Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 110 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 110 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MỘT TRĂM MƯỜI
Vạn kiếp hữu sơn giai kiếm khi
Đằng giang tự cổ huyết do hồng
(Tiếp theo)

Sau trận giải phóng Thăng long, hai vua triệu tập một buổi hội quân trong hoàng thành.

Để giữ an ninh, thượng hoàng chỉ định Điện tiền chỉ huy sứ Phạm Ngũ Lão và tổng lĩnh đội nữ Thị vệ, công chúa Thủy Tiên, canh phòng điện Giảng võ.

Từ hồi Vũ Uy vương lên đường lĩnh chức Hành sơn vương, đến nay hơn 20 năm vương mới gặp lại Thượng hoàng, Chiêu Minh vương, Chiêu Văn vương, Chiêu Hòa vương. Anh em không còn giữ lễ nghi nữa, cùng ôm lấy nhau, nước mắt đầm đìa, hàn huyên nửa buổi.

Buổi hội vừa khai, Thượng hoàng ngợi khen Hoài Văn vương:

– Cháu thực xứng đáng là con của anh chị Vũ Uy.

Hoài Văn vương tâu:

– Sở dĩ thần thành công là nhờ công chúa Ngọc Trí, Ngọc Cách với 4 vệ úy Huệ, Mai, Lan, Cúc. Thần hứa sau trận đánh sẽ tâu lên hoàng thượng thăng chức cho 4 chị ấy. Hiện 4 chị ấy ở ngoài, xin hoàng thượng cho 4 chị được bái kiến.

– Mời vào!

4 vệ úy hành lễ quân cách. Chiêu Minh vương ban chỉ:

– Quốc Toản à! Cháu là Tổng trấn Thăng long, cháu có quyền thăng cấp cho thuộc hạ tới Đô thống. Sao cháu không ban chỉ, mà phải tâu lên hoàng thượng?

Khâm Từ hoàng hậu mỉm cười:

– Chú Chiêu Minh không hiểu ý của Quốc Toản rồi. Quốc Toản muốn triều đình ban tước cho 4 vệ úy, nên mới tâu lên bệ hạ.

Trùng Hưng hoàng đế tỉnh ngộ, ngài phán:

– Bộ Lễ ban chỉ cho vệ úy Mai tước Thụy hương quận chúa, vệ úy Huệ tước Thụy khuê quận chúa. Vệ úy Lan tước Ngọc thụy quân chúa. Vệ úy Cúc tước Nghi tàm quận chúa. Lại ban cho phụ thân tước ngũ phẩm, mẫu thân tước ngũ phẩm phu nhân. Binh bộ ban lệnh thăng 4 vệ úy lên cấp tá lĩnh. (3)

Thượng hoàng khen Địa Lô:

– Trung lang tướng thiết kế cho xã Thụy khuê nuôi ăn, đối xử tử tế với bách phu Võ vệ, lại cho chúng làm quen với Nghĩa dũng quân, có tác dụng tâm chiến rất mạnh. Thoát Hoan thấy tận mắt, nghe tận tai đội Nghĩa dũng quân nam, phụ, lão, ấu của Thụy khuê, ắt y nản lòng không ít.

Một lần nữa Địa Lô được Thượng hoàng khen, người anh hùng tài hoa sướng không bút nào tả xiết.

Đại Hành tâu:

– Hiện quân Nguyên co cụm lại từ Kinh bắc tới Vạn kiếp. Từ Vạn kiếp tới Nội bàng. Qua trận rút lui khỏi Thăng long, lương tuyệt, quân sĩ bị mất tinh thần. Bây giờ là lúc ta nên thả tù binh Vân đồn, tù binh trận đánh Đô Mi Ni, gia đình tướng sĩ bị bắt ở sông Đuống. Như vậy tướng sĩ giặc kinh tâm động phách, ắt chúng khuyên Thoát Hoan rút chạy.

Cao Mang đặt vấn đề:

– Lần trước anh chị Dã Tượng bắt được vợ con tướng sĩ giặc, triều đình mở lượng tha cho về. Bây giờ toàn bộ vợ con chúng đến hơn vạn người. Ta phải dùng vợ con chúng làm áp lực, có đâu trả về dễ dàng như vậy?

Đại Hành xua tay:

– Nên trả, trả hết. Giữ làm gì? Giữ, mình phải nuôi báo cô vô ích. Bây giờ bọn chúng thiếu ăn. Ta nên thả vợ con chúng về, để chúng phải chịu gánh nặng là nuôi hơn vạn miệng ăn. Rồi mai này chúng thua chạy, vướng vít vợ con ta phá dễ hơn.

Trùng Hưng hoàng đế khen:

– Trường yên công ở Nguyên lâu, nên có kiến giải sắc bén. Vậy thả tù tại Kinh bắc là Địa Lô. Thả tù tại Như nguyệt là Cao Mang. Thả tù tại Gia lâm là Đại Hành. Thả tù tại Vạn kiếp phi Hưng Ninh vương, không ai đương nổi.

Thình lình Hưng Ninh vương lên tiếng:

– Chúng ta đang nghị kế phá giặc. Người là ai mà lại đến chỗ tôn nghiêm tối cao này nghe trộm?

Nói rồi vương cầm chung trà trên tay ném lên nóc điện. Chung trà chọc thủng mái điện xuyên ra ngoài. Mọi người cùng vọt ra sân. Ngoài sân phò mã Phạm Ngũ Lão đang chiết chiêu với một người trùm đầu, trong y phục thị vệ. Bạch Viên đang vác côn đập một tên khác xử dụng đoản đao. Choảng một tiếng, thanh đao của y cong lại như con rắn cuộn khúc. Tên này quẳng đao, vọt mình chạy. Bạch Viên đuổi theo. Phạm Ngũ Lão dùng võ công Tản viên, thuộc dương cương, đường đường chính chính. Còn người trùm đầu dùng võ công khi thì Đông a, khi thì Mê linh.

Đại Hành hỏi Quốc Toản:

– Em đã luyện Lĩnh Nam vũ kinh. Em nhận xét thế nào về trận đấu này?

– Về công lực thì hai bên ngang nhau. Còn về chiêu số thì tên trùm đầu thay đổi không ngừng. Khó biết lắm.

Thình lình người trùm đầu lùi lại, rồi phát ra một chiêu thô kệch. Phạm Ngũ Lão đỡ! Binh một tiếng, cả hai lảo đảo lùi lại. Mùi hôi tanh bốc ra cực kỳ khó chịu. Nghĩ ra một việc, Hoài Văn vương đến bên công chúa Thủy Tiên:

– Tên này dùng Huyền âm độc chưởng. Anh Ngũ Lão nguy đến nơi rồi. Vậy chị dùng Phản Huyền âm độc chưởng của tổ Tự An chế ra để đẩy độc tố trở lại người y.

Vương úp bàn tay lên bàn tay Thủy Tiên, rồi vận khí nhả vào tay công chúa một ít độc tố.

Phạm Ngũ Lão đã đấu với người trùm đầu tới chiêu thứ mười, thì y nhảy lùi lại cười khành khạch:

– Tên đầu bạc non! Mi lĩnh của ta 10 chiêu Huyền âm độc chưởng rồi. Mau quỳ gối bái lậy ta làm sư phụ. Ta sẽ cho thuốc giải.

Phạm Ngũ Lão thấy người lạnh buốt, rồi như có con dao đâm vào ngực. Phò mã hét lên vì đau đớn rồi lùi lại sau. Tên trùm đầu cười nhạt:

– Dòng họ Đông a dùng võ lập nghiệp, mà dùng số đông vây ta ư? Nếu có ai đỡ của ta được 10 chiêu, ta sẽ chịu trói. Còn như không ai đỡ được thì phải để ta đi.

Công chúa Thủy Tiên cười nhạt:

– Ta muốn lĩnh cao chiêu Huyền âm của các hạ.

Công chúa phát chiêu Phong ba hợp bích hướng gã bịt mặt. Gã cười ha hả:

– Được! Ta cho vợ chồng mi chết cùng một ngày.

Y vận công đỡ. Binh một tiếng, cả hai bật lui lại sau. Mùi hôi tanh bốc ra nồng nặc.

Quốc Toản thấy Phạm Ngũ Lão đau đến toát mồ hôi ra. Vương nói sẽ:

– Anh ngồi xuống, em hút độc tố cho anh.

Vương để tay lên huyệt bách hội của phò mã rồi vận công hút. Khoảng 20 tiếng đập tim, bao nhiêu cái đau đớn biến mất. Phò mã hỏi Quốc Toản:

– Em học được Huyền âm độc chưởng ở đâu vậy?

– Em luyện từ Lĩnh Nam vũ kinh.

Trận đấu giữa người trùm đầu với Thủy Tiên đã đến hồi quyết liệt. Thình lình Thủy Tiên đánh ra chiêu Phong ba hợp bích. Người trùm đầu xòe tay ra đỡ. Bạch một tiếng. Cuộc đấu trở thành cuộc đấu nội lực.

Trùng Hưng hoàng đế nói với Hưng Ninh vương:

– Sư phụ! Xin sư phụ can thiệp, bằng không Thủy Tiên không chịu nổi Huyền âm độc tố.

Hưng Ninh vương nói nhỏ:

– Huyền âm không hại được Thủy Tiên đâu.

Người trùm đầu cười ha hả:

– Thủy Tiên! Người lĩnh của ta 30 chiêu Huyền âm chưởng. Mi sắp chết rồi. Ta không đấu với cái thây ma nữa.

Nói rồi y tung mình lại sau. Thình lình y cảm thấy người lạnh toát, rồi khắp người đau đớn cùng cực. Y hét lên be be, nhảy chồm chồm như con ếch. Y quát lên:

– Thực xấu hổ! Mi là con gái của Hưng Đạo vương, là đệ tử của Tuệ Trung bồ tát mà lại dùng Huyền âm chưởng đánh ta.

Công chúa Thủy Tiên nhỏ nhẹ:

– Các hạ dùng Huyền âm chưởng đánh tôi. Tôi chỉ trả lại các hạ những gì các hạ phát ra mà thôi.

Người trùm đầu hét lên:

– Ta ngu quá! Ngu quá! Đáng lẽ khi thấy mi xử dụng võ công Đông a, ta phải biết Đông a có pho Phản chu sa độc mới phải.

Nói rồi y lắc lư như người say rượu. Công chúa Thủy Tiên điểm huyệt y. Nữ thị vệ trói y lại. Phò mã Phạm Ngũ Lão mở khăn trùm đầu y ra. Quận chúa tá lĩnh Mai kêu lên:

– Thì ra mi là Nguyễn Linh Nhan (Bá Linh), thuộc Tế tác Nguyên, chỉ huy đoàn Võ vệ cạnh Thoát Hoan.

Địa Lô chỉ mặt y nói:

– Tên này trước đây có tên Nguyễn Linh Nhan. Y mới đổi tên là Nguyễn Bá Linh, mẹ là người Việt tên Minh Nguyệt, cha là người Hán tên Nguyễn Chiến Thắng. Thắng là chưởng môn phái Trường bạch. Cha con chúng luyện công dẫn khí sai kinh mạch bị chứng âm hư, nội nhiệt, phải hấp kinh huyết của phụ nữ để khỏi bị trúng phong bán thân bất toại. Hai vợ chồng y với Nguyễn Linh Nhan thường đột nhập Hoàng thành nhà Nguyên, bắt cung nữ hấp kinh huyết luyện công. Bị bắt. Cả ba xin sang Đại việt đới tội lập công. Hốt Tất Liệt cử sang làm việc tại Tuyên phủ ty. Trước đây cả vợ chồng y, với Nguyễn Linh Nhan bị Trần Quốc Toản, Trần Quốc Kiện bắt. Nhưng vì là người Tuyên phủ ty, nên triều đình phải thả ra. Bây giờ y thám thính bị bắt. Quân hàm của y là thiên hộ. Cha y là Nguyễn Chiến Thắng mới được phong chức vạn hộ. Cả hai cha con được bố trí vào Khu mật viện đạo binh Thoát Hoan, kiêm chỉ huy đội Thị vệ.

Hưng Đạo vương tới. Thấy Hưng Đạo vương, Nguyễn Linh Nhan biết khó thoát cái chết. Y hướng vương:

– Vương gia! Tôi biết tội không dám xin ân xá. Chỉ mong vương ban cho một đặc ân.

– Đặc ân gì?

– Xin được ăn một bữa thịt chó.

Phò mã Phạm Ngũ Lão ghé miệng vào tai y mắng:

– Cho mày ăn máu dơ của đàn bà.

Tưởng câu mắng đó sẽ làm y buồn. Không ngờ mặt y tươi tỉnh:

– Đa tạ phò mã.

Phò mã sai điệu y ra bờ sông, dùng thanh kiếm Bình nam đưa một nhát đứt đầu, rồi ném xác y xuống sông. (4)

Hôm sau, 4 sứ thần Hưng Ninh vương, Địa Lô, Cao Mang, Đại Hành đem tù binh đến những khu đóng quân của Nguyên, trao cho các chúa tướng. Riêng sứ đoàn Hưng Ninh vương thì tới Vạn kiếp, với 10 thuyền chở vợ con các tướng.

Nghe thân binh báo có Hưng Ninh vương, anh ruột Hưng Đạo vương xin cầu kiến. Thoát Hoan thân ra cửa trại đón. Y thấy vương mặc quần áo Như Lai thì hỏi:

– Không biết bồ tát giá lâm, ban ân gì cho cô gia đây?

– A Di Đà Phật, nhân quân Việt bắt được một số tù binh ở trận Vân đồn, Bắc cương và sông Đuống. Bần tăng xin với thượng hoàng ân xá cho họ, rồi đưa về đây trả vương gia.

Các tướng Nguyên thấy vợ con không ai bị hại, của cải trả lại đầy đủ thì chắp tay vái:

– Nam mô Tuệ Trung bồ tát.

Tuệ Trung nhỏ nhẹ:

– Vương gia hai lần mang đại quân vào Đại việt. Nào quân Nguyên, nào quân Việt, nào dân chúng chết kể ra đến hằng triệu người. Bây giờ vương gia đóng quân ở đây, binh tướng bị lam chướng giết mỗi ngày hơn nghìn người. Lương thực bị tuyệt, đánh thì không kế. Chi bằng lui về để bảo toàn tính mệnh cho chư quân. Không biết vương gia nghĩ sao?

Thoát Hoan thấy Tuệ Trung luận có lý, nhưng y vẫn nói cứng:

– Cô gia đem quân sang đây là tuân chỉ của phụ hoàng. Biết rằng chinh chiến gây tang tóc. Nhưng bạch bồ tát, lui cũng không dễ!

Hưng Ninh vương cười thầm:

– Qua lời nói vừa rồi, tiết lộ tên Thoát Hoan đã có ý rút binh.

Ngọc Trí núp sau trướng bước ra:

– A Di Đà Phật. Tiểu nữ là người Việt, quê ở làng Thụy khuê, được gả cho Trấn Nam vương. Tiểu nữ bạo gan xin Bồ tát ban cho đặc ân, để khi rút chạy không bị nguy hiểm.

Hưng Ninh vương móc trong bọc ra một lá cờ, trên thêu hình Phật Di Lặc:

– Tôi trấn thủ Đông bắc cương. Nếu vương phi rút theo đường Đông Bắc cương, cứ trương cờ này lên thì không ai dám chém giết, ném đá, bắn tên.

Ngọc Trí hành lễ, tiếp cờ. (5)

Hưng Ninh vương rời Vạn kiếp, Thoát Hoan họp tham mưu. Áo Lỗ Xích tường trình:

– Thực không ngờ chu sư của Trương Văn Hổ bị diệt gọn, mà ta không biết gì. Dĩ chí đội Thiết đột của Đô Mi Ni với 5 nghìn võ sĩ, bị phục kích, không một người sống sót. Bây giờ lương thảo tuyệt, an ninh bảo vệ chúa tướng không còn, thì chỉ có con dường duy nhất là tử chiến mở vòng vây thoát thân mà thôi.

Đến đó thân binh báo:

– Man Việt thả tù binh đoàn vận lương ra, các đạo quân trấn động vì không hy vọng có lương. Từ tướng tới quân đều hãi hùng. Các khu đóng quân, tung người đi đánh phá các làng lân cận cướp lương. Nhưng lương cướp không làm bao, mà quân chết thì nhiều.

Tất cả các tướng đều đồng ý tung quân vừa rút, vừa cướp lương.

Áo Lỗ Xích bàn:

– Ta phải chia quân làm 2 mà rút. Một là rút theo đường bộ: vượt Như nguyệt, Vạn kiếp, Chi lăng rồi tới Nội bàng; Khâu ôn, Khâu cấp, Khả lan vi, Đại trợ. Còn đường thủy thì theo sông Giá, sông Bạch đằng ra biển.

A Bát Xích kinh sợ thủy quân Việt trong trận Vân đồn, trong trận đánh Thăng long, nhất là trong trận rút khỏi Thăng long vừa qua. Y bàn:

– Bây giờ rút bằng đường bộ thì hy vọng, chứ rút đường thủy thì dọc đường bị ngư thuyền của dân chúng chở binh lính Man việt chặn đánh, bị Ngạc binh đục thuyền, khó mà sống sót. Nếu thoát ra biển được thì các hạm đội thiện chiến đang chờ đợi. Chi bằng phá hủy hết chiến thuyền, rồi rút bằng đường bộ thì hơn.

Ô Mã Nhi phản đối:

– Đóng một chiến thuyền tốn kém không ít. Bây giờ phá hủy một lúc 510 chiếc, thì e phí quá. Thần đề nghị, mình vẫn chia 2 lực lượng mà rút. Cánh bộ binh rút theo đường Vạn kiếp, Chi lăng. Cánh thủy quân rút theo sông Bạch đằng, nhưng dùng bộ binh, kỵ binh đi dọc theo bờ sông hộ tống. Khi tới bờ biển thì bộ, kỵ lên thuyền ra khơi.

Thoát Hoan đồng ý:

– Vậy Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đem thủy quân rút trước (6). Trình Bằng Phi, Tháp Xuất (7) đem kỵ binh đi dọc hai bên bờ hộ tống.

Ô Mã Nhi hỏi:

– Xin vương gia chỉ định cho một giám quân.

Thoát Hoan chỉ Tích Lệ Cơ vương:

– Phiền thúc phụ làm giám quân cho đại đô đốc Ô Mã Nhi.

* Ghi chú của thuật giả: Xin nhắc lại điều đã ghi chú trong bộ Anh Hùng Đông A Dựng Cờ Bình Mông. Vì đế quốc Mông cổ quá rộng, bao gồm hằng mấy trăm nước, nên khi sai một tướng đánh nước nào thì Thành Cát Tư Hãn cũng cử một người trong hoàng tộc, hay trong hội đồng Quý tộc làm giám quân. Tướng chỉ huy quyết định phương lược tác chiến, xung phong hãm trận. Còn giám quân quyết định phong chức tước, tổ chức cai trị vùng mới chiếm. Từ hồi sai Thoát Hoan sang đánh Đại việt, Hốt Tất Liệt đã cử hai thân vương trong hội đồng quý tộc, một cho cánh quân Vân nam là A Tai. Một cho cánh quân Kinh hồ là Tích Lệ Cơ vương mà sử gia Trần Trọng Kim cắt làm hai là Tích Lệ và Cơ Ngọc. Bởi trong chữ Hán, chữ vương với chữ ngọc giống nhau, nên thực sự là Tích Lệ Cơ vương, cụ cắt thành Tích Lệ và Cơ Ngọc. Vì Thoát Hoan cũng như Vân nam vương Dã Tiên Thiết Mộc Nhi là người trong hội đồng quý tộc nên chưa một lần tham khảo ý kiến hai vương A Tai, Tích Lệ Cơ là người bị đầy, nên hai thân vương chỉ là bù nhìn. Bây giờ cánh quân của Ô Mã Nhi quá đông, quyền hành quá rộng, nên y mới xin một giám quân. Tích Lệ Cơ vương là người theo A Lý Bất Ca chống lại Hốt Tất Liệt. Khi A Lý Bất Ca bại, Tích Lệ Cơ vương hàng Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt đầy y theo Thoát Hoan nam chinh.

Áo Lỗ Xích giảng giải chi tiết cho các tướng sĩ tới cấp bách phu biết:

– Chúng ta rút, thì Man Việt sẽ phục kích dọc đường, rất nguy hiểm. Khi ta bị phục kích thì bỏ các con lộ lớn, đi theo các đường làng. Đây! Nhờ An Nam quốc vương Trần Ich Tắc cung cấp bản đồ cho ta. Các người phải thuộc lòng những con đường nhỏ băng rừng, vượt suối từ Chi lăng, Nội bàng sang Tư minh.

Biết đầy đủ kế hoạch lui binh của Nguyên, Ngọc Trí tóm lược, sai chim ưng gửi về Thăng long cho Khu mật viện Đại việt. Lập tức Hoài Văn vương tâu với hai vua, với Hưng Đạo vương. Cuộc hội quân khẩn cấp tại điện Giảng võ. Hưng Đạo vương nhận định:

– Lần này giặc thua mau, vì ảnh hưởng cái thất bại lần trước. Ta cần đánh toàn lực, vì chỉ cần một trận này nữa là xong. Ta chia chiến trường làm 4 mặt trận.

Chư tướng mặt nhìn mặt, nguồn vui chạy rừng rực khắp cơ thể. Vương hướng 2 vua:

– Ra quân cần giữ vững căn bản. Căn bản của ta là Thăng long, Thiên trường và Hoan, Ái. Giặc không có khả năng đem quân tốc chiến đánh vào nam giới Hoan, Ái, Trường yên. Tuy nhiên ta vẫn phải đề phòng. Vậy Hoàng đế trấn Hoan, Ái với Tĩnh Quốc vương. Lực lượng gồm Nghĩa dũng binh, với hạm đội Bạch đằng. Khâm từ hoàng hậu trấn Thiên trường, lực lượng gồm hiệu binh Thiên thánh, với 10 đô Ngưu binh. Thượng hoàng với Chiêu Minh vương, Chiêu Hòa vương, Hưng Hiếu vương trấn Thăng long. Lực lượng gồm có 4 đô Ngưu binh, 10 đô kị binh và hiêu binh Tả thánh dực.

Vương đưa mắt nhìn Chiêu Văn vương:

– Mặt trận phía Tây do Chiêu Văn vương thống lĩnh. Vương cho phục binh ở Phù lỗ, Cụ bản, Bình lệ nguyên, Thảo lâm. Mỗi nơi đều để cho giặc đi qua một nửa, rồi đánh vào nửa sau. Lực lượng gồm có hiệu binh Trung thánh dực, Tứ thánh, thêm 5 đô Ngưu binh. Không biết như vậy có đủ không?

Chiêu Văn vương vui vẻ:

– Đủ rồi. Hiệu Trung thánh dực của Hà Chương hòa hợp với dân chúng, nên có hơn 10 đô Nghĩa dũng binh rất thiện chiến.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Vương phải cẩn thận khi xử dụng Nghĩa dũng binh của vùng Phù lỗ, Bình lệ nguyên, Cụ bản. Đám này thiện thiến, can đảm thì không hiệu binh nào bằng. Nhưng có điều họ quyết tâm, nên chết thì chết chứ không chịu rút lui, hay bỏ chạy.

Hà Chương tâu:

– Tâu, cái tinh thần đó có từ hồi Vũ Uy vương trấn Bắc cương. Vương đã huấn luyện họ như vậy. Cái tinh thần đó thành truyền thống đã 3 đời. Nay thình lình bắt họ thay đổi rất khó. Tuy nhiên thần sẽ uyển chuyển khi ra lệnh cho họ.

Vương đứng dậy hướng Vũ Uy vương:

– Bây giờ đến chủ lực diệt đại quân của giặc từ Vạn kiếp tới biên giới, xin Vũ Uy vương, vương phi đảm trách. Lực lượng gồm các hiệu Thiên thuộc, Thiên cương, Tứ thiên, Tiền thánh dực với 10 đô Ngưu binh. Vương là người được Tống, Hốt Tất Liệt khen là dùng binh như thần. Bây giờ vương có 4 hiệu binh, thêm 5 tướng tài từ Thảo nguyên về giúp sức thì việc truy quét bọn Thoát Hoan thành công đã trông thấy.

Vương phi Ý Ninh mỉm cười:

– Giặc còn tới 17 vạn bộ, kị binh. Mà vương huynh đặt dưới quyền chúng tôi có 4 vạn binh. Chúng có là thỏ, là chuột đâu mà chúng tôi thắng được chúng?

Uy tín vương phi Ý Ninh suốt 25 năm qua chấn động Việt, Hoa, Mông cổ, dĩ chí Tây vực. Nghe phi hỏi, tiếng phi trong, ngọt như cam thảo; mọi người biết phi đùa cho vui.

Hưng Đạo vương thấy vui vui, ngài gật đầu:

– Binh Nguyên-Mông như hùm như hổ là đối với các nước khác. Chứ trước Vũ Uy vương, vương phi thì chúng thành chuột hết.

Thượng hoàng hỏi:

– Anh Nhật Duy ơi! Từ hôm 5 tướng Nãi man theo anh về Đại việt, ngày đêm cùng ông cụ Trung Thành ra sức huấn luyện Nghĩa dũng binh các trấn bắc cương. Tại sao chỉ huấn luyện họ phục binh, mà không huấn luyện họ xung phong, hãm trận?

Vũ Uy vương cười:

– Trung Thành vương với thần ước tính kỳ này Thoát Hoan sẽ bại. Vương với thần, cùng 5 tướng đều lầu thông binh pháp của Nguyên-Mông nên huấn luyện Nghĩa dũng binh phục binh, chờ cái ngày chúng bỏ chạy, sẽ đánh chúng. Nếu huấn luyện xung phong, hãm trận thì lâu quá, e không kịp, nên chỉ huấn luyện phục binh, truy sát. Bây giờ 5 tướng có trong tay 10 vạn nam, nữ Nghĩa dũng, nếu nói về xung phong hãm trận thì họ không bằng chính binh. Còn như phục binh, đánh chặn thì Thiên tử binh không thể bằng họ.

Cử tọa vỗ tay hoan hô.

Hưng Đạo vương nói với cử tọa:

– Bây giờ tới lực lượng diệt thủy quân của Nguyên.

Hưng Đạo vương tự tin:

– Nguyên dốc hết Thủy quân của các cửa biển, của cả Quỳnh châu đem sang ta. Sau các trận Vân đồn 2, Vân đồn 3, trận sông Đuống lúc đánh Thăng long, trận sông Đuống khi rút lui Thăng long. Chúng bị tổn thất 210 chiến thuyền. Từ hôm chiếm Vạn kiếp, Thoát Hoan thấy nước mình nhiều gỗ quý, y sai thủy quân, công binh đóng 120 chiến thuyền bậc trung. Như vậy y có 560 chiến thuyền. Quân số thủy quân tử trận của các trận vừa qua, chúng đem bộ binh thay thế. Bộ binh mà đứng trên thuyền tác chiến thì khi sóng dạt, chân nam đá chân xiêu; không ngã thì cũng lắc lư. Làm sao chúng có thể đấu lại Nghĩa dũng binh ngư dân của mình có cả chiều dài từ bé sống dưới nước? Ta phải cố gắng tiêu diệt toàn bộ bọn thủy quân, phá hết chiến thuyền. Như vậy Nguyên-Mông muốn phục hồi phải lâu lắm. Trận này không phải chỉ đánh lấy thắng mà phải triệt tiêu tận gốc.

Các tướng vỗ tay.

Vương nhắc:

– Chiến trường trải dài từ Vạn kiếp tới Hạ long. Các tướng, các hiệu binh sau đây dự trận diệt thủy quân Nguyên-Mông. Về thủy quân: Hạm đội Âu Cơ của đô đốc Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn. Hạm đội Thần phù, của đô đốc Phạm Cự Địa. Hạm đội Thăng long, của đô đốc Nguyễn Chế Nghĩa. Cộng với tất cả ngư thuyền của dân chúng dọc sông Đuống, sông Hồng, các vùng bờ biển.

Hưng Đạo vương tiếp:

– Về Ngưu binh, tất cả 50 đô Ngưu binh trừ bị, lẫn chính binh đều tham dự. Về bộ binh, các hiệu binh sau đây: Thứ nhất hiệu Hữu thánh dực, của Phạm Ngũ Lão.

Chư tướng vỗ tay hoan hô. Vì từ đầu cuộc chiến, phò mã cùng công chúa Thủy Tiên trấn ở cực bắc là hai ải Khâu ôn, Khâu cấp. Mới đây, vì công chúa An tư thống lĩnh Thị vệ tuẫn quốc, công chúa Thủy Tiên được điều về thay thế. Nên phò mã được lĩnh chức Điện tiền chỉ huy sứ. Hiệu binh Hữu thánh dực được lĩnh nhiệm vụ Thị vệ. Bây giờ phò mã được dự trận giặc lớn nhất.

Trong giới tín ngưỡng, người ta đồn rằng phò mã là Hùng Bảo, một đại tướng lừng danh thời vua Trưng. Còn công chúa là Trần Năng tước phong công chúa Yên lãng, là một trong 12 nữ đại công thần thời vua Trưng. Hai vị thành vợ chồng, vì nước chống giặc rất tương đắc. Hai vị tái đầu thai để đánh giặc.

– Thứ nhì, hiệu Thần cách, của Trung lang tướng, Văn sơn hầu. Địa Lô.

Chư tướng vỗ tay, vì hiệu binh này cùng với hiệu Hàm tử là hai hiệu thiện chiến, mỗi chiến, mỗi thắng.

– Thứ ba, hiệu Củng thần, của Chiêu võ thượng tướng quân, Chiêu dương hầu Cao Mang.

– Thứ tư, hiệu Tứ thần, của Vạn hoa sơn hầu Nguyễn Khoái.

– Thứ năm, hiệu Hàm tử, của Hoài Văn vương Trần Quốc Toản.

Một lần nữa chư tướng vỗ tay. Vì thời Trần, chư tướng tin rằng Trần Quốc Toản là Vũ khúc tinh quân trên thượng giới giáng thế, nên đánh đâu thắng đó.

– Thứ sáu, hiệu Văn Bắc, của Trần Quốc Kinh (Dã Tượng).

Buổi hội chấm dứt. Chư tướng lên đường.

Hưng Đạo vương cùng Quốc Toản, Dã Tượng, Yết Kiêu, Cao Mang, Đại Hành, Địa Lô, âm thầm đến cửa sông Bạch đằng. Ngài nói với 6 tướng:

– Nghĩ lại thời gian qua mau thực. Mới hôm nào Thiên trường ngũ ưng là 5 thiếu niên cùng dự trận Đông bộ đầu. Chú Vũ Uy với thím Ý Ninh mới kết hôn. Thế mà bây giờ cả 5 thành đại tướng quân, cùng dự trận này. Chú thím Vũ Uy sinh ra Quốc Toản là tướng vô địch.

Sau khi quan sát từng khúc sông – từng con sông lớn như sông Giá, sông Đá bạch, sông Điền ông, sông Rừng, bến Rừng, làng Rừng; cho tới những con lạch, con mương thông với sông Bạch đằng – Hưng Đạo vương hỏi các Đại tư ở ven sông nơi nào trước đây vua Ngô, vua Lê đã đóng cọc, đánh quân Nam Hán, quân Tống. Các Đại tư đem thuyền chở vương cùng 6 tướng ra sông Bạch đằng, chỉ tường tận từng khu đã đóng cọc.

Hoài Văn vương Quốc Toản hỏi:

– Trong tháng 3, thì những ngày nào nước lên cao nhất? Lên vào giờ nào? Vào giờ nào nước xuống thấp nhất?

Các Đại tư đều trả lời giống nhau:

– Trong tháng 3, những ngày 7-8-9 là ngày nước lên cao nhất vào giờ Mão, Thìn. Sang giờ Tỵ thì nước đứng. Giờ Ngọ thì nước rút. Đến giờ Mùi, Thân thì nước xuống thấp nhất. Tóm lại ba ngày 7-8-9 là ngày nước lên cao nhất, và xuống thấp nhất.

Tối hôm đó Hưng Đạo vương họp với Quốc Toản và 5 tướng tại dinh của Yết Kiêu trong ấp phong An biên.

Địa Lô hỏi:

– Có phải vương muốn dùng lại trận địa cọc để phá thủy quân Nguyên không?

– Đúng vậy, thời Nam Hán, Tống, thủy quân giặc mạnh hơn thủy quân mình. Vua Ngô, vua Lê phải dụ cho chúng vào sông Bạch đằng để phá. Bây giờ tuy chúng mạnh, nhưng chúng rút binh. Chúng ta đang ở tháng 3. Mình phải phục kích dọc đường, cản trở, sao cho giặc đến Bạch đằng đúng vào giờ Tỵ, Ngọ ngày 7-8 hay 9. Rồi phải đánh cản không cho chúng rời Bạch đằng để giờ Mùi, Thân nước rút, thuyền của chúng bị vướng cọc.

Hưng Đạo vương hỏi Yết Kiêu:

– Cách đây hơn tháng, ta có ra mật chỉ, lệnh cho các Đại tư sai Nghĩa dũng binh vào rừng đẵn gỗ, phơi khô. Thế bây giờ gỗ đâu? Được bao nhiêu cây?

Yết Kiêu chỉ một người ngồi cạnh:

– Khải phụ vương, con sai đô thống Lê Văn Khoa thi hành chỉ dụ.

Sau trận Vân đồn thứ nhì, Lê Văn Khoa được phong đô thống, được Nhân Huệ vương cho thống lĩnh lực lượng Nghĩa dũng binh từ Đồn sơn, tới An biên. Lê Văn Khoa trình bầy:

– Nhận được lệnh của Thiên kình đại tướng quân, thần điều động Nghĩa dũng binh, âm thầm vào rừng đẵn gỗ. Trong hơn tháng đẵn được 3 vạn cọc lớn hơn bắp chân, dài khoảng 2 trượng đến 3 trượng. Đầu các cọc đều vót nhọn, bịt sắt. Cọc hiện dấu trong hang núi nằm trên vịnh Hạ long. Bất cứ lúc nào vương gia cần, thần sẽ điều động Nghĩa dũng binh đem thuyền ra chở về. (8)

Hưng Đạo vương khen:

– Quả là một đô thống vừa có tài, vừa có trí.

Hôm sau, Hưng Đạo vương cùng Yết Kiêu, Địa Lô dùng ngư thuyền của dân chúng đem một số Nghĩa dũng binh giả làm người đánh cá ra sông Bạch đằng giữa lúc nước cạn, thử đóng cọc rồi chờ khi nước lên cao, cho thuyền lớn đi vào trận địa cọc. Thuyền đụng cọc, thuyền không bị nghiêng, bị thủng, mà trái lại cọc bị ngả. Nghĩ rằng cọc đóng không sâu, Yết Kiêu cho đóng sâu hơn, kết quả cọc vẫn nghiêng.

Vương lên bờ sông, ngồi cạnh Yết Kiêu, Địa Lô. Thầy trò ngẫm nghĩ tìm cách sao cho cọc đứng vững. Một bà bán bánh đậu, khoai lang luộc, bún riêu đi qua. Bà như không biết người ngồi đó là vị vương uy quyền nghiêng nước, và 2 đại tướng quân làm cho hằng vạn binh tướng Nguyên kinh hồn động phách. Bà nói với Yết Kiêu:

– Tôi coi tướng mạo ông thì là người chỉ sống vì dân, vì nước, thế mà dường như ông đang có truyện nan giải thì phải!

Bà múc ra 3 bát bún riêu mời Hưng Đạo vương với Yết Kiêu, Địa Lô:

– Mời cụ, mời 2 ông xơi! Bún riêu nấu bằng cáy đấy! Không phải bằng cua đồng hay cua biển đâu. Thơm lắm.

Thấy bà già lòng thành, vương cùng Yết Kiêu, Địa Lô ăn bát bún. Qủa thực bún riêu này ngon hơn bún riêu ở Thăng long. Bà già nhìn xuống những cây cọc, với con thuyền. Chợt bà hiểu ra. Bà lấy 10 cây đũa cắm xuống đất thành 5 hàng, rồi lấy dây chuối xé nhỏ, cột vào những cây đũa. Mỗi cây cách nhau hơn gang tay. Bà lại cắm một cây đũa ra xa. Bà nói với Yết Kiêu:

– Ông hãy nhìn này.

Bà dùng cánh tay gạt một cái, cây đũa độc lập nghiêng đi. Rồi bà dùng tay gạt cây đũa đã cột vào 9 cây đũa khác, thì cây đũa không lay chuyển. Yết Kiêu bật lên tiếng reo!

– Qủa thực kiến thức tôi không bằng bà.

Lập tức hầu sai hoàng nam đóng cọc. Cọc hơi nghiêng về phía thượng lưu. Lại dùng dây buộc vào một cái cọc, rồi nối cọc nọ với cọc kia. Sau đó cho thuyền húc vào trận địa, quả nhiên thuyền bị thủng đáy, lật nghiêng, mà cọc không bị đổ.

Yết Kiêu điều động Lê Văn Khoa cùng hoàng nam thiết lập trận địa cọc suốt hai đêm một ngày thì xong.

Hưng Đạo vương họp các tướng trên một chiến thuyền. Vương ban lệnh:

– Hôm nay là ngày 17, theo tin của công chúa Ngọc Trí, chỉ còn 10 ngày nữa là giặc bỏ chạy. Chúng chia làm hai lực lượng.

Vương ngừng lại nhìn cử tọa, rồi tiếp:

– Lực lượng chính là bộ binh, kỵ binh. Chúng sẽ rút theo đường Nội bàng, Chi lăng rồi tỏa ra bốn ngả Đại trợ, Khả lan vi, Khâu ôn, Khâu cấp. Vũ Uy vương từ ngoại quốc về, vương đem theo 5 đại tướng Thảo nguyên. Giặc như đàn thú cùng đường, bị vương chăng lưới, đặt chông. Khó mà thoát được.

Vương tiếp:

– Cánh thứ nhì chúng rút chung thủy quân, bộ binh, kỵ binh. Chúng ta có bổn phận diệt tuyệt cánh này. Cho nên tôi đã chọn những hiệu binh thiện chiến nhất, những tướng tài giỏi nhất xuất trận. Hiện chúng chuẩn bị nhổ lều trại, mang những quân dụng, thương binh, đàn bà, trẻ con xuống các chiến thuyền. Quân Việt mình thì dùng thủy quân hộ vệ bộ binh. Nhưng thủy quân bọn Nguyên yếu quá, chúng dùng bộ binh, kỵ binh đi trên bờ hộ tống. Ta phải đánh cả hai.

– Đánh ép hậu quân của chúng là Hưng Nhượng vương. Vương thống lĩnh hiệu binh Thần cách, Hữu thánh dực, hạm đội Thần phù. Hạm đội Thần phù của đô đốc Phạm Cự Địa ém tại các sông nhỏ trong vùng Trúc động. Văn sơn hầu Địa Lô đem hiệu binh Thần cách, ém tại bắc Vạn kiếp. Ngày 27 thì Thoát Hoan với bộ binh rút lui. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp cho chu sư lên đường, bọn Trình Bằng Phi, Tháp Xuất đem kỵ binh, bộ binh đi trên bờ hộ tống. Đoàn thuyền của chúng chia làm 2 khúc. Khúc đầu do Ô Mã Nhi chỉ huy. Khúc thứ nhì do Phàn Tiếp chỉ huy. Đợi cho chúng rời Vạn kiếp, thì hợp với thủy quân Thần phù đánh chiếm Vạn kiếp. Đặt một nửa trấn tại đây. Một nửa chia ra từng đô ẩn vào với Nghĩa dũng binh dọc sông. Cách Vạn kiếp 10 dặm, 17 dặm, 21 dặm đều có 2 nhánh sông nhỏ, dùng Nghĩa dũng binh, ngư thuyền đánh trống, túa ra tấn công vào giữa đoàn thuyền, lại thả Ngạc binh, đục thuyền của chúng. Chúng phải dừng lại vá thuyền. Như vậy cản trở chúng được 3 ngày.

– Thứ nhì là, Phạm Ngũ Lão đem hiệu Hữu thánh dực chia làm 5, trấn dọc sông Giá, sông Đá bạch, hợp với các Đại tư chỉ huy Nghĩa dũng binh, xử dụng ngư thuyền dân, đánh chúng như hiệu binh Thần cách. Làm đủ mọi cách, khiến cho đoàn thuyền của chúng phải vừa đánh, vừa rút trong 5 ngày mới vào sông Bạch đằng được.

– Khi đoàn thuyền của Ô Mã Nhi vào sông Bạch đằng rồi thì Phạm Ngũ Lão đi bên bờ trái, Địa Lô đi bên bờ phải, phía sau hạm đội Thần phù đuổi theo chúng, đánh ngày, đánh đêm, làm cho chúng mệt mỏi, không có thời giờ ăn, ngủ.

– Thứ ba: đánh chính trận địa cọc, đích thân tôi chỉ huy. Phó là Trường yên công, Trấn viễn đại tướng quân Đại Hành. Lực lượng gồm Chiêu võ thượng tướng quân, Chiêu dương hầu Cao Mang với hiệu Củng thần; Vạn hoa sơn hầu Nguyễn Khoái với hiệu Tứ thần; Thiên tượng đại tướng quân Trần Quốc Kinh, công chúa Thúy Hồng với hiệu Văn bắc; hạm đội Thăng long, của đô đốc Nguyễn Chế Nghĩa. Khi bọn Ô Mã Nhi trúng trận địa cọc thì đổ ra đánh. Đánh bằng tất cả sức lực, tiêu diệt chúng.

– Thứ tư: đánh chặn đầu, phi Hoài Văn vương Trần Quốc Toản với hiệu binh Hàm tử không ai đương nổi. Vương được tăng viện đô đốc Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn với hạm đội Âu Cơ. Nhiệm vụ sinh tử là trấn ở cửa sông Bạch đằng không cho bọn Ô Mã Nhi rời khỏi trận địa cọc. Khi nước rút, thuyền của chúng bị vỡ, bị lật thì đánh tiêu diệt chúng. Chắc chắn Ô Mã Nhi phải tử chiến mở đường máu rút chạy. Trận chiến sẽ kinh khủng vô cùng. Nhưng vương là tướng bách chiến bách thắng, ắt sẽ thành công.

Đại Hành nhắc chung cho chư tướng:

– Các vị thống lĩnh hiệu binh, các vị đô đốc phải tối cẩn thận. Xung quanh các chúa tướng của Nguyên đều có một đội Võ vệ. Đội đó gặp tướng mình là xông vào bao vây sát hại.

Đại Hành tiếp:

– Lần trước, trong lễ tấn phong An Nam quốc vương, anh Dã Tượng, Yết Kiêu đại náo điện Giảng võ. Lại nữa khi rút lui, Thoát Hoan bị Quốc Kiện, Quốc Toản, Dã Tượng, ném đá làm cho y kinh hồn táng đởm. Nên lần này Hốt Tất Liệt tuyển khắp Trung nguyên, Tây tạng, Đại lý, Cao ly, Tây vực các cao thủ rồi thành lập một đoàn 5 nghìn Thiết đột để tấn công các tướng của ta. Tôi đã báo về nước. Khi đoàn này sắp vào nước, Thượng hoàng sai Hưng Ninh vương, Hoài Văn vương lên Bắc cương tiêu diệt rồi. Bằng không thì các tướng mình e khó toàn mạng. Đây là đoàn chính để bảo vệ Thoát Hoan và bộ tham mưu đã bị diệt. Tuy nhiên bọn Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Trương Ngọc, A Tai, Tích Lệ Cơ, mỗi tên có môt đội Võ vệ. Trong trận này chúng sẽ cố gắng bảo vệ chúa tướng.

oOo

Trong khi Hưng Đạo vương thiết kế phục kích, gài bẫy chờ đợi quân Nguyên thì:

Ngày 27 tháng 2 năm Mậu tý (30-3-1288). Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp cho các chiến thuyền lên đường. Trên các chiến thuyền chở theo quân dụng, thương binh, tù binh, vợ con tướng sĩ. Kỵ binh của Trình Bằng Phi, Tháp Xuất đi song song trên bờ hộ tống. Nhưng những con đường, cầu dọc hai bên sông đã bị phá hủy hết. Dọc đường, ngựa bị bẫy khắp nơi. Kỵ binh lại không có công binh đi theo để bắc cầu, làm đường. Khi qua Đông triều, kỵ binh không sang sông được, Trình Bằng Phi, Tháp Xuất phải quay lại rút với Thoát Hoan.

Thám mã báo:

– Khi ta vừa rút khỏi Vạn kiếp thì quân Man Việt do Địa Lô với Phạm Cự Địa đánh chiếm, trấn tại đây. Mình vừa đi qua đoạn nào là chúng đóng chặn phía sau.

Ô Mã Nhi kinh hoảng:

– Rõ ràng vùng Vạn kiếp, Trúc động do mình kiểm soát bấy lâu, bọn Địa Lô, Phạm Cự Địa có cánh hay sao mà chúng tới được.

Quân lại báo:

– Cánh kị binh do Trình Bằng Phi, Tháp Xuất tiến dọc sông, vì cầu, đường bị phá, nên đã trở lại rút theo Trấn Nam vương.

Tuy kinh hoàng nhưng Ô Mã Nhi vẫn phải cho đoàn thuyền xuôi dòng. 510 chiến thuyền, đội hình hàng 3, thành 170 đoạn dài tới 15 dặm. Ô Mã Nhi đi trên chiến thuyền dẫn đầu với đội Tế tác. Phàn Tiếp đi trên chiến thuyền cuối. Khi đoàn thuyền rời Vạn kiếp 10 dặm thì một tiếng rít xé không gian, rồi trên trời một tiếng nổ như sấm, cụm khói mầu tím, hình con chim ưng, hai chân kẹp 2 thanh kiếm, tỏa ra. Chỉ huy Thám mã Nguyễn Chiến Thắng la lớn:

– Pháo lệnh của hiệu binh Hàm tử.

Quân Nguyên nghe tên hiệu binh Hàm tử, đều ớn da gà. Trống thúc, chiêng khua vang mặt sông, rồi từ các nhánh sông 2 bên bờ, những con thuyền nhỏ, mỗi thuyền có 4 ngư dân chèo, 4 binh Việt, túa ra. Thủy quân Nguyên dàn trên mặt chiến thuyền, dương cung bắn. Nhưng quân Việt dùng khiên mây dương lên. Tên găm vào khiên mây. Trong khi đó những máy bắn đá, lôi tiễn trên bờ nã xuống chiến thuyền. Có 10 chiến thuyền bị quân Việt leo lên chém giết, rồi chất vật dụng đốt cháy. Lại 12 chiến thuyền bị Ngạc binh đục thủng đáy, nước tràn vào, thuyền từ từ chìm xuống. Binh lính bơi vào bờ thì bị quân Việt chém giết.

Ô Mã Nhi thấy trên bờ là một làng trù phú, phía bờ sông không có hàng rào. Y hỏi tên Nguyễn Chiến Thắng:

– Làng này tên gì?

– Thưa đó là làng Rừng. Bến sông kia là bến Rừng.

Ô Mã Nhi ra lệnh cho 5 thuyền đổ bộ chiếm làng Rừng. 1 nghìn 5 trăm quân chiếm làng không gặp kháng cự. Y cho phép quân sĩ tha hồ cướp lương thực, gia súc làm thực phẩm. Đoàn thuyền nối đuôi nhau qua đêm. Đám đổ bộ ngủ trong làng Rừng.

Nhưng binh sĩ vừa ngủ, thì có tiếng tù và thổi, rồi Ngưu binh từ cánh đồng, đổ bộ vào làng, không đầy một giờ đám 1500 binh sĩ bị đánh bật khỏi làng, bỏ vũ khí, giáp trụ bơi ra leo lên thuyền.

Sáng hôm sau, giờ Mão, Ô Mã Nhi được báo cáo: đám thuyền đánh cản đường trên sông, cũng như Ngưu binh hôm qua do tướng Nam man Địa Lô chỉ huy.

Quân sĩ mệt mỏi, uể oải, không muốn chèo thuyền. Ô Mã Nhi ra lệnh bắt phải tiếp tục lên đường. Thuyền đi được 10 dặm thì phía sau có tiếng la hoảng, vì một đoàn chiến thuyền Việt kéo hiệu kỳ của đô đốc Phạm Cự Địa đang từ phía Vạn kiếp đánh vào hậu quân. Cuộc chiến hết sức khốc liệt.

Giao chiến hơn giờ thì đám chiến thuyền Việt rút chạy. Kiểm điểm lại, phía Nguyên bị phá huy mất 5 chiến thuyền, do Ngạc binh đánh chìm. Quân sĩ chết hết. Ô Mã Nhi ra lệnh bỏ rơi các chiến thuyền chìm, bỏ không vớt xác tử sĩ. Đoàn thuyền tiếp tục lên đường.

Kể từ lúc rời Vạn kiếp, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi bị đánh tập hậu, đánh chặn ngang, khuấy rối liên tiếp 10 ngày. Binh tướng vừa mệt, vừa kinh hoảng đến cất tay lên không được.

Chiều hôm đó là ngày 7 tháng 3, cả đoàn bắt đầu đi vào sông Bạch đằng. Nước đang rút, thuyền xuôi dòng nước, tiến rất nhanh. Thình lình những tiếng nổ xé không gian hai bên bờ hậu quân, rồi tiền quân, rồi trung quân trống thúc, quân reo. Tế tác Nguyễn Chiến Thắng báo:

– Trình tham tri, mình bị vây bốn phía rồi!

Ô Mã Nhi như phát điên:

– Bọn vây là bọn nào?

– Theo kỳ hiệu của chúng thì người điều khiển truy hậu quân là Hưng Nhượng vương, Văn sơn hầu Địa Lô, phò mã Phạm Ngũ Lão, đô đốc Phạm Cự Địa.

Ô Mã Nhi nói cứng:

– Lực lượng của chúng chỉ có một hạm đội, 2 hiệu binh thì Phàn Tiếp dư sức đè bẹp chúng. Còn bọn phục hai bên sông là bọn nào?

– Thưa là Cao Mang, Nguyễn Khoái, Dã Tượng, Nguyễn Chế Nghĩa, do Hưng Đạo vương chỉ huy.

Nghe đến tên Hưng Đạo vương, dù Ô Mã Nhi là đệ nhất dũng sĩ Mông cổ, lĩnh Tham tri chính sự, đại đô đốc đang chỉ huy đoàn 510 chiến thuyền với 15 vạn binh; mà y run bần bật, hai hàm răng đánh vào nhau lộp cộp. Y ra lệnh cho chu sư ngừng lại ngủ giữa sông, để binh tướng lấy lại sức. Lạ thay, khi chu sư dừng lại thì truy binh cũng ngừng.

Phàn Tiếp từ hậu quân dùng khoái chu lên bàn với Ô Mã Nhi:

– Không biết đại đô đốc nghĩ sao? Suốt 10 ngày qua, bọn Man việt chỉ dùng ngư thuyền quấy rối, dùng Ngạc binh đục thuyền. Chúng không hề xuất hiện trực diện đánh ta. Bây giờ chúng đem quân đuổi theo, phục hai bên bờ, đánh trống, reo hò. Thế là ý gì?

Ô Mã Nhi hỏi giám quân Tích Lệ Cơ vương:

– Xin thỉnh thị ý kiến đại vương?

Từ ngày bị đầy theo Thoát Hoan, tiếng là giám quân, nhưng vị thân vương đại quý tộc Tích Lệ Cơ chỉ là bù nhìn. Đây là lần đầu tiên vị vương này được thỉnh ý. Tích Lệ Cơ vương ban chỉ:

– Đô đốc phải biết rằng cánh quân của mình tới 510 chiến thuyền, với 15 vạn quân, thêm toàn bộ vợ con chư tướng, của cải, quân dụng. Hưng Đạo vương gì mà không biết rõ? Cho nên vương sai quân quấy rối, làm cho ta không yên. Làm cho binh tướng mệt mỏi rồi dàn đại quân đánh ta. Tôi đề nghị hai con đường đi.

Vương ngừng lại, rồi thở dài:

– Một là Hưng Đạo vương sợ lực lượng của ta, nên đích thân vương chỉ huy, dùng những đội quân nhỏ đánh tiêu hao, quấy rối làm cho ta mệt mỏi, chán nản, bỏ chạy, mà không cần phải đánh. Nếu đúng như vậy, ta tạm cho quân nghỉ một đêm, sáng mai ta rút ra biển, rồi về nước. Thế là êm.

– Hai là Hưng Đạo vương cho rằng Thái tử Thoát Hoan rút về rồi lại sang nữa, nên dốc toàn lực phá chu sư của ta, để ta không còn tinh lực đem quân sang. Hưng Đạo vương tung quân diệt ta thì dễ như bắt ba ba trong rọ. Ta đánh thì không khác gì tự tử. Bây giờ sau 10 ngày bị đánh ngày, đánh đêm. Quân ta quá mệt mỏi. E không đủ sức chống lại giặc.

Vương thở dài:

– Trước tình thế này, thì dù Thái tổ Thành Cát Tư Hãn sống dậy cũng không cứu được chúng ta. Thôi thì từ mấy chục năm nay An Nam quy phục ta. Ta hàng, thì An Nam sẽ không giết ta, không giết binh sĩ. Ta chỉ chịu nhục một chút thôi. Rồi An Nam sẽ đem binh, tướng, chu sư trả cho thiên triều. Đó là kế an toàn.

Tuy kinh sợ nhưng Ô Mã Nhi vẫn cương quyết:

– Mình chưa đánh mà đã hàng thì hèn quá. Dù Hưng Đạo vương hù dọa cho mình chạy, hay đánh tiêu diệt mình, thì mình cũng đánh một trận, mở đường máu thoát thân. Chứ hạ cờ hàng Nam man thì còn gì Thiên quốc Mông cổ nữa? Tôi quyết định đánh! Đánh mà chết còn hơn hàng mà nhục. Tôi há lại không bằng Toa Đô ư?

Thế là y ra lệnh chu sư ngừng tiến, các chiến thuyền nối với nhau thành hàng dọc sông. Tạm nghỉ một đêm lấy sức, sáng mai quyết chiến. Nhưng quân Việt từ trên bờ bắn lôi tiễn, bắn đá xuống các chiến thuyền. Từ một vài nhánh sông nhỏ, các ngư thuyền thúc trống tiến ra tập kích. Suốt đêm quân Nguyên phải chống trả, không được ngủ.

Sang giờ Mão (5 giờ sáng), ánh nắng mùa xuân tỏa ra trên sông Bạch đằng, úp xuống những cánh đồng xanh mướt. Trên trời những đoàn hải âu bay lượn thực đẹp. Ô Mã Nhi than:

– Hỡi ơi! Ước gì ta được nhàn nhã, vô tư như những con chim kia!

Binh tướng trải 10 ngày giao chiến, mất ngủ, mệt đến đờ người ra. Nhưng Ô Mã Nhi vẫn ra lệnh cho đoàn thuyền khởi hành. Nước sông lên khá cao, thuyền đi ngược giòng nước chảy, ỳ ạch, lù lù như những con quái vật.

Thình lình một tiếng nổ xé không gian, rồi một đoàn chiến thuyền kéo cờ Việt, từ hạ lưu đang nương theo giòng nước, tiến tới như bay. Suốt 11 ngày qua, đoàn chiến thuyền hùng hậu của Đại nguyên chỉ gặp những đoàn ngư thuyền của Đại việt. Bây giờ họ mới được gặp thủy quân địch.

(Còn tiếp Hồi 110)

Share this post