Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 108

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 108

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM LẺ TÁM
Đông hải thoái nhất bộ,
Vân đồn đoạt vạn lương.
(Trên biển Đông lùi một bước,
Trận Vân đồn chiếm vạn lương)
(Bài tán Nhị tổ Nhân Huệ vương trong Trần tông ngọc phả)

Thượng hoàng hỏi Quốc Toản:

– Vương mẫu về nước, mà triều đình không biết để đón tiếp. Thế phụ vương cháu có về không?

– Tâu không. Vương mẫu nói: Cháu xa phụ vương từ hồi 11 tuổi. Người tuyên chỉ vương mẫu về, rước bà nội, đem cháu với Như Vân sang, để cha con gặp lại nhau sau hơn 10 năm xa cánh. Nay giặc tạm yên, cháu xin Thượng hoàng cho vợ chồng cháu sang thăm phụ vương cháu.

Thượng hoàng đưa mắt hỏi ý kiến Hưng Đạo vương. Vương tâu:

– Một đời Vũ Uy vương luôn phải xa quê hương, xa Tuyên cao thái phi, xa Quốc Toản. Vậy xin Thượng hoàng cho phép vợ chồng Quốc Toản đi thăm vương.

Trung Thành vương nói với Quốc Toản:

– Sau trận đại bại này, Hốt Tất Liệt sẽ đem quân nghiêng nước sang trả thù. Trong trận giặc vừa qua quân Nguyên cứ thấy kỳ hiệu của cháu với Hoài Nhân là kinh tâm động phách. Bây giờ Hoài Nhân tuẫn quốc rồi. Vậy cháu đi thăm bố, phải mau mau trở về để giữ nước. Không nên vì tình cảm cha con mà quên đại sự.

Trung Thành vương là ông nội vợ của Quốc Toản. Quốc Toản cung cung kính kính:

– Cháu xin tuân chỉ của ông nội.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Lễ bộ soạn chiếu chỉ phong cho Quốc Toản chức tước như sau:

Thái tử thái bảo, Đồng bình chương sự, Khai phủ nghị đồng tam tư, Tổng trấn Thăng long. Quản Khu mật viện, Phụ quốc đại tướng quân, Giảng võ đại học sĩ, Uy dũng, Văn uyên, Duệ mưu, trung nghĩa đại công thần. Tước Hoài Văn vương.

Như Vân được phong:

Thạc hòa, anh vũ, hồng đức công chúa.

Quốc Toản, Như Vân bái tạ.

Chiêu Minh vương hỏi:

– Từ hôm Hoài Nhân vương tuẫn quốc. An táng xong, công chúa Nang Tiên ôm đứa con trai duy nhất mới 20 tháng biến mất. Quốc Toản! Cháu có biết Nang Tiên đi đâu không?

– Cháu biết. Biết rất rõ. Vì Nang Tiên có nói với Như Vân.

– !?!

– Nang Tiên sang Trung nguyên yết kiến Thái tử phi Ngọc Kỳ, Nguyên phi Bạch Liên, để nhờ hậu thuẫn hai vị, tìm cách làm cho chú Ích Tắc và con cái tàn tật. Nang Tiên lại tìm phụ vương, vương mẫu cháu chủ trì cho việc này.

Thương hoàng ban chỉ:

– Chú Ích Tắc làm gian tế cho giặc biết bao năm. Tội lỗi quá nặng. Chú ấy có chết đến trăm lần cũng chưa hết tội. Tương lai, Nguyên sẽ còn đem quân đánh ta. Họ sẽ dùng chú Ích Tắc làm vũ khí gây chia rẽ trong tộc Đông a. Kể từ nay, chú ấy làm gì cũng không còn là người của tộc Đông a nữa. Vậy bất cứ tướng nào giết chú ấy cũng như giết một tên giặc Nguyên. Tuy nhiên con, cháu chú ấy không chủ trương được, chúng vô tội, ta chẳng nên trách chúng, làm tội chúng. Trẫm biết Vũ Uy vương sẽ không giết chú Ích Tắc đâu, mà để chú ấy làm con múa rối cho Nguyên, sử sẽ ghi lại điều ô nhục này. Như vậy chú Ích Tắc sẽ chết muôn đời.

Lời của Thượng hoàng làm hạ cái căng thẳng của buổi thiết triều. Chiêu Văn vương vẫy tay, 10 ca nhi phủ Chiêu Văn cùng xuất hiện múa hát. Mở đầu là bài ca của Chiêu Minh vương Trần Quang Khải mới sáng tác:

Đoạt sáo Chương dương độ,
Cầm Hồ Hàm tử quan.
Thái bình tu nỗ lực,
Vạn cổ cựu giang san.

(Chương dương cướp dáo giặc,
Hàm tử giết tướng thù.
Thái bình phải gắng sức,
Vạn cổ cựu giang sơn).

Hoàng đế Thiệu Bảo ban chỉ:

– Ta vừa trải qua trận giặc khủng khiếp, một số làng xã bị tàn phá; hoa mầu, mùa màng thất thu. Bây giờ ta có nhiều việc phải làm. Thứ nhất là giúp dân chúng kiến thiết lại nhà cửa. Thứ nhì là phủ tuất gia đình có người vị quốc vong thân. Thứ ba là bổ xung quân số bị hao hụt. Thứ tư là huấn luyện, tái tổ chức những hiệu binh bị tổn thất. Thứ năm là rèn luyện, chế tạo vũ khí.

Thượng hoàng hỏi Vũ Minh vương chuyên trách về cung cấp vũ khí cho toàn quân. Vương tâu:

– Thời Nguyên phong, khi Ngột Lương Hợp Thai sang đánh, ta thiếu vũ khí trầm trọng. Vũ khí dùng cho các làng, xã không đủ đã đành, mà vũ khí cho các hiệu binh cũng thiếu. Vì vậy Linh Từ quốc mẫu phải sai người đi thu nhặt đồng, sắt để chế vũ khí.

Triều đình im lặng, cùng tưởng lại thời đánh giặc mà vũ khí thiếu thốn. Vương tiếp:

– Bọn Ngột Lương Hợp Thai thua chạy, ta thu được hơn trăm nghìn vũ khí. Vũ khí nào giống của ta, thì ta bổ xung cho quân. Vũ khí nào không hợp thì ta nấu ra, chế thành vũ khí mới. Từ đấy vũ khí cho các hiệu binh đầy đủ. Nên trong trận vừa qua, quân ta trang bị có phần trội hơn giặc. Nhưng Nghĩa dũng quân (dân quân) vẫn thiếu. Họ phải đánh giặc với vũ khí thô sơ.

Vương ngừng lại một lát rồi tiếp:

– Thoát Hoan đem 50 vạn quân qua, trang bị vũ khí mạnh mẽ vô cùng. Chúng còn chở theo số vũ khí có thể trang bị cho 10 vạn phu nữa. Sau các trận đánh Hoan châu, Ái châu của tướng Cao Mang, ta thu được số vũ khí có thể trang bị cho 5 vạn quân. Trận tái chiếm Trường yên của Thượng hoàng, thu được số vũ khí đủ trang bị cho 4 vạn quân. Trận ta thu được nhiều vũ khí nhất là trận tái chiếm Tây kết, Đông bộ đầu, Chương dương, Thăng long, giặc bỏ vũ khí chạy, số vũ khí có thể trang bị cho 20 vạn quân. Tiếp theo trận truy đuổi, giặc quẵng vũ khí chạy lấy thân. Số vũ khí đó có thể trang bị cho 18 vạn quân nữa. Trận Hàm tử thu số vũ khí có thể trang bị cho 7 vạn quân. Hiện Ngạc binh của Yết Kiêu đang lặn xuống sông Như nguyệt, sông Hồng mò vũ khí khi giặc chạy qua phù kiều ném xuống. Vì vậy vũ khí tái trang bị cho các hiệu binh, kị binh, thủy binh của ta quá dư thừa. Thần đã cất một số để làm trừ bị. Còn lại thần phát cho Nghĩa dũng quân. Nếu kỳ này giặc sang nữa, Thiên tử binh dư thừa vũ khí đã đành, mà dân chúng cũng đầy đủ. Chúng đánh vào các làng xóm sẽ vô cùng khó khăn.

Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, lĩnh chức Thái úy tâu:

– Sau gần một năm lâm chiến, binh tướng đều mệt mỏi. Thần đề nghị chia quân làm hai. Một nửa cho về thăm gia đình ba tháng. Một nửa ở lại để tái bổ xung, huấn luyện. Sau ba tháng hai phần hoán đổi cho nhau. Lực lượng nghỉ trở lại bổ xung, huấn luyện. Lực lượng đã được bổ xung, huấn luyện kia được nghỉ với gia đình.

Vương tiếp:

– Về nhân sự, thần xin Thượng hoàng ban chỉ.

Thượng hoàng cầm tờ giấy đọc:

– Tiết chế vẫn là Hưng Đạo vương.
– Phó tiết chế là Nhân Huệ vương. Như Trung Thành vương ước tính, vừa rồi Thoát Hoan thất bại vì không có thủy quân, lần báo thù này chắc chắn Hốt Tất Liệt sẽ vét thủy quân sang hỗ trợ với bộ-kị binh. Vì vậy Nhân Huệ vương sẽ tổng chỉ huy các vùng ven biển, và trên biển.
– Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Phụ quốc Thái úy.
– Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Tổng trấn Tây Bắc cương.
– Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung, Tổng trấn Đông Bắc cương.
– Tĩnh Quốc vương Tổng trấn Nam thùy.
– Vũ Minh vương Quang Húc vẫn Tổng lĩnh Ngự lâm quân, Thị vệ.
– Hoài Văn vương Quốc Toản, Tổng trấn Thăng long, Quản Khu mật viện. Thống lĩnh lực lượng cứu ứng.
– Chiêu Hòa vương Quốc Uất, Tổng lĩnh Kị binh, Ngưu binh.
– Hưng Nhượng vương Quốc Tảng, Tổng lĩnh thiên tử binh.
Các Tướng thống lĩnh 16 hiệu Thiên tử binh:
1. Thiên thuộc, Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh.
2. Thiên cương, Hưng đức hầu Trần Đa. (1a)
3. Thiên thánh, Hưng Vũ vương Hiến.
4. Tả thánh dực, Hưng Hiếu vương Quốc Uy.
5. Tiền thánh dực, Hưng Trí vương Quốc Hiện.
6. Hữu thánh dực, Phạm Ngũ Lão.
7. Trung thánh dực, Hà Chương.
8. Thần cách, Địa Lô.
9. Củng thần, Cao Mang.
10. Tứ thần, Nguyễn Khoái.
11. Tứ thánh. Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền.
12. Tứ thiên. Nguyễn Lộc.
13. Hàm tử, Hoài Văn vương Quốc Toản kiêm nhiệm.
14. Văn Bắc, Trần Quốc Kinh (Dã Tượng).
15. Thiệu Hưng, Triệu Hòa.
16. Văn Thiên Tường: Triệu Nhất, Triệu Trung,
Thủy quân: 4 hạm đội.
1. Bạch đằng, Võ Văn Sáu, đô đốc.
2. Âu Cơ, Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn.
3. Thần phù, Phạm Cự Địa, đô đốc.
4. Thăng long. Nguyễn Chế Nghĩa, đô đốc.
Ngưu binh:
Hiệu Hoa lư. Ngưu vệ thượng tướng quân, Nam thiên hầu Trâu Đen Lý Long Đại, vợ là Quận chúa Cái Hồng Vũ Trang Hồng.
Ngạc binh, Trần Quốc Vỹ (Yết Kiêu),

Việc phối trí các hiệu binh do Hưng Đạo vương, với Hưng Nhượng vương quyết định.

Toàn quốc Đại việt, triều đình cũng như dân chúng, sau trận giặc cùng xắn tay kiến thiết lại. Đồng ruộng xanh tươi, vườn tược tái trồng trọt. Hai mùa năm Ất dậu (1285), vụ Chiêm tuy còn chiến tranh, nhưng lại được mùa. Vụ mùa trúng to. Gia súc chăn nuôi lại muốn nhiều hơn xưa.

Chiếu theo luật từ khi mới lập triều Trần: những làng bị tàn phá vì chiến tranh không những miễn thuế, mà các chủ điễn, tá điền bị thiệt hại được trợ cấp để tái canh tác. Những thửa ruộng thu hoạch vượt chỉ tiêu được miễn tô thuế để khuyến nông.

Tháng 9 năm ấy (Ất dậu 1285) nhà vua đổi niên hiệu. Niên hiệu cũ là Thiệu Bảo, bây giờ đổi là Trùng Hưng nguyên niên. Đại việt được hưởng cảnh thái bình suốt từ tháng 6 năm Ất dậu (1285) đến cuối năm.

oOo

Niên hiệu Trùng Hưng thứ nhì (Bính tuất 1286) đời vua Nhân tông,

Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 23 đời Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt.

Vào một ngày cuối tháng Giêng phó quản Khu mật viện Nguyễn Địa Lô xin mật tấu với hai vua, Chiêu Minh vương, Hưng Đạo vương.

Hầu trình bản tấu của Tuyên uy đại tướng quân, Trung hòa hầu, Thống lĩnh Cấm quân, Thị vệ Nguyên là Nguyễn Đại Hành:

Thoát Hoan, A Lý Hải Nha đại bại, quân số khi đi là 50 vạn, khi về kiểm điểm lại chỉ còn 15 vạn. Khu mật viện xin cho binh tướng đánh An Nam trở về được nghỉ ngơi với gia đình, hầu phục hồi sức lực. Hốt Tất Liệt đồng ý. Chỉ giữ lại 100 Thị vệ hộ tống Thoát Hoan.
Trong khi Thoát Hoan, A Lý Hải Nha, Trần Ích Tắc với đám hàng tướng Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn lên đường về Đại đô yết kiến Hốt Tất Liệt thì thích khách đột nhập Đàm châu giết hết tùy tùng, gia thuộc của đám hàng tướng An Nam. Một số người thoát chết, nhờ đi theo Trần Ích Tắc. Hai con trai Ích Tắc theo cha, nên thoát nạn. Hành trung thư tỉnh Đàm châu tâu rằng thích khách đó do An Nam sai sang. Gồm ba nữ, hai nam.
Hốt Tất Liệt họp Khu mật viện nghe Thoát Hoan, A Lý Hải Nha, Trần Ích Tắc trình bầy lý do bị bại. Cả 3 đều đổ thừa tại:
– Nguyên do thứ nhất, quân tướng Nguyên sang đánh An Nam phân nửa là kị binh, kị mã xuất từ vùng Thảo nguyên, khí hậu lạnh lẽo, khi sang An Nam khí hậu thấp nhiệt. Người ngựa không chịu nổi. Người ngựa không có màn. Rồi bị lam chướng, muỗi mòng, sinh ra dịch tả, sinh ra sốt rét. Số quân chết vì bệnh mất hơn mười vạn. Ngựa không quen với rau, cỏ vùng nhiệt đới, sinh bệnh. Kị binh vô dụng.
– Nguyên do thứ nhì là đường tiếp tế lương thảo khó khăn. Vì đường tiếp tế bị chặn đánh ngay trên đất Trung nguyên.
– Nguyên do thứ ba là Thủy quân Việt quá mạnh, quá thiện chiến, trong khi Nguyên không có Thủy quân. Mà trên toàn cõi An nam, sông ngòi chằng chịt, việc chuyển quân, việc tiếp tế lương thực khó khăn.
– Nguyên do thứ tư là các tướng An Nam đều là những cao thủ. Trong khi các tướng Nguyên thì điều binh, xung phong hãm trận giỏi, những võ công thấp. Lúc đối trận các tướng Nguyên bị tướng An nam sát hại, nên quân rối loạn. Hoặc tướng Nguyên phải đối phó với tướng Việt, không còn điều động quân sĩ được nữa. Trong buổi lễ tấn phong An nam quốc vương, các cao thủ đại náo điện Giảng võ. Suýt nữa Thoát Hoan bị giết. Khi rút lui khỏi An Nam, Thoát Hoan bị Quốc Toản, Quốc Kiện, Dã Tượng đuổi theo ném đá suýt vong mạng.
Lập tức Hốt Tất Liệt sai Phi mã truyền chỉ đi các Hành tỉnh, đi các nước Tây tạng, Đại lý, Cao ly, Tây hạ, Hoa thích tử mô, Đức lan tây, Nga la tư; truyền tuyển tất cả các cao thủ, phong cho quân hàm cao, đem về Đàm châu trao cho bọn Trần Ích Tắc huấn luyện thành một đoàn Thiết đột 5 nghìn người. Đoàn này trao cho một đệ nhất cao thủ là Đô Mi Ni thống lĩnh, phụ trách bảo vệ Thoát Hoan, và bộ tham mưu. Lại huấn luyện những đội Võ vệ, mỗi đội 20 người, dùng đoản đao. Đoản đao này do Đức lan tây đúc, rất sắc, rất cứng. Mỗi tướng từ cấp vạn phu có một đội hộ vệ, để xuất trận, đội này vây tướng của ta, hầu tướng Nguyên rảnh tay điều quân.
Sau khi bàn luận, các đai thần hầu hết là người Hán, cùng hướng về Thoát Hoan, muốn cho Thoát Hoan tiếp tục cầm quân, để có chiến công, mong đoạt ngôi của thái tử Chân Kim. Họ lại đổ thừa A Lý Hải Nha là tướng xuất thân từ kị binh, không quen với chiến tranh vùng lầy lội.
Hốt Tất Liệt tin rằng Thoát Hoan thất bại không do bất tài. Y giữ nguyên ý định để Thoát Hoan cầm quân, A Lý Hải Nha làm quân sư. Y ban chỉ ngày Tân mão, 24-01 Bính Tuất (18-02-1286) thành lập Chinh Giao chỉ hành Thượng thư tỉnh.
Nội dung chỉ ra lệnh cho A Lý Hải Nha nghiên cứu kế hoạch đánh Giao chỉ”. (1)

Thượng hoàng được tin thích khách giết hết vợ, con của Trần Ích Tắc, Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn, thì ngài chau mày, ôm đầu cúi xuống tỏ ra đau đớn. Hồi ngài còn là thái tử, Địa Lô lĩnh chức Trưởng sử của phủ thái tử. Chúa tôi rất hợp tính. Ngài coi Lô như người bạn. Ngài hỏi Địa Lô:

– Theo ước tính của Lô, thì thích khách là ai ?

– Tâu, khó biết lắm. Có thể là bộ thuộc của Vũ Uy vương. Có thể là bộ thuộc của Hoài Nhân vương, do vương phi Nang Tiên chỉ huy.

– Có thể nào là vương phi Ý Ninh với Quốc Toản không?

Nam phương, Đại từ, Thạc hòa huyền quân, Vũ uy, Quang minh công chúa Thúy Hồng tâu:

– Hiện diện ở đây có Hồng đức, Trang hòa Công chúa Vương Chân Phương. Công chúa từng ôm ấp, bế bồng Quốc Toản suốt thời thơ ấu. Thần là bản sư của Quốc Toản. Hai chị em thần hiểu Quốc Toản lắm. Quốc Toản là người cực kỳ quang minh lỗi lạc, hồi các phản thần Di Ái, Quang Kiện, Tú Hoãn, Văn Lộng bắt giam Toản, vậy mà khi Toản luyện được bản lĩnh vô địch, Thượng hoàng ban chỉ ân xá. Quốc Toản xí xái không nghĩ tới. Cái vụ thích khách này không thể là Toản. Còn vương phi Ý Ninh xuất thân từ Vô Huyền Bồ tát, xung sát tại trận thì rất cương quyết. Trong đời sống, phi hành xử theo gương của sư phụ Vô Huyền, có đâu giết đàn bà, trẻ con không biết võ?

Nghị sự chuyển qua việc đối phó với Nguyên.

Thượng hoàng hỏi ý kiến Hưng Đạo vương. Vương tâu:

– Thời Nguyên phong, binh, tướng, dân chúng từ lâu không biết gì đến giặc giã. Giặc kia như hùm, như hổ đến đánh. Ta phải chiến đấu trong hoàn cảnh đó, lại nữa, vũ khí thiếu thốn. Nhưng nhờ trong nhà, anh em một lòng. Triều đình trên dưới quyết tâm. Dân chúng, cùng quyết chí giữ nước, mà đuổi được giặc. Vừa rồi giặc đến hùng mạnh biết bao, đông như kiến. Thế nhưng triều đình dựa vào dân chúng, anh em cùng hết sức, mà thành công. Bây giờ quân sĩ, dân chúng đã quen với giặc giã, vũ khí dư thừa. Mà giặc kia bị cái gương thất bại của Hằng, Quán, Toa Đô làm nhụt chí. Bị dư âm của các trận Khả lan vi, Khâu cấp, Đại trợ, Chi lăng, Tây kết, Chương dương, Trường yên, Như nguyệt làm cho kinh hãi. Ta đánh giặc không khó.

Nhân cái gương Hoài Nhân vương, Hoài Văn vương tự mộ tráng đinh, luyện tập thành đạo binh vô địch, khiến giặc bạt vía kinh hồn. Nhà vua ban chỉ cho các vương hầu được mộ binh tướng tổ chức quân đội riêng. Vũ khí do triều đình cấp. Tráng đinh các xã được huấn luyện xung phong, hãm trận, gọi là Nghĩa dũng quân, chứ không gọi là dân quân, hoàng nam như xưa.

Nhân triều đình thấy quân Nguyên sang lần trước quá đông, tâu xin nhà vua mộ thêm quân. Hưng Đạo vương bác:

– Quân quý ở chỗ thiện chiến, chứ không quý ở số đông. Xưa kia Bồ Kiên, quân đông trăm vạn mà bị phá.

Chiêu Minh vương là Phụ quốc Thái úy, ra lệnh cho các tướng ngày đêm thao luyện sĩ tốt. Lại ra lệnh cho các Đại tư huấn luyện Nghĩa dũng cho thành thuộc.

Hơn tháng sau, Khu mật viện lại nhận được tin của Đại Hành. Khu mật viện lại họp. Địa Lô đọc:

Nguyên quyết đem quân sang đánh ta phục thù:
Ngày 7 tháng 2 năm Bính tuất (3-3-1286) Hốt Tất Liệt duyệt danh sách các tướng đánh An Nam. Bổ nhiệm:
– A Lý Hải Nha lĩnh An nam hành Trung thư tỉnh, Tả thừa tướng. Từ khi thua trận trở về, y bị sốt rét ngã nước, báng làm bụng chướng lên. Các y sĩ hết sức chữa chạy, mà không giảm.
– Áo Lỗ Xích (2) lĩnh Bình chương chính sự.
– Bôn Kha Đa, Lưu Thế Anh, Đường Ngột Đải lĩnh Tả thừa.
– Ô Mã Nhi, Diệc Hắc Mê Thất, A Lý Quỹ Thuận, Phàn Tiếp làm Tham tri chính sự. (3).
Khu mật viện cho rằng An Nam với Vân nam cùng ở vùng thấp nhiệt, nếu đem quân Vân nam đi thì không còn sợ cái nạn lam chướng nữa. Sau trận đánh trở về, Vân Nam vương là Hốt Khê Xích (Hugaci) băng hà, vì bị sốt rét ngã nước. Hốt Tất Liệt phong cho con y là Dã Tiên Thiết Mộc Nhi (4) thay thế. Tân quân Vân Nam cử thân vương A Tai, và tướng Mang Cổ Đái (Mang Khu Đai tên Mông cổ là Manqudai) đem 10 vạn binh chỉ huy cánh quân đánh từ Vân Nam sang.
Để tăng tiềm lực Thủy quân, ngày 20 tháng 2, Hốt Tất Liệt ra lệnh cho Hồ Quảng đóng 300 chiến thuyền đi biển, hẹn tháng 6 phải xong, điều tới Khâm châu, Liêm châu Tĩnh giang (Quế lâm, Quảng tây). Cuối tháng 3 lại lệnh cho đóng thêm 200 chiến thuyền nữa. Tổng cộng 500 chiến thuyền. Mỗi chiến thuyền có thể chở được từ 400 đến 500 quân.
Ngày 4-4 (28-4-1286) ban chỉ cho quân Mông cổ ở Vân nam đi đánh Đại Việt được miễn tô đồn điền. Ngày 16 tháng 4 (10-05-0286) ra lệnh cho Bình chương chính sự tỉnh Vân Nam là Nạp Thốc Lạt Đinh (tên Mông cổ là Nasir ud Din) chọn tướng giỏi chỉ huy quân Mông cổ, quân địa phương Vân nam.

Nhân Huệ vương tâu:

– Kỳ này chúng không có đạo quân đánh vào phía nam. Nhưng đạo Vân nam mạnh hơn. Lại có đạo thủy quân. Tuy nhiên thuyền của chúng đều là chiến thuyền lớn, xoay sở khó khăn lúc đi vào sông ngòi. Khi giao chiến với chúng, ta nên dùng những thuyền nhẹ, ẩn vào sông nhỏ, vào các lạch, các sách, rồi tiến ra bao vây. Ta lại khai thác hết khả năng của Ngạc binh, với 4 hạm đội.

Nhà vua hỏi Đông hải Thiên kình đại tướng quân, Yết Kiêu:

– Liệu với quân số Ngạc binh hiện tại, có đủ dùng trong cuộc chiến lớn này không?

Yết Kiêu tự tin:

– Tâu, Ngạc binh tổ chức thành từng Lượng 20 người, Đô 80 người. Trừ bị tại trung ương thần có 10 đô. Ngoài ra chúng ta có 16 hiệu binh, mỗi hiệu đều có một đô Ngạc binh. Mỗi hạm đội thủy quân đều có một đô nữa. Như vậy đủ rồi, không cần tuyển thêm. Trong trận vừa rồi, Ngạc binh tổn thất ít, không một Ngạc binh nào tuẫn quốc. Trong trận đánh cầu nổi sông Hồng, Như nguyệt, chỉ có 82 Ngạc binh bị thương nhẹ.

Yết Kiêu tiếp:

– Dù đánh trên sông, trên biển, ta cũng có một lực lượng Nghĩa dũng mạnh vô song. Bất cứ thôn nào, xã nào gần sông, cũng có ngư dân. Ngư dân thuộc địa hình, địa vật, chỗ nào sâu, chỗ nào nông, chỗ nào thuyền dễ mắc cạn. Họ dùng những thuyền nhẹ, quen thủy tính, dù thuyền chòng chành, nghiêng ngửa họ cũng vẫn đứng vững. Ta dùng họ chèo thuyền cho thủy quân giao chiến. Khi thủy quân Nguyên vào vịnh Hạ long, dù có bọn Việt gian dẫn đường, chúng cũng không biết được hàng vạn mỏm núi đá ngầm, hàng nghìn ngọn núi đồi nhỏ. Ta dùng Nghĩa dũng ngư dân chèo thuyền cho thủy quân giao chiến, rồi giả thua, dụ cho chúng đuổi theo. Thuyền chúng đụng đá bị vỡ. Ngư dân tung chài bắt chúng như bắt cáy vậy.

Đến đó một Tá lĩnh Khu mật viện vào trao cho Địa Lô một ống đựng thư do Ưng binh nhận, Địa Lô mở ra đọc rồi tâu:

– Tin mới nhất,

Cách đây ba ngày, ngày 25 tháng 5 (18-6-1286) A Lý Hải Nha chết. Áo Lỗ Xích (5) thay thế. Hốt Tất Liệt gọi Áo Lỗ Xích về Đại đô, giao nhiệm vụ trợ giúp Thoát Hoan đánh An Nam. Để khuyến khích viên tướng này, Hốt Tất Liệt phong cho con y là Thoát Hoan Bất Hoa (6) từ bách phu trưởng, vượt bậc lên vạn phu trưởng.

Thượng hoàng hỏi Địa Lô:

– Tài trí Áo Lỗ Xích thế nào?

– Tâu, y ít tuổi hơn A Lý Hải Nha nhiều. A Lý Hải Nha gốc là người Hồi cương, từng theo Mông cổ chinh chiến phương Tây. Y là một tướng tàn bạo, xảo quyệt. Nhưng y tinh thông Hán pháp. Y là một khai quốc công thần của Nguyên. Còn Áo Lỗ Xích là người gốc Thảo nguyên, giỏi xung phong hãm trận. Y từng cầm quân phe Hốt Tất Liệt đánh phe A Lý Bất Ca ở Tứ xuyên, Vân Nam. Tài trí y không bằng A Lý Hải Nha.

Triều đình tuyên triệu các tướng thống lĩnh 16 hiệu binh, 4 dô đốc về họp, nghị kế chống giặc. Cuộc họp chưa diễn ra, thì 3 ngày sau, lại nhận được tin:

“Các đại thần triều Nguyên cực lực phản đối cuộc ra quân dánh An Nam lần thứ ba. Tiêu biểu nhất là Hành tỉnh Hồ quảng Tuyến Kha (7) thượng biểu can nhà vua. Vì trong mấy năm qua dân chúng Hồ quảng phải phục dịch cho cuộc chiến: trai tráng phải làm lao binh vận chuyển lương thực nên không người canh tác. Dân chúng đói khổ. Binh tướng bị chinh chiến, mười người đi thì 8 người chết. Giặc cướp nổi lên khắp nơi. Bọn di thần Tống nhân đó kéo cờ trung hưng, làm loạn. Quan quân đánh dẹp không xuể.
Lễ bộ Thượng thư là Lưu Tuyên thì can:
Đại nguyên là triều đình tối cao. Tất cả các nước đều phải quy phục. Xét An Nam, ngay từ khi bệ hạ còn cầm quân đánh Đại lý, đã gửi sứ sang cống. Rồi suốt 30 năm qua, luôn gửi sứ sang cống, tỏ ý quy phục. Nhưng chỉ thiếu một điều là chúa không sang chầu. Sau khi Ngột Lương Hợp Thai bị bại, Trần Cảnh lại gửi sứ sang cống, tạ tội, gửi con trưởng sang làm con tin. Vụ việc này khắp thiên hạ đều biết. Vừa rồi ta ra quân sấm sét, nhưng thất bại. Nhật Huyên gửi sứ sang, đem tù binh trao trả. Như vậy triều đình cần sai sứ sang phủ dụ, hơn là đem quân đi viễn chinh, hao tiền, tốn của, tướng sĩ mỏi mệt, mà thánh đức không trải rộng thêm.
Hốt Tất Liệt đành ban chỉ ngừng đánh An Nam. Bọn hàng tướng Ích Tắc được ban cho ruộng đất ở Đàm châu (Trường sa) sinh sống”.

Trung Thành vương phát biểu ý kiến:

– Không ai hiểu Mông cổ bằng thần. Không ai biết Hốt Tất Liệt bằng thần. Quần thần Nguyên cùng tâu xin bãi binh, nhưng truyền thống của Mông cổ là đánh đâu, cũng phải thắng. Lỡ bại thì dốc quân nghiêng nước sang phục thù. Ngột Lương Hợp Thai thua đã 32 năm. Y quyết sai Thoát Hoan báo thù. Thoát Hoan bại, bại một cách quá đáng, y không thể chịu nổi. Vì vậy mau thì dăm ba tháng, lâu thì một năm, y lại đem quân sang đánh mình nữa.

Giữa lúc đó có sứ giả của Trung nghĩa vương Ngột A Đa xin yết kiến. Nhà vua truyền quốc công Triệu Trung ra đón vào. Sứ là một cựu đô thống trong hiệu binh Động đình, thời Vũ Uy vương còn là Hành sơn vương, tên Triệu Đại.

Lễ nghi tất.

Triệu Đại tâu:

– Quân Cần vương Tống hiện có mặt khắp các tỉnh Vân nam, Tứ xuyên, Hồ Nam, Lưỡng quảng, hầu như làm chủ hết các thôn ấp. Từ khi Thoát Hoan bại trận ở Đại việt về. Nguyên triều dùng những vạn phu của bại quân vây đánh nghĩa quân, nên Nguyên dành được thế chủ động. Các con đường bộ, đường thủy từ Trường sa xuống đến Đại việt được khai thông. Quân Cần vương tuy đông, nhưng chỉ là các đội ô hợp không quá nghìn người. Chủ lực chỉ có hiệu Tường Hưng. Trung Nghĩa vương xin bệ hạ cho hai hiệu Thiệu Hưng, Văn Thiên Tường về nước chiến đấu.

Thượng hoàng, hoàng đế, Hưng Đạo vương, Chiêu Minh vương hỏi các chi tiết về quân Cần vương. Thượng hoàng ban chỉ:

– Hiện lực lượng Đại việt tương đối đủ giữ nước. Trẫm chuẩn cho hai hiệu Thiệu Hưng, Văn Thiên Tường về nước đánh giặc. Không biết ba Triệu quốc công có cần triều đình giúp thêm gì không?

Triệu Nhất tâu:

– Hai hiệu Thiệu Hưng, Văn Thiên Tường rất thiện chiến, được trang bị vũ khí đầy đủ. Ý thần muốn xin Trung nghĩa vương tuyển nghĩa quân rồi nhập lại chia hai hiệu binh này thành 4 hiệu. Như vậy hơn là tuyển nghĩa quân lập hiệu binh mới. Thần xin triều đình giúp cho vũ khí.

Thượng hoàng ban chỉ cho Vũ Minh vương:

– Vương xét xem, nếu thành lập 2 hiệu mới thì cần những vũ khí gì? Bao nhiêu, rồi khi hai hiệu Thiệu Hưng, Văn Thiên Tường lên đường thì gửi theo.

Trùng Hưng hoàng đế hỏi:

– Không biết có cần viện lương thực cho quân Cần vương không?

Triệu Đại tâu:

– Vì quân Cần vương sống lẫn với dân, được dân cung ứng lương thảo đầy đủ, nên không cần Đại việt viện lương.

Thế là hai hiệu binh thiện chiến bậc nhất, rời Đại việt về quê hương chống giặc. Các chiến binh hai hiệu binh Văn Thiên Tường, Thiệu Hưng người người mừng chi giết kể. Hai hiệu mang theo số vũ khí có thể võ trang cho hai hiệu binh mới.

Trước khi lên đường, ba vị quốc công Tống là Triệu Nhất, Triệu Trung, Triệu Hòa làm lễ tế vọng chư vị tiên đế Tống triều. Lại về Thiên trường lễ liệt Tổ Đông a.

Tuy Đại việt được yên ổn, nhưng toàn quốc vẫn luyện tập sĩ tốt, Nghĩa dũng binh ngày đêm.

Qua được cái tết Đinh dậu (1287) êm đềm.

Vào ngày mùng 5 tết, Thượng hoàng, Hoàng đế đang ngồi nghe bách quan chúc tết, thì quan phó Quản khu mật viện Địa Lô báo:

– Có Hoài Văn vương, vương phi, dẫn Tuyên uy đại tướng quân, Trung hòa hầu, Thống lĩnh Cấm quân, Thị vệ Nguyên là Nguyễn Đại Hành cùng ba công chúa Ngọc Quốc, Ngọc Trí, Ngọc Cách xin vào yết kiến.

Như linh cảm thấy điều gì không hay, Chiêu Văn vương nhíu mày nhìn Thượng hoàng. Thượng hoàng ban chỉ:

– Mời tất cả vào.

Sáu người lớn, 9 đứa trẻ vào trong điện.

Lễ nghi tất.

Thượng hoàng hỏi:

– Cái gì không hay đã xẩy ra?

Đại Hành tâu:

– Hồi tháng 9, năm ngoái, Tuyên phi Bạch Liên băng. Hốt Tất Liệt vô cùng thương tiếc, sai làm lễ táng như một hoàng hậu. Nhân đó các công chúa Ngọc Trí, Ngọc Quốc, Ngọc Cách từ Đàm châu về chịu tang, đám hàng tướng cũng về dự tang lễ. Ích Tắc không chịu quỳ gối trước tử quan. Thái tử Chân Kim mắng y thậm tệ. Ích Tắc cãi lại rằng Phi xuất thân là gái điếm ở Thăng long, rồi được gửi sang Nguyên làm gian tế cho triều đình. Tước y là An Nam quốc vương, quyết không quỳ gối trước quan tài con điếm. Lập tức Ích Tắc, Tú Hoãn, Văn Lộng bị Thái tử phi Ngọc Kỳ, ba công chúa Ngọc Trí, Ngọc Quốc, Ngọc Cách xúm vào mắng là đồ bội anh, phản cha. Công chúa Ngọc Quốc còn chỉ mặt Ích Tắc bị Dã Tượng ném đá phải chui đầu vào váy công chúa mới thoát chết. Các ông ấy nghiến răng nín nhịn.

Đám tang qua đi, tất cả trở về Đàm châu. Cả ba căm thù, ngày đêm chia nhau rình quanh phủ của Thoát Hoan, Lý Hằng, Đường Ngột Đải. Ba người thấy 3 cô xử dụng chim ưng, chúng gọi chim xuống. Nhưng chim mới không biết ký hiệu của chúng nên không tuân. Ba người ẩn nấp, dùng ná bắn rơi chim ưng, lấy được thư dưới chân chim. Có bút tích, chứng cớ của 3 cô làm tế tác. Ích Tắc về Đại đô, tố cáo với Khu mật viện. Thấy sự việc quá lớn, Khu mật viện tâu trình với Hốt Tất Liệt.

Bọn Ích Tắc trình bầy vụ việc Đại việt dùng 7 nàng Tô lịch, 5 nàng Đông hoa sang làm gian tế. Chi tiết những gì Vũ Uy vương, vương phi làm, những gì 12 người đẹp đã làm.

Lập tức Hốt Tất Liệt sai thị vệ đi Đàm châu bắt ba cô về kinh điều tra. Nhưng sợ ba cô bỏ trốn, nên ông ta sai sứ ban chỉ rằng:

Ba nàng theo chồng chinh chiến cực nhọc, vậy hãy đem con về kinh để triều đình lao tưởng.

Ba nàng nhận được chỉ, tin là thực, cùng ôm con, theo sứ về kinh. Tại Đại đô, thái tử phi Ngọc Kỳ bị đem đối chất với Ích Tắc, Tú Hoãn, nàng đuối lý. Tối về nàng viết tờ biểu tâu lên Hốt Tất Liệt. Đại ý nói: Nàng xuất thân nghèo khó, cha mẹ bán cho cha mẹ Bạch Liên, rồi được gả cho thái tử. Từ khi làm thái tử phi, đã lập đại công trong cuộc chiến với A Lý Bất Ca. Sau đó an phận làm vợ, nuôi con. Bây giờ các đại thần nghe lời bọn bội cha, phản anh, làm nhục nàng.

Nàng thắt cổ tự tử. Hốt Tất Liệt vô cùng thương xót, truyền an táng theo nghi lễ một hoàng hậu.

Đại Hành ngừng lại, vì từ Thượng hoàng, Thái hậu, Hoàng hậu đều khóc.

Chiêu Minh vương thúc:

– Cháu tiếp tục đi.

– Đúng lúc đó Hoài Văn vương thăm Vũ Uy vương ở Hoa Thích Tử Mô trở về. Vương nhớ những ngày cùng phụ vương sống ở Trường sa. Vương đem vương phi đi Trường sa chơi.

Chiêu Minh vương ngắt lời, vương hỏi Quốc Toản:

– Làm sao cháu với vợ đi từ Hoa Thích Tử Mô về Trường sa, mà không bị bọn Nguyên kiểm soát gây rắc rối?

Hoài Văn vương đáp:

– Thưa chú, bố cháu cầm binh quyền ở miền Tây Đại nguyên. Người cấp thẻ bài chứng nhận cháu là sứ của người, đem phương vật về Đại đô dâng Hốt Tất Liệt. Vì vậy đoàn tùy tùng của cháu đi lại dễ dàng.

Đại Hành tiếp:

– Khi tới Trường sa, đêm Hoài Văn vương dò thám nơi ở của Trần Tú Hoãn, nghe Hoãn với Lộng bàn nhau về việc Hốt Tất Liệt sai sứ gọi các nàng về để điều tra. Vương với vương phi hỏa tốc đuổi theo ba cô. Đuổi kịp thuyền của ba cô vừa vào cửa biển Hà bắc, đang hướng Đại đô. Đúng lúc đó thần với hai em Vũ Chính và Đào Minh được tin báo Hốt Tất Liệt muốn bắt thần với hai em. Nhưng thần là Tổng lĩnh Thị vệ nên y dùng toán Thị vệ của Phó tể tướng A Hợp Mã. Biết nguy, thần dùng Thị vệ thân tín, giả hộ tống gia thuộc chạy lên Vạn lý trường thành, sang Thảo nguyên trốn vào vùng đóng quân của Nãi man. Rồi ba anh em dùng ngựa của dân chạy ra biển. May thay gặp thuyền của Hoài Văn vương với ba nàng. Hoài Văn vương sai trương kỳ hiệu của Vũ Uy vương, vượt biển về Đại việt.

Thượng hoàng than:

– Không ngờ chú Ích Tắc với bọn phản thần lại làm hại Đại việt đến như vậy.

Công chúa Vương Chân Phương than:

– Không biết Hồng Nga ra sao? Liệu A Truật có che chở được cho chị ấy không?

Địa Lô trả lời:

– Vương phi Hồng Nga mới đem 4 con về thăm nhà hôm qua. Hiện đang ở Kinh bắc. Thần sẽ sai người báo tự sự cho vương phi, khuyên phi không nên về Nguyên.

Thượng hoàng than:

– Thế là công lao xây dựng trong 20 năm qua, bỗng chốc tan nát hết. Trong 7 Tô lịch thì Bạch Liên, Thanh Liên đã băng rồi. Tử Hoa, Liên Hoa băng trong cuộc chiến giữa A Lý Bất Ca với Hốt Tất Liệt. Hiện trong nước còn Hoàng Liên, Hồng Liên, Huyền Liên. Còn 5 tiên Đông hoa, thì Thúy Hồng đang cầm quân với Dã Tượng. Vương phi Thúy Nga đang ở Gia lâm, Thanh Nga đang cùng Ngột A Đa kháng chiến ở Kinh hồ. Thúy Trang đang làm Hoàng hậu Nãi Man. Hồng Nga mới về thăm quê đang ở Kinh bắc.

Hoài Văn vương tính:

– Trong 10 chị Ngọc thì chị Ngọc Minh, là vợ của Nhạc quan Lý Minh hiện đang ở Thăng long. Chị Lý Ngọc Đức làm phu nhân của tướng Ngự lâm quân Nãi man Trần Mạnh Quốc, chị Lê Ngọc Thiên là phu nhân của Tổng lĩnh Thị vệ Nãi Man Vũ Cao San.

Trùng Hưng hoàng đế hỏi:

– Như vậy mới có 3. Còn 7 tiên bây giờ ra sao?

– Tiên thứ 4 Ngọc Hạ là phu nhân Kim Đại Hòa. Tiên thứ 5 Ngọc Tiên là phu nhân của A Mít Lỗ Tề. Tiên thứ 6 Ngọc Trị là phu nhân của Đi Mi Trinh. Cả 3 đang là vạn phu trưởng của Nãi man. Tiên thứ 7 là Ngọc Kỳ tuẫn quốc, tiên thứ 8 là Ngọc Quốc, thứ 9 là Ngọc Trí, thứ 10 là Ngọc Cách mới thoát về, đang hiện diện tại đây.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Khâm Từ hoàng hậu hãy cùng bộ Lễ xét công lao tất cả 7 Tô lịch, 5 Đông hoa, 10 Tiên phong thưởng cho xứng đáng. Đây là những nữ anh hùng của triều Đông a nhà ta.

Nhà vua an ủi Đại Hành:

– Khanh vì nước mà bôn ba một thời gian dài ở hải ngoại. Bây giờ trẫm phong chức tước khanh như sau:

Trường yên công, Trấn viễn đại tướng quân, Lĩnh Tuyên vũ sứ Trường yên.

Khanh hãy về quê nghỉ, thần hôn định tỉnh với mẫu thân, hàn huyên với phu nhân. Tội cho phu nhân Cẩm Nhãn, thành hôn được 3 ngày phải thay chồng phụng dưỡng mẹ già. Uổng phí những ngày xanh hoa nở. Lễ bộ ban chiếu phong cho tước Côi sơn hồng đức, Chí hiếu quận chúa.

Đại Hành tâu:

– Trước khi Tuyên phi Bạch Liên băng, người gọi thần đến trao cho một cái tráp, trong chứa đầy vàng ngọc. Phi nói đó là những báu vật Hốt Tất Liệt ban cho phi. Hiện cha, mẹ, anh em phi không còn ai. Phi gửi thần mang về xung vào công khố Đại việt.

Nói rồi Đại Hành bưng cái tráp để trước mặt Thượng hoàng. Thượng hoàng mở ra, trong tráp nào vàng, nào ngọc, nào nữ trang sáng chói. Thượng hoàng than:

– Hỡi ơi! Đức của phi cao vòi vọi. Đức của Thanh Liên càng đáng trân trọng. Xứng đáng tôn là thánh. Bộ Lễ hãy ban chế tôn 2 vị là Thánh mẫu. Tôn Thanh Liên là: Linh anh, trấn quốc, huyền quân thánh mẫu. Tôn Bạch Liên tước: Bắc phương minh đức quảng hóa thánh mẫu.

Quốc công Tạ Quốc công đảm trách xây đền thờ bên bờ sông Tô lịch. (8)

Tạ Quốc Ninh tâu:

– Thần thấy bờ sông Tô lịch, chảy qua phường Diên hưng, gần chùa Cầu đông có thể xây đền này. Vả khu Diên hưng gần phường Đông hoa là nơi có 7 giáo phường dậy ca hát. Con em, tử đệ ca nhi có thể tới dâng hương, cúng bái tiện hơn.

Thượng hoàng chuẩn tấu.

Quốc Toản tâu:

– Thần đã sai sứ sang Hoa Thích Tử Mô báo cho phụ vương và vương mẫu biết chư sự, đề định liệu. Phụ vương sai cháu tâu với Thượng hoàng rằng, kỳ trước Thoát Hoan bị bại do nhiều yếu tố. Nhưng có hai yếu tố đáng kể. Một là Nguyên không có những tướng võ công cao, thành ra khi lâm trận các tướng, các thiên phu, vạn phu bị các tướng Việt võ công cao giết chết. Như trường hợp Lý Hằng, Lý Quán, Toa Đô. Hốt Tất Liệt ban chỉ cho tất cá các chư hầu như Cao ly, Tây tạng, Hồi cương, Hoa Thích Tử Mô, dĩ chí các nước Nga La Tư, Đức Lan Tây tuyển những võ sĩ thượng thặng đem theo trợ giúp quân. Nhất là ba tên Đô Mi Ni, Tôn Đạt, Chu Tiêu. Nghe nói võ công ba tên này cao hơn Ô Mã Nhi một bậc.

– Hốt Tất Liệt tuyển võ sĩ từ các nơi, ô hợp, hỗn tạp, ngôn ngữ bất đồng, rất khó chỉ huy. Ta không sợ. Trước đây Tuyên uy đại tướng quân đã báo cho ta biết vụ này rồi.

Quốc Toản tiếp:

– Phụ vương muốn đem tất cả các anh hùng đang ở ngoại quốc về trợ chiến.

– Vũ Uy vương muốn về nước chống giặc, như vậy thì thực là phúc đức cho xã tắc. Thế còn vấn đề thủy quân, người có ý kiến gì không?

– Người nói lý do thứ nhì khiến Thoát Hoan bại là Nguyên không có thủy quân. Cho nên lần sang báo thù này, Hốt Tất Liệt tuyển những bọn cướp biển xung quân. Lại dốc hết toàn bộ thủy quân, gồm 500 chiến thuyền mới, 120 chiến thuyền sẵn có. Tất cả đều là đại chu, chở được 500 thủy thủ tác chiến. Người nhắn với Thượng hoàng: “Về thủy chiến, trong thiên hạ không ai địch nổi Hưng Đạo vương. Người yên tâm.

(Còn tiếp – Hồi 108)

Share this post