lớn. Nhân Huệ vương trao cho Vương Chân Phương:

– Công chúa đọc cho mọi người cùng nghe. Đọc bằng âm Quảng.

Vương Chân Phương đọc:

Khải vương gia.

Thần dàn hạm đội Thần phù ra chờ đợi. Giờ Tỵ thì đoàn thuyền của Từ Khánh tới. Trận chiến diễn ra cực kỳ ác liệt giữa 20 chiến thuyền hộ tống với thủy thủ hạm đội Thần phù. Thần có ý mở đường cho Từ Khánh dẫn đoàn thuyền vận tải chạy. Nhưng Từ Khánh quyết chiến. Y tung đội Võ vệ sang soái thuyền của thần. Nhưng thuyền trưởng soái thuyền kéo mạnh buồm. Đám võ sĩ đang chới với trên không, bị rơi xuống bể hết. Chúng được câu liêm móc lên, trói lại. Các chiến thuyền hộ tống bị Ngạc binh đục đáy, thuyền bị chìm; người thì bị bắt, bị giết hết. Cuộc chiến tiếp diễn hơn giờ thì thủy thủ Nguyên biết không giữ nổi thuyền. Họ đánh chìm hết các thuyền vận tải. Thần không thu được lương thực, vũ khí. Hiện thần đang giải hơn trăm tù binh và 20 tên Võ vệ về phục mệnh.

Trời về chiều có chim ưng mang thư tới. Ưng binh trình cho Nhân Huệ vương: đó là báo cáo của đô đốc Võ Văn Sáu:

Khải vương gia.

Hạm đội Bạch đằng đã gặp đoàn vận tải của Phí Công Thìn. Y hoảng sợ kéo buồm, chèo hết sức bỏ chạy ra khơi. Trời xế chiều thì gặp bão lớn. Hạm đội phải dừng lai kết thuyền với nhau chống bão. Còn đoàn thuyền của Nguyên thì bị trúng bão. Hiện chưa rõ ra sao.

Hoài Văn vương nói với Nhân Huệ vương:

– Như vậy nhiệm vụ của cháu đã xong. Cháu với Địa Lô trở về Thăng long. Cháu sẽ xin Thượng hoàng cho hiệu Thiên thánh, của Hưng Vũ vương Hiến ra trấn cửa sông Bạch đằng thay hiệu Hàm tử.

Vương nói với Yết Kiêu:

– Trong trận đánh vừa rồi, chúng ta thắng dễ dàng là nhờ lực lượng Nghĩa dũng quân, nhờ vào ngư dân trên biển. Vậy anh ban lệnh cho các Đại tư, Câu đương thuộc ấp phong của anh với lực lượng Nghĩa dũng trên biển phải theo chú Nhân Huệ.

Yết Kiêu cười:

– Chú Nhân Huệ lĩnh nhiệm vụ trấn nhậm vùng này thì từ dân, đến quân đều phải theo lệnh điều động của chú. Anh khỏi cần can thiệp.

Nhân Huệ vương nắm tay Yết Kiêu:

– Lỗi ở chú. Yết Kiêu không ra đây thì chú bỏ quên mất một lực lượng mạnh bất khả đương: toàn dân đánh giặc. Yết Kiêu ban lệnh của chú thưởng cho các ngư dân tham chiến hôm nay một tháng không phải nộp thuế thủy sản.

Đại tư Trịnh Nguyên Cừ cung tay:

– Khải đại vương, ấp chúng tôi giầu lắm. Chúng tôi mong cung cấp lương thực, tôm cá cho chư quân, chứ có đâu dám lĩnh ân huệ đó!

Yết Kiêu chợt để ý đến một tá lĩnh thủy quân, với một nữ trưởng toán Nghĩa dũng quân trông rất quen, mà hầu không nhớ tên. Hầu hỏi:

– Không biết tôi đã gặp ông bà ở đâu, bao giờ mà quên mất!

Đô đốc Phạm Cự Địa giới thiệu:

– Đây là tá lĩnh Lê Văn Khoa, trưởng xưởng đóng chiến thuyền ở An biên. Còn nữ trưởng toán Nghĩa dũng quân này là vợ của anh Khoa tên là Kiều Vy.

Vương Chân Phương nhắc chồng:

– Em nhớ ra rồi. Đây là anh Khoa, hồi trước say rượu đánh vợ bị anh xử tội.

Yết Kiêu hỏi Kiều Vy:

– Từ ngày ấy đến giờ anh Khoa có còn say rượu đánh chị nữa không?

Kiều Vy cung tay:

– Khải quân hầu, từ ngày ấy chồng em thay đổi như trâu đen thành trâu trắng. Bỏ hết rượu, chăm chỉ làm việc. Đúng nhiệm vụ anh ấy không được ra trận. Nhưng anh ấy nại lý do, giặc tới ấp, nên xin Đại tư Trịnh Nguyên Cừ theo đội nữ Nghĩa dũng quân ra biển đánh giặc.

Yết Kiêu hỏi đô đốc Phạm Cự Địa:

– Trong trận này có bao nhiêu nữ Nghĩa dũng quân tham chiến?

– Thưa quân hầu tổng cộng 321 Nghĩa dũng quân. Tất cả đều phụ trách dùng chài chụp lính Nguyên bị đắm thuyền, đem lên trói lại. Nữ Nghĩa dũng quân là 170 người.

Yết Kiêu buột miệng:

– Đúng là con cháu bà Lê Chân.

Yết Kiêu kể sơ vụ Khoa đánh vợ bị xử tội cho Nhân Huệ vương nghe. Vương nói lớn:

– Tá lĩnh này là người biết ăn năn, sửa lỗi. Trong trận vừa qua, xung sát tung chài bắt hơn chục giặc, lập nhiều công. Kể từ ngày hôm nay, cô gia thăng Lê Văn Khoa lên đô thống.

Vợ chồng Lê Văn Khoa tạ ơn.

Quốc Toản nói với Trung hiến hầu Trần Dương:

– Thôi, nhiệm vụ còng tay chú Nhân Huệ không cần nữa. Hầu về Thăng long với chúng tôi.

Chiều hôm ấy Hoài Văn vương Quốc Toản, Trung lang tướng Nguyễn Địa Lô, Thiên kình đại tướng quân Yết Kiêu về tới Thăng long phục mệnh. Thượng hoàng thiết triều nghe Địa Lô tâu trình về trận đánh Vân đồn. Thượng hoàng vui mừng:

– Thế là ta có tới 17 vạn thạch gạo, cùng không biết bao nhiêu ngô, khoai, sắn; tôm, cá, mực, thịt khô. Vũ khí nhiều không kể siết.

Hoài Văn vương tâu:

– Dù nói thế nào chăng nữa chú Khánh Dư cũng là người xử dụng Vạn kiếp tông bí truyền thư xuất phát hết cái ảo diệu. Chú nghiên cứu hình thể các đồi núi trên vịnh Hạ long: chỗ nào dàn quân theo Địa lôi phục, chỗ nào dàn quân theo Thiên phong cấu. Rồi cho các dân thuyền ẩn ở các chân núi. Khi chiến thuyền hộ tống Nguyên đến, dân thuyền khiêu chiến dụ cho chúng lọt vào trận địa, để Ngạc binh ra tay. Thực không thể tưởng tượng, không thể tin được rằng với một trận đánh chìm 20 chiến thuyền, giết bắt hơn 600 giặc, mà không một Nghĩa dũng quân, một thủy binh nào tử trận.

Vương chỉ Yết Kiêu:

– Tráng đinh của các ấp dọc bờ biển từ Vân đồn đến An biên góp công lớn, quá lớn vào chiến thắng. Họ xuất thân là ngư dân bao nhiêu đời, đi lại, vận động, trên thuyền; dù thuyền tròng trành, dù thuyền lắc lư, họ vẫn đứng vững. Họ lặn dưới nước không thua gì Ngạc binh. Chỉ riêng ấp phong tổng An biên của Thiên kình đại tướng quân đã góp mấy trăm Nghĩa dũng quân, mà quá nửa là con cháu bà Lê Chân.

Nghe Hoài Văn vương thuật, phu nhân của Yết Kiêu là Vương Chân Phương tủm tỉm cười. Thượng hoàng hỏi:

– Không biết cậu con sữa của công chúa tâu có gì hài hước không mà công chúa cười?

Yết Kiêu thuật lại vụ các nữ dân quân dùng váy chụp lên đầu bọn tù binh, mà khóa miệng được chúng.

Cả triều đình đang họp, cực nghiêm trang, mà đều cười lăn, cười lộn. Hưng Đạo vương khen:

– Các nữ Nghĩa dũng quân, đã dùng tâm chiến mà thành công. Binh pháp nói: “Không đánh mà làm cho binh lính giặc khuất phục, đó là người dùng binh giỏi trong những người dùng binh” (Bất chiến nhi khuất nhân chi binh; thiện chi thiện giả dã).

Địa Lô tiếp:

– Nhân Huệ vương ước tính, ta sẽ còn phải đánh nhau với thủy quân Nguyên còn nhiều. Vương hứa trong tương lai, thủy quân Nguyên ra tới biển hay từ bên Trung nguyên vào vịnh Hạ long, vương sẽ đánh tan. Hiện vương đang cho Nghĩa dũng quân, thủy quân phối hợp luyện tập các thế trận để phá các đại chu của chúng. Thần xin triều đình gửi các đội Nghĩa dũng quân ra cho vương huấn luyện.

Chiêu Minh vương khen:

– Lời Địa Lô tâu thực là diệu kế. Tôi sẽ cho thực hành ngay. Bây giờ trước chiến thắng Vân đồn ta phải làm gì?

Thượng hoàng đưa mắt nhìn Hưng Đạo vương, ngụ ý hỏi vương xem, trong tình thế này mình phải làm gì? Vương suy nghĩ một lát rồi tâu:

– Dù Ngột Lương Hợp Thai, dù A Lý Hải Nha, dù Áo Lỗ Xích, dù Thoát Hoan, đều phải tuân theo binh pháp khuôn mẫu thời Thành Cát Tư Hãn để lại. Trong hai trận: thời Nguyên phong và trận vừa qua. Chỉ vì Ngột Lương Hợp Thai, A Lý Hải Nha sử dụng binh pháp Thành Cát Tư Hãn mà thất bại. Vậy Trung Thành vương hãy trình bầy binh pháp đó cho mọi người biết.

Trung Thành vương tâu:

– Hồi Thành Cát Tư Hãn đánh đế quốc Hoa Thích Tử Mô. Sau khi phá đại quân của đại đế Mộ Hợp Mễ. Ông ban chỉ cho Tốc Bất Đài, Triết Biệt đem 35.000 kị binh đuổi theo nhà vua, đánh như sét nổ, khiến nhà vua kinh hoàng, không kịp dừng lại điều quân các nơi cứu ứng. Vì vậy tuy binh lực Hoa Thích Tư Mô mạnh, mà bị phá. Từ ngày ấy binh pháp này được giảng dạy trong các khóa đào tạo Vạn phu trưởng, tướng quân Mông cổ, Nguyên. Cho nên Ngột Lương Hợp Thai, A Lý Hải Nha tung sức mạnh chiếm Thăng long, rồi truy tìm hai vua. Nhưng Đại việt ta không có thành cho chúng phá. Không có đường lộ cho chúng truy tầm 2 vua. Vì vậy tướng Nguyên ngơ ngác. Chúng cho đóng 5 vạn kị tại Vân đồn, nơi vô dụng. Thần dùng hiệu binh Hàm tử của Hoài Văn vương, hiệu binh Tứ thần của Hoài Nhân vương từ các cánh đồng tấn công vào, kị binh vô dụng, bị phá tan.

Vương ngừng lại đưa mắt nhìn Hưng Đạo vương.

Hưng Đạo vương giảng giải:

– Áo Lỗ Xích là tướng kị binh, chuyên dùng sức mạnh. Y sẽ tung hết lực lượng thiện chiến cố chiếm Thăng long. Vậy chúng ta cần dàn quân trên các đường từ biên giới về thủ đô, đánh với chúng, rồi rút lui. Đợi cho chúng vào sâu trong nước, trải quân khắp nơi. Bấy giờ ta xuất hiện đánh cắt đường tải lương. Rút cục chúng bị cô lập. Khi chúng tiến đánh Thăng long, ta cũng lui, cho chúng chiếm, rồi phản công như hai lần trước.

Vương ngừng lại rồi tiếp:

– Lương là huyết mạch của ba quân. Ta đánh bắt lương của chúng thành công, coi như cầm chắc phần thắng rồi. Nhưng chúng mới nhập Việt, khí thế còn nguyên. Lương tải đường bộ chưa cạn. Ta đuổi chúng ngay rất khó. Trước hết ta cần chờ cho chúng mệt mỏi, bệnh hoạn đã.

Triều đình phục lý luận của vương. Vương tiếp:

– Về kị binh, bộ binh mới nhập Việt không lâu, chưa bị mưa, bị lụt, chưa bị muỗi hành, chúng đang hung hăng. Ta cần tránh cái mũi nhọn của chúng. Bây giờ chúng đang tung quân đi bình định những vùng từ Tư minh, từ Vân nam về đây, rồi mới đánh xuống Thiên trường, Trường yên. Ta cứ phục kích lẻ tẻ trong vài ba tháng cho chúng mệt mỏi, bệnh tật, rồi hãy đánh thì dễ hơn, đỡ tốn xương máu hơn.

* GHI CHÚ CỦA THUẬT GIẢ:
(1a) Hưng đức hầu Trần Đa, hay Hưng đức hầu Trần Quàn cùng là một người; thống lĩnh hiệu binh Thiên cương, trấn thủ ở Ngọc sơn. Xin đừng lầm với Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn thống lĩnh hạm đội Âu cơ.
(1) Nguyên Sử, q.14, Thế tổ bản kỷ.
(2) NS, Áo lỗ xích truyện, NS q.22. Tên Mông cổ của viên tướng này là Ayuruyei. Đọc là A ru guc tri. NS phiên âm là Áo Lỗ Xích.
(3) Diệc hắc mê thất, nguyên tên Mông cổ là Yiymis, đọc là Y gơ mi sơ. A Lý Quỹ Thuận tên Mông cổ là Ariq Qusun đọc là A ric khu sun.
(4) NS, q.22, Ai Lỗ truyện: Dã Tiên Thiết Mộc Nhi là tên NS phiên âm. Tên Mông cổ là A Săn Tămur đọc là Exen Tê mua. Mang Cổ Đái (Manqudai) đọc là Mang Khu Đai .
(5) Tên Mông cổ là Ayuruyei đọc là Aru guc tri. NS phiên âm thành Áo Lỗ Xích.
(6) Tên Mông cổ là Toyan Buqa, đọc là Tô Gan Bu Kha. NS phiên âm thành Thoát Hoan Bất Hoa.
(7) Tuyến Hoa, NS phiên âm từ tiếng Mông cổ Săgă đọc là Xen Ghê.
(8) Đền này nằm tại bờ sông Tô lịch, phường Diên hưng, không xa chùa Cầu Đông (38 phố hàng Đường, quận Hoàn kiếm, Hà nội). Hồi vua Lê Thái tổ vây Đông đô (Hà nội) giặc Minh lấy tượng nấu ra đúc súng. Khi vua Lê tái lập nền tự chủ, dân chúng đã xây lại một đền nhỏ. Hồi người Pháp phá thành Hà nội, đền cũng bị phá. Không thấy ai xây lại.
Cổng vào đền có đôi câu đối, do chính Tạ Quốc Ninh làm:
Quốc sắc, thiên hương thiên hạ hữu,
Linh thanh, vạn cổ thế gian vô.
(Dung quang quốc sắc thiên hương, nhân loại có thể có. Còn tài âm thanh, từ vạn cổ, thế gian không ai bằng).
Hai cột trong đền có đôi câu đối không rõ ai làm:
Thiên hương, quốc sắc anh hùng lệ,
Nhất phiến tài tình vạn thế âm.
(Sắc đẹp thiên hương, quốc sắc, tuẫn quốc, làm anh hùng nhỏ lệ. Nhưng tài âm nhạc còn lưu lại vạn năm sau).
Ngay 2 bên bài vị thờ có đôi câu đối:
Liên hoa thất đóa anh linh tại,
Việt quốc thiên niên liệt nữ hồn.
(7 nàng Liên, tuy qua đời nhưng linh thiêng vẫn còn. Hồn của liệt nữ nghìn năm vẫn phảng phất).
Hồi xây đền, thánh mẫu Hoàng Liên, Hồng Liên chưa hoăng. Có lẽ người sau làm khi cả 7 Liên qua đời.
Mặc dù đền chính bị phá, nhưng khắp nơi đều tôn kính, ngồi đồng, bởi vì sau khi hoăng cả 7 vị đều linh thiêng kỳ la, thường về đồng. Trong giới đồng bóng gọi là Thất vị thánh mẫu.
Sau khi hết giặc, chỉ còn 3 vị tại thế. Ba vị mở phường dạy học. Đặc biệt Hoàng Liên bị mù, nên bà chỉ nhận dạy học trò mù. Học trò mù đi hát rong để kiếm sống. Nên đến thế kỷ thứ 20, người ta dùng từ “Xẩm” để nói về ngưới mù. Do vậy Hát Xẩm bị khinh khi. Tưởng như bị tuyệt tích. Phải đến năm 2005, các nghệ sĩ Thanh Ngoan, Thúy Ngần, Mai Tuyết Hoa, Xuân Hoạch cùng nhạc sĩ Thao Giang đã can đảm, bỏ ra không biết bao nhiêu công, sức, lặn lội hết các thôn xóm, sưu tầm, biên tập, làm sống lại nghệ thuật dân gian trải qua gần nghìn năm. Ngày nay (tháng 12-2009) cứ mỗi tối thứ 7, các nghệ sĩ Hà nội lại họp nhau, hát Xẩm tại chợ Đồng Xuân cho công chúng xem. Đây là 7 vị tổ sư của hát Xẩm. Chứ không phải như truyền khẩu nói rằng tổ là một hoàng tử con vua Trần Thánh tông. Tôi chỉnh lại một sai lầm với tất cả dè dặt, như các sử gia Hoa Việt: Nghi dĩ truyền nghi (điều nghi ngờ, thì truyền lại rằng nghi ngờ).
(9) Nguyên Sử, q.14, Thế tổ bản kỷ. A Bát Xích do NS phiên âm từ Abaci đọc là A Ba Tri.
(10) Thạch, đơn vị đo lường của Nguyên, tương đương với 100 kilograms. Như vậy 170.000 x 100 = 17.000.000 kilograms.
(11) NS, q.209, An nam truyện.
(12) An Nam Chí Lược, q4.
(13) ANCL, q.13.
(14) NS, An nam truyện, q.2009, ANCL, q.4.

(Hết Hồi 108)

Share this post