Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 110 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 110 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM MƯỜI
Vạn kiếp hữu sơn giai kiếm khi
Đằng giang tự cổ huyết do hồng
(Tiếp theo)

Cuộc giao tranh giữa thủy quân Việt, Nguyên bắt đầu. Trong khi hai bên bờ bộ binh, Ngưu binh Việt mai phục xuất hiện tấn công, yểm trợ cho thủy quân. Trận tuyến kéo dài trên 30 dặm. Dọc sông, hai bên bờ, từ những con lạch, sông nhỏ, ngư thuyền chở Nghĩa dũng quân reo hò túa ra tấn công. Cứ một chiến thuyền Nguyên chìm, binh lính bơi lóp ngóp, thì quân Nghĩa dũng tung chài bắt như bắt cá.

Cuộc giao tranh kéo dài trên 2 giờ thì thủy quân Việt chèo thực mau, chạy về hạ lưu. Ô Mã Nhi thúc trống cho quân đuổi theo. Nhưng từ sáng đến giờ quân Nguyên chưa được ăn uống gì, sức không có, nên đuổi theo quân Việt không kịp.

Trời sang giờ Ngọ.

Nước sông bắt đầu rút, quân Nguyên thuận theo giòng nước đuổi theo quân Việt.

Sang giờ Mùi, nước càng rút mau. Quân Việt rút xuống cuối giòng. Ô Mã Nhi thúc chu sư đuổi thực gấp. Cả đoàn thuyền đi qua một vùng cỏ, bèo phủ gần hết sông. Y đâu biết rằng dưới lớp cỏ đó là trận địa cọc.

Thình lình một tiếng nổ xé không gian, rồi thủy quân Việt từ thượng lưu, trở lại xông tới đánh vào hậu quân Nguyên, như một bầy sư tử. Hai bên bờ sông, bộ binh, ngưu binh hàng hàng, lớp lớp tấn công. Ngư thuyền của Nghĩa dũng quân bơi như rươi đầy mặt nước.

Tế tác Nguyễn Chiến Thắng báo:

– Chúng ta bị vây bốn phía rồi.

Ô Mã Nhi hỏi:

– Phía trước là binh đoàn nào?

– Thưa bộ binh là hiệu Hàm tử cửa Hoài Văn vương Trần Quốc Toản, Thủy quân là hạm đội Âu cơ của đô đốc Trần Toàn.

– Thế phía sau?

– Hiệu Hữu thánh dực của Phạm Ngũ Lão; hiệu Thần cách, của Địa Lô. Hạm đội Thần phù của Phạm Cự Địa.

– Còn dọc theo sông?

– Do Hưng Đạo vương đích thân chỉ huy. Các tướng là Chiêu võ thượng tướng quân Cao Mang, Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân Nguyễn Khoái; Thiên tượng đại tướng quân Trần Quốc Kinh, Tuyên uy đại tướng quân Đại Hành, đô đốc Nguyễn Chế Nghĩa.

Bấy giờ đã cuối giờ Mùi, nước sông rút xuống thấp. Thình lình một loạt chiến thuyền Nguyên vấp phải cọc. Cái bị thủng, cái bị vỡ, cái bị lật nghiêng. Trong khi quân Nguyên kinh hoảng la hét, nhảy khỏi chiến thuyền thì Nghĩa dũng quân trên ngư thuyền tung chài, tung lưới bắt.

Nguyễn Chiến Thắng báo:

– Hậu quân bị đánh tan rồi. Hơn trăm chiến thuyền bị vướng cọc lật nghiêng, bị thủng đáy, hiệu binh Hữu thánh dực của Phạm Ngũ Lão; hiệu Thần cách, của Địa Lô. Hạm đội Thần phù của Phạm Cự Địa, với mấy nghìn ngư thuyền bắt sống, giết tuyệt binh tướng của ta. Tham tri chính sự Phàn Tiếp bị vợ Phạm Ngũ Lão là công chúa Thủy Tiên đả bại. Sợ bị bắt bị làm nhục, Phàn tham tri dùng kiếm tự tử. Thủy Tiên đánh Phàn rơi xuống sông, bị Nghĩa dũng quân tung chài bắt sống. Tướng giặc Địa Lô là thầy thuốc giỏi đã cứu Phàn tham tri thoát chết. Hạm đội Thần phù, các hiệu Hữu thánh dực Thần cách đang tiến lên đánh vào trung quân mình.

Ô Mã Nhi nhìn dọc sông, chiến thuyền cái thì nghiêng ngả, cái thì bị lật úp, cái thì bị chìm. Quân sĩ chiến đấu tuyệt vọng. Trong khi đó quân Việt, Nghĩa dũng binh reo hò ào ào như sóng biển. Y thở dài, nghĩ lại mình từng làm nguyên soái đánh Nhật bản, đánh Chiêm. Từng chỉ huy những đội kị binh mạnh nghiêng trời lệch đất. Mà bây giờ, một đoàn trên 520 chiến thuyền, 15 vạn binh, tan tác trên sông. Đội quân vô địch đang bị Nghĩa dũng binh, Ngưu binh toàn là bọn dân quê, bọn lão già, bọn đàn bà đâm chém, đuổi như đuổi vịt. Uất khí, y rùng mình.

Thấy tuyệt vọng, Ô Mã Nhi cùng 5 chiến thuyền chưa bị trúng cọc, hô quân chèo thực gấp bỏ chạy về phía bờ biển, mong thoát thân như lần trước. Nhưng phía trước 40 chiến thuyền Việt dàn ngang, chặn mất đường đi. Trên một soái hạm Việt, dưới ngọn cờ 6 chữ vàng: “Phá cường địch báo hoàng ân.

Có một viên tướng trẻ, cực kỳ uy vũ, mặt đẹp như ngọc đang cầm cờ chỉ huy, mà xung quanh không võ sĩ hộ vệ; chỉ có một thiếu nữ trang phục công chúa Tống, sắc nước hương trời đứng cạnh, với con vượn trắng tay cầm cây gậy sắt khổng lồ. Y hỏi tùy tùng:

– Tướng đó là ai vậy?

– Thưa, là Hoài Văn vương Trần Quốc Toản. Y là một trong 4 đại tướng vô địch của An nam. Y lại có tài dùng binh như thần. Thiếu nữ đứng cạnh y là công chúa Ngọc Hoa, di thần Tống. Nếu đô đốc muốn phá trận địa của Man Việt, chạy ra biển thì phải giết cho được tên Quốc Toản.

Ô Mã Nhi cầm tù và rúc lên, Nguyễn Chiến Thắng dẫn 20 Võ vệ từ chiến hạm của y phóng sang soái hạm Việt, cùng vung đao tấn công Quốc Toản. Lập tức Ngọc Hoa hú lên một tiếng thanh thoát, hơn 20 chiến sĩ Hàm tử xuất hiện, tay xử dụng kiếm. Đám Võ vệ với võ sĩ Hàm tử xung vào giao chiến.

Quốc Toản rút thanh kiếm Trấn bắc vung lên, đao của 3 võ vệ bị cụt tận chuôi, tiếp theo đầu chúng bay khỏi cổ. Ô Mã Nhi lại rúc tù và, hơn trăm Võ vệ Nguyên tràn sang bao vây Quốc Toản vào giữa. Vương quát lên một tiếng, xử dụng chiêu Mê linh khởi binh, choang, choang, choang, choang. Bốn thanh đao bị cụt tận chuôi. Bốn võ sĩ bị xả đứt làm hai khúc. Vương lại quay một vòng, 3 võ sĩ nữa bị bay đầu. Đám Võ vệ Nguyên kinh hồn nhảy về thuyền mình. Hoài Văn vương vọt mình đuổi theo. Các Võ vệ Nguyên vây vương vào giữa. Vương xử dụng Mê linh kiếm pháp, đi đến đâu, đầu người rơi đến đó. Trong không đầy nửa khắc, gần như trọn vẹn binh tướng trên sàn soái hạm của Ô Mã Nhi bị giết sạch. Người nào chưa chết thì nhảy xuống sông.

Hai chiến hạm lớn Nguyên kè vào mạn soái hạm của Ô Mã Nhi. Nguyễn Chiến Thắng chỉ huy Võ vệ vây Quốc Toản vào giữa.

Nghĩ thân phận mình là tướng vô địch của Đại nguyên mà dùng quân bao vậy một tướng trẻ của Man việt thì nhục quá. Ô Mã Nhi quát:

– Ngừng tay!

Bọn Võ vệ Nguyên nhảy lùi lại.

Ô Mã Nhi hất hàm hỏi Quốc Toản:

– Nam man con! Phải chăng mi là Trần Quốc Toản?

– Đúng vậy.

– Mi có biết ta là ai không?

Quốc Toản nghĩ:

– Dù sao mình cũng là vương, là chúa tướng. Mình phải giữ địa vị thanh cao. Không thể nói năng cộc cằn thô lỗ.

Vương cung tay:

– Kính chào đại đô đốc. Tôi biết ngài là tướng vô địch của Nguyên. Tôi biết ngài từng chiết chiêu với bản sư Thúy Hồng của tôi tại điện Quang minh, Yên kinh 25 năm trước. Ngài từng so kiếm với vương mẫu tôi tại trận Tứ xuyên 22 năm trước. Hôm nay tôi lớn gan, muốn ngài dạy cho mấy cao chiêu!

– Mày ỷ vào thanh kiếm Trấn bắc đã giết chết Toa Đô. Mày có dám đấu quyền, chưởng với tao thì tao mới phục.

Quốc Toản tra kiếm vào vỏ, rồi cung tay:

– Nếu Đô đốc thắng được tôi, thì tôi xin mở vòng vây, cung cấp lương, thuyền chở ngài ra biển về Thiên quốc.

Mười chiến hạm Việt bao vây vòng ngoài 5 chiến hạm Nguyên. Người chỉ huy bao vây là Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn. Đại Hành, Ngọc Hoa chỉ huy môt đoàn ngư thuyền của Nghĩa dũng quân bao vây kín cả một khúc sông.

Biết Quốc Toản gọi mình bằng từ tướng Thiên quốc rõ ràng là ngôn từ chế diễu. Không nhân nhượng, Ô Mã Nhi phát một chiêu với tất cả bình sinh công lực. Quốc Toản nhận ra đó là võ công Tây vực, rất thô kệch. Vương vận Vô ngã tướng Thiền công đỡ. Xèo một tiếng, chưởng của Ô Mã Nhi mất tăm mất tích. Là người kinh nghiệm chiến đấu, từng đánh hàng nghìn trận, y phát một chiêu chưởng Võ đang của Trung quốc, chân bước từ Càn vị sang Trấn vị. Quốc Toản cười nhạt, vương phát chiêu Kiến tích dã ngưu trong Tán lạc tiêu hồn chưởng đỡ. Bùng một tiếng, cả hai cùng bật lui lại. Binh tướng hai bên reo hò.

Quốc Toản nhìn xung quanh: Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn chỉ huy thủy quân, Nghĩa dũng quân bao vây 5 chiến thuyền Nguyên vào giữa. Cuộc chiến đã kết thúc: tất cả quân Nguyên trên 5 chiến hạm đều bị bắt, trong đó có Tích Lệ Cơ vương và toàn thể bộ tham mưu. Chỉ còn duy nhất tên Nguyễn Chiến Thắng cùng 20 Võ vệ đang đứng cầm đao lược trận.

Ô Mã Nhi quát lên:

– Thì ra người là Hoài Văn vương Trần Quốc Toản. Người đã hứa đơn đấu với ta, sao còn dùng số đông bao vây?

Một phụ nữ từ dưới ngư thuyền tung người lên, nói bằng giọng uy nghiêm:

– Bao vây bọn mi là ta chứ không phải Hoài Văn vương!

Nguyễn Chiến Thắng thấy nữ tướng thì hét lên:

– Mi là công chúa Thủy Tiên, đã dùng tà thuật hại con ta là Nguyễn Linh Nhan. Ta phải báo thù.

Nói rồi y phát chiêu kiếm tấn công. Công chúa Thủy Tiên rút kiếm, không đỡ mà đưa vào cổ y. Công chúa xuất chiêu sau, mà lại tới trước. Thắng kinh hoàng nhảy lùi ba bước tránh kiếm. Nhưng chân y vừa đặt xuống sàn chiến hạm thì cảm thấy cổ đau nhói.

– Buông kiếm đầu hàng, bằng không ta nhả kình lực.

– Mi dùng tà thuật, chứ không phải võ công chân chính. Ta không phục.

Thình lình y vọt người lên cao. Ở trên không, y đá gió một cái, người y bay ra xa, rơi xuống sàn thuyền, thì y cảm thấy ngộp thở, một cây gậy thép khổng lồ đang dáng xuống đầu y. Y vung kiếm gạt. Choang. Thanh kiếm của y bị cong lại như con rắn cuộn khúc. Hổ khẩu bị toạc, máu chảy đầm đìa. Y nhảy lùi lai, cướp được thanh đao của một Võ vệ. Bấy giờ y mới biết người đánh y là Bạch Viên. Y nghiến răng xả đao tấn công Bạch Viên. Nhưng chỉ được 5 hiệp, đao lại văng mất. Bạch Viên phóng một chiêu, y rơi tòm xuống sông. Y định lặn dưới sông trốn, thì một cái chài chụp lên người y. Rồi hai cái, ba cái. Người tung chài bắt y chính là một nữ đội trưởng Nghĩa dũng quân, tên Tú Hạnh. Tú Hạnh đã trông thấy Thắng chỉ huy Võ vệ, biết võ công y cao, nàng không kéo y lên vội. Nàng để y trong chài, rồi ra hiệu cho ngư thuyền chèo vòng vèo. Đợi cho y uống nước đầy bụng, nàng mới kéo y lên trên ngư thuyền, trói lại đem nộp cho Yết Kiêu. Yết Kiêu sai Ngạc binh dốc ngược nguời y xuống cho nước ra khỏi bụng. Vừa tỉnh dậy, thấy Yết Kiêu, y chửi:

– Uổng cho mi là Đông hải thiên kình đại tướng quân, mà dùng chài bắt ta. Ta không phục.

Tú Hạnh mắng:

– Dùng chài bắt mi là ta, chứ không phải quân hầu.

Vốn là loại đầu trộm đuôi cướp đã 5 đời, thừa thói lưu manh dân dã, Thắng chửi:

– Tiếc thay, một đời ta tung hoành bao năm, mà lại bị một con đàn bà Nam man bắt.

Tú Hạnh chửi:

– Mi là người Hán, đã muối mặt theo Thát đát là bọn mọi rợ, bị ta bắt, còn than nỗi gì? Hỡi tên ma đầu!

Chợt để ý thấy Tú Hạnh tươi như hoa lan mới nở, y nghĩ thầm:

– Phải chi mình không bị cầm tù, đợi con nhỏ này hành kinh, bắt giam, chui đầu vào váy thị hút kinh huyết luyện công thì tốt biết mấy?

Tú Hạnh định mắng y, thì một nữ Nghĩa dũng xinh đẹp khác tên Hà Thìn vào khoang thuyền lấy ra hai cái váy cũ nhúng xuống sông cho ướt. Mỉm cười tươi như hoa, nàng nói:

– Mi khuất phục hay không, bà không cần biết. Điều bà muốn là mi câm mõm lại, bằng không bà chụp váy lên đầu mi.

– Mi là con Nam man thối tha…

Thìn chụp cái váy lên đầu y. Y né đầu tránh, nhưng vì huyệt bị điểm, chân tay tê liệt. Bị váy chụp lên đầu, nhưng y tự an ủi:

– Chắc là váy của con nhỏ Tú Hạnh đây. Nó xinh đẹp thế kia mà được hít hơi váy nó, thì cũng sướng cái đời. Ta chửi bới để thị chụp thêm cái váy nữa.

– Con Nam man…

Lại cái váy thứ hai chụp lên đầu y. Váy ướt hôi hám làm y muốn nghẹt thở. Tuy vậy, nghĩ là váy Tú Hạnh, y cảm thấy sung sướng vô cùng.

Phò mã Phạm Ngũ Lão tới. Thấy một tù binh bị chụp váy, phò mã liếc mắt nhìn Tú Hạnh, Hà Thìn, hai nữ Nghĩa dũng đang cười tươi như hoa; thì biết đây là tác phẩm của hai cô Nghĩa dũng trẻ. Phò mã dùng thanh kiếm Bình nam khều hai cái váy trên đầu Chiến Thắng ra. Nhận diện được y, người điểm mặt:

– Thì ra tên đại ma đầu.

Chiến Thắng hét:

– Tên họ Phạm kia! Mi đã giết con ta. Tiếc rằng ta bị trói, bằng không ta quyết đấu với mi nghìn chiêu.

Phò mã nói:

– Đây là tên ma đầu. Bọn ma đầu phải dùng linh kiếm mới giết được nó.

Chiến Thắng năn nỉ với Tú Hạnh, Hà Thìn:

– Chắc chắn tôi sẽ bị tên Phạm Ngũ Lão giết. Khi tôi bị giết, xin hai cô nương ban cho đặc ân là dùng hai cái váy bọc đầu, rồi đem chôn. Tôi sẽ phù hộ cho hai cô nương đánh được nhiều cá trên sông Bạch đằng.

Phò mã sai giải y xuống bờ sông, rồi đưa một nhát kiếm, đầu y rơi xuống. Do lòng nhân đạo, hai Nghĩa dũng dùng hai cái váy cũ trùm lên đầu y, đem chôn bên bên sông Bạch đằng. Chính vì vậy sau này hồn ma y với con trai phân thân làm nhiều ma, chui đầu vào váy, quần đàn bà khi phơi, rồi làm ma, gây ra nạn hữu sinh vô dưỡng (4). Ngư dân trên sông Bạch đằng khi khởi hành đánh cá thường cúng vái y, thì bắt được nhiều cá.

Yết Kiêu tung mình lên soái hạm. Quốc Toản với Ô Mã Nhi đang đấu đến hồi quyết liệt. Cạnh đó công chúa Thủy Tiên, Ngọc Hoa, Vương Chân Phương và một số tướng Việt đang lược trận. Cả Ô Mã Nhi lẫn Quốc Toản đều phát hết công lực, cứ mỗi lần hai chiêu chạm nhau lại phát ra tiếng bộp lớn. Hai người đã lui tới thành chiến hạm. Thình lình Ô Mã Nhi xỉa hai tay vào ngực Quốc Toản, định đánh bay hầu xuống sông. Quốc Toản dùng một chiêu trong Thuần chính thập nhị thủ của công chúa Thủy Tiên. Vương chụp lấy hai cùi chỏ y, rồi uốn cong người lên không, hai chân thúc vào huyệt Á môn, Phong phủ, Phế du, Tâm du của y. Y bay tung xuống sông. Còn vương thì đáp xuống sàn chiến hạm. Bọn Võ vệ Nguyên quẳng đao đầu hàng. (10)

Ô Mã Nhi rơi xuống sông. Vì trên người y mang giáp trụ, nên y chỉ bơi lóp ngóp vài cái rồi chìm nghỉm. Đội nữ Nghĩa dũng dùng chài, lưới chụp y, kéo lên ngư thuyền. Nội minh tự Đỗ Hành, tổng chỉ huy Nghĩa dũng, điểm huyệt, gỡ y ra khỏi chài, trói lại, nộp cho Thượng hoàng.

Khâm Từ hoàng hậu hỏi y:

– Đô đốc, đệ nhất dũng sĩ Mông cổ. Cách đây mấy tháng, Đô đốc đe dọa Thượng hoàng: “Mày chạy lên trời, tao theo lên trời. Mày chạy xuống đất, tao theo xuống đất. Mày trèo lên núi, theo theo lên núi. Mày lặn xuống nước, tao theo xuống nước”. Nên bây giờ Đô đốc theo người đến đây. Phải không?

Bấy giờ đã sang giờ Thân, nước sông Bạch đằng rút xuống thấp. Trên một giải dài 50 dặm, gần 5 trăm chiến thuyền Nguyên mắc cạn, vướng cọc, bị vỡ, bị nghiêng, bị lật. Xác chết nằm nghẹt lòng sông, nằm trên chiến thuyền, nằm trên bờ. Nước sông Hồng vốn đã hồng, bây giờ thêm máu của gần 15 vạn quân Nguyên, nên càng đỏ hơn.

Thượng hoàng, hoàng đế, Hưng Đạo vương cỡi voi đi quan sát chiến trường dọc bờ sông. Tướng sĩ Việt cùng hô:

– Vạn tuế! Vạn tuế!

Công chúa Vương Chân Phương, phu nhân của Thiên kình đại tướng quân Yết Kiêu; và Ngọc Hoa, vương phi Hoài Văn vương đến trước voi, tâu:

– Muôn tâu bệ hạ, dã tâm đem quân sang đánh Đại việt là Hốt Tất Liệt. Hung dữ, chém giết, hãm hiếp là bọn Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp. Trong 15 vạn quân dự trận Bạch đằng chỉ có 5 vạn là bọn Thát đát. Còn lại là những tinh hoa của tộc Hán, bị đem sang đây, đưa vào chỗ chết. Thần lớn gan xin bệ hạ ban chỉ cho chôn cất tử thi những người chết oan này.

Hoàng đế ban chỉ:

– Dù không có lời xin của nhị vị công chúa, trẫm cũng cho chôn cất tử tế.

Hưng Đạo vương ban chỉ cho Nội minh tự Đỗ Hành, Yết Kiêu, Địa Lô:

– Ba người phụ trách đem vợ con tướng sĩ trên các chiến thuyền Nguyên, nuôi ăn tử tế. Tài sản của chúng mang theo vẫn để cho chúng giữ. Nghĩa dũng binh thu góp các chiến thuyền lại. Những chiếc còn sửa chữa được thì sửa chữa lại mà dùng. Những chiến thuyến không sửa được thì phá hủy. Vũ khí trao cho Vũ Minh vương.

Trận Bạch đằng diễn ra ngày 8 tháng 3 năm Mậu tý (9-4-1288) nhằm niên hiệu Trùng Hưng thứ 4 đời vua Trần Nhân tông bên Đại việt. Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 25 đời Thế tổ Hốt Tất Liệt. Khời đầu từ giờ Mão (5 giờ sáng), chấm dứt giờ Thân (17 giờ). Trọn vẹn thủy sư Nguyên gồm 510 chiến thuyền, 15 vạn vừa thủy vừa bộ binh Nguyên bị bắt, bị giết, viết lên trang sử lừng lẫy của dân tộc Việt nam.

Nếu sưu tầm hết thơ, phú, nhạc ca tụng trận Bạch đằng, e phải một cuốn sách lớn. Dưới đây tôi xin chép một bài thơ của vua Trần Nhân tông, một bài của vua Lê Thánh tông, một bài của vua Tự đức.

Bài của vua Trần Nhân tông:

Vân vân kiếm kích bích toàn ngoan,
Hải thận thôn trào quyến tuyết lan.
Xuyết địa hoa điền xuân vũ lệ,
Hám thiên túng lãi vãn phong bàn.
Sơn hà kim cổ song khai nhãn.
Hồ- Việt doan châu nhất ỷ lan.
Giang thủy đình hàm, tân nhật ảnh,
Thái nghi chiến huyết vị tăng can.

Dịch (Đông Châu):

Kiếm trỏ ngang mây núi tuyệt vời,
Ngọn trào trắng xóa quyện doành khơi.
Mưa xuân rêu điểm hoa từng đóa,
Gió tốt, thông reo sóng lửng trời.
Non nước xoay vần kim cổ chống,
Việt-Hồ ngẫm cuộc được thua chơi.
Chiến trường mấy cuộc trên sông đó,
Đỏ hửng vừng hồng giọt máu tươi.

Bài của vua Lê Thánh tông:

Leo lẻo dòng sông nước tựa đầu,
Trăm ngòi, nghìn lạch chảy về chầu.
Rửa không thấy thấy thằng Ngô chạy,
Giặt mỏi không không khách Việt hầu.
Nọ đỉnh Thái sơn rành rạch đó,
Nào hồn Ô Mã lạc loài đâu?
Bốn phương phẳng lặng kình như thóc,
Thong thả dù ta bửa lưỡi câu.

Bài của vua Tự Đức:

Bạch đằng giang thượng ba lưu cấp,
Bạch đằng giang tâm xoang đặc lập.
Kỳ binh thúc tẩu, hựu thúc lai,
Bách vạn Hán quân ngư phúc nhập,
Công Tiện quốc, Hoàng Tháo cầm.
Quỷ mưu điệu vận do nhất tâm,
Bạch đằng giang thủy vị vô thâm.

Dịch (Đông Châu):

Trên mặt sông Đằng sóng trôi gấp,
Dưới lòng sông Đằng chông cắm ngập.
Kỳ binh nấp đâu chợt xông ra.
Quân Hán trăm vạn chạy không kịp.
Chém Công Tiện, bắt Hoàng Tháo.
Bởi lòng sâu sắc kém chí cao,
Sông kia sâu mấy, chửa là bao?

* GHI CHÚ CỦA THUẬT GIẢ:
(1) Nguyên Sử, q.129, A Bát Xích truyện.
(2) Nguyên Sử, q1.66, Phàn Tiếp truyện chép: Người Giao đều dấu thóc gạo rồi trốn đi.
(3) Vệ úy tương đương với ngày nay là đại úy. Tá lĩnh tương đương với ngày nay là thiếu tá.
(4) Huyền sử kể, Nguyễn Linh Nhan học được thuật phù thủy. Khi bị bắt, cứ chém đầu này, đầu kia lại mọc. Chỉ có thanh linh kiếm Trấn bắc, Bình Nam chặt được đầu y. Vì lời mắng của phò mã Phạm Ngũ Lão, sau khi chết, hồn ma của Nguyễn Linh Nhan, với cha y là Nguyễn Chiến Thắng luôn hiện về chui vào váy quần đàn bà uống kinh huyết. Gọi là ma phạm tội tên Nhan, lâu ngày bình dân gọi là ma Phạm Nhan. Người đàn bà nào bị ma Phạm Nhan uống kinh huyết thì khi đẻ con sẽ bị yểu tử, gây ra tình trạng hữu sinh vô dưỡng. Người bị quá hai lần hữu sinh vô dưỡng thường phải lên đền Kiếp bạc xin đức thánh Trần bắt tà. Cái văn hóa tín ngưỡng này cho đến năm 1954 vẫn còn. Cho đến nay chưa hoàn toàn hết. Phụ nữ Việt ở miền Bắc, và Lào khi phơi quần, mà quên cất đi trước lúc mặt trời lặn, thì phải cầm ống quần dũ mạnh, để con ma Phạm Nhan chui trong quần rơi xuống.
(5) Nguyên Sử, q.129 A Bát Xích truyện. An Nam Chí Lược, q.4.
(6) Nguyên Sử, q.154, bản kỷ, q.209 An Nam truyện. q.166 Phàn Tiếp truyện.
(7) Tháp Xuất, Nguyên Sử phiên âm từ tiếng Mông cổ Tacu, đọc là Ta Tru.
(8) Hiện nay hang Dấu Gỗ vẫn còn nằm trong vịnh Hạ long. Bất cứ một nhà đò chở du khách nào cũng biết hang Dấu gỗ. Độc giả muốn thăm di tích lịch sử này, cứ đến bến đò tại Hạ long, bảo nhà đò chở ra hang Dấu Gỗ. Hang không cao, không sâu, nên trẻ con, người lớn đều có thể vào xem. Nhiều hướng dẫn viên đánh dấu hang Dấu Gỗ thành hang Đầu Gỗ, vừa vô nghĩa, vừa vô lý.
(9) Đây là sự kiện lịch sử. Sau khi phá giặc ở sông Bạch đằng, Hưng Đạo vương sai người tìm bà bán bánh, khoai, bún riêu để ban thưởng. Nhưng tìm không thấy. Người ta huyền thoại hóa đi rằng bà lão đó là bà Lê Chân, nữ tướng thời vua Trưng đã hiện ra mách cho Hưng Đạo vương, vì đền thờ bà không xa sông Bạch đằng. Sau dân chúng lập đền thờ bà, vì không biết tên bà, nhân bà hiến kế chằng dây với nhau, gọi là bà Chằng. Đền thờ bà Chằng nay vẫn còn, là một di tích lịch sử được bảo quản. Nếu độc già GTHT nào đọc những giòng này, muốn thăm viếng di tích thì đến Hài phòng, đi phà Bính, qua bên kia khoảng 500 m có tấm bảng với mũi tên: Di tích lịch sử 200m. Vào sâu 200 m có ngôi đền. Đó là đền thờ bà Chằng.
(10) Thuần chính thập nhị thủ, xin xem hồi thứ 103. Đây là chiêu thứ 3, trong thủ thứ 8, mang tên Sinh Cầm Ô Mã. Xin dịch như sau: Đối thủ dùng cường lực xử dụng thủ pháp Lục-hợp (hai tay chém ngang) vào người ta.
Tháng ba năm Mậu tí (1288), Trần Quốc Toản được gọi về tham dự trận Bạch-đằng để bắt Ô Mã Nhi. Trong trận này vương giết bảy đại tướng Mông-cổ, bắt sống 7 đại tướng. Cuối cùng vương giao đấu với đệ nhất danh tướng Mông-cổ là Ô Mã Nhi. Sử chép Ô Mã Nhi to lớn kềnh càng. Trần Quốc Toản nhỏ bé, nên phải lấy mau thắng chậm. Nhưng giao đấu với địch nửa ngày trên thuyền. Vuơng lùi mãi, cuối cùng vương lùi tới mạn thuyền Ô Mã Nhi dùng Lục-hợp đao xỉa vào ngực vương, với hy vọng giết chết, hoặc đánh bay vương rớt xuống sông. Chiêu này như sau:
GIẢI THOÁT (1)
Lao người vào đối thủ. Hai tay biến thành chảo, chụp lên cườm tay đối thủ.
Mượn đà đánh của đối thủ, nương theo sức của đối thủ, chống hai tay, uốn cong người bay qua đầu đối thủ, lúc rơi xuống dùng hai gót chân điểm vào huyệt Á môn, Mệnh môn, Phong phủ đối thủ. Đối thủ ngất xỉu.
Chiêu này cực kỳ khó xử dụng, chiêu số, tốc độ, phương pháp phát lực chép trong Lĩnh nam bảo quốc thập bát lộ, một pho quyền cước siêu đẳng nhất của võ Việt.
* Phương pháp thứ nhì:
Sau khi thắng trận Bạch-đằng, Trần Quốc Toản diễn lại chiêu thức trên cho các danh tướng xem. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư cũng đưa ra một chiêu thức phản công dựa vào một chiêu của Thiết kình phi cước như sau:
GIẢI THOÁT (2)
Lao đầu vào hai bàn tay đối thủ. Hai tay từ dưới chụp vào cườm tay đối thủ: Hai ngón cái ra ngoài, các ngón vào trong. Mượn sức đối thủ, giật mạnh hai tay đối thủ, cong người lên, hai chân biến thành Thiết kình, hai gót chân điểm vào Thái dương huyệt đối thủ.
* Nhận xét:
Đây là những chiêu thức tuyệt cao của võ Việt, không nên khinh xuất xử dụng, dễ lâm vào tuyệt địa. Đối thủ cực mạnh mà ta không lui, còn phóng sát vào đối thủ, tức là tìm cái sống trong cái chết. Xê xích một chút là vong mạng. Đối thủ rất dũng mãnh mà hai tay chụp vào tay đối thủ. Nếu chụp hụt cũng tử ngay. Uốn cong lên một vòng, nếu chậm một chút, đối thủ hồi sức vật xuống đất nát đầu. Bình thường tìm các huyệt này còn khó. Nay bay lên, uốn cong lên dùng chân điểm trúng ngay huyệt càng khó thêm.
GIẢI THOÁT (3)
Thủy Tiên công chúa cũng đề nghị một phương pháp hóa giải bằng thế nhu như sau:
Chờ tay đối thủ gần tới, trầm người xuống. Chân phải tiến lên một bước đặt sau chân trái đối thủ. Người quay về trái 90 độ. Cùi chỏ phải điểm huyệt Cửu vỹ, Thần đường, Đản trung của đối thủ, gạt đối thủ ngã. Tay trái chụp chân đối thủ nhắc lên, đùi phải nâng đối thủ lên cao, dùng lực vật đối thủ xuống đất.
PHẢN CÔNG (3)
Hai chân phóng cước lên các yếu lộ trên người đối thủ.

(Hết Hồi 110)

Share this post