Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 79

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 79

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BẢY MƯƠI CHÍN
Anh hùng và giai nhân

Trung vũ đại vương – Thái sư Trần Thủ Độ – tiếp:

– Người thứ ba trong Thiên trường ngũ ưng là Cao Mang. Xuất thân là một tiểu sa di, chăn trâu cho chùa. Được xung vào đội Ngưu binh, quân hàm Lượng trưởng chỉ huy 20 Ngưu binh. Sau trận Bình lệ nguyên thăng lên Đô trưởng. Dự trận Phù lỗ thăng lên Vệ úy. Lập đại công trận Đông bộ đầu thăng lên Đô thống. Phó thống lĩnh Ngưu binh tước Nam. Thay Dã Tượng thống lĩnh Ngưu binh dự trận Chiêu dương, Văn sơn, Khâu Bắc được thăng Chiêu võ thượng tướng quân, Chiêu dương Tử. Được cử sang Hồi cương, giúp Thái tử hồi khởi binh chống Mông cổ. Hiện Hồi cương đã chiếm lại được nửa lãnh thổ. Gặp tiểu thư Kha Li Đa, ái nữ của đạo sư Sa Đat Hat San. Trai tài, gái sắc gặp nhau, cảm nhau là sự thường. Đạo sư Hát San bằng lòng gả Kha Li Đa cho Cao Mang. Về phần Cao Mang, tuy đã vào chốn Không môn, nhưng tu có hằng vạn phép khác nhau. Tu dăm ba bữa, tu mấy tháng, tu mấy năm cho tâm trong sáng, rồi trở về tục là lẽ thường. Hôm nay già này đứng ra làm lễ thành hôn cho hai trẻ Cao Mang, Kha Li Đa.

Cao Mang, cùng Kha Li Đa được 10 thiếu nữ theo đạo Hồi phò từ cửa vào đại điện hành lễ, rồi ngồi trên ghế cạnh Yết Kiêu, Chân Phương.

Trung vũ đại vương tiếp:

– Người đứng thứ tư trong Thiên trường Ngũ ưng là Đại Hành. Đại Hành là một hiếu tử hiếm có. Được phát lộc Phật, tuy đói, nhưng nhịn ăn mang về cho mẹ, trên đường về nhà ngất xỉu vì đói. Được già này tuyển làm gia tướng. Dần dần nhờ tài trị mã, có chiến công được thăng lên hàm Đô thống, thống lĩnh đội kỵ mã Long biên. Tước Côi sơn Nam. Dự trận diệt thổ phỉ Thân Long Vân. Theo sứ đoàn hộ tống Tô lịch thất liên sang Hoa lâm, lập được nhiều công, thăng lên Trấn viễn thượng tướng quân, tước Côi sơn Tử. Hiện được Mông cổ tuyển dụng phong hàm Phi mã đại tướng quân. Thống lĩnh cấm quân Yên kinh. Khi phải theo sứ đoàn sang Mông cổ, bịn rịn vì có mẹ già cô độc. May mắn thay có cô bé 13 tuổi, tên Võ Cẩm Nhãn, bán bánh tôm bên bờ Hồ Tây tình nguyện nuôi mẹ già cho. Suốt thời gian qua, mỗi tháng một lần, lão phu sai quan Trưởng sử thăm hỏi, thì mẹ của Cao Mang đều khen Cẩm Nhãn phụng dưỡng cơm, nước hiền thục như một dâu thảo. Nay Cẩm Nhãn đã 16 tuổi, hoa trổ sắc xinh đẹp, dịu dàng. Hưng Ninh vương là sư phụ của Cao Mang, khuyên Cao Mang cưới Cẩm Nhãn làm vợ. Già này đứng ra chủ hôn cho đôi trai gái trung hiếu vẹn toàn.

Nhạc cử bài Đại hỷ. Cao Mang, Cẩm Nhãn từ ngoài điện, năm cặp nam nữ đi hai bên dẫn vào. Mọi người đều dồn mắt nhìn Cẩm Nhãn. Đúng như Thái sư Thủ Độ nói: Cẩm Nhãn tuổi còn quá trẻ, hoa mới trổ sắc, nét mặt tươi hồng của cô gái quê. Lưng ong, chân dài, ngực nở.

Thúy Hồng nói sẽ vào tai Vương Chân Phương:

– Cẩm Nhãn đẹp thực, kém gì em.

Kha Li Đa khen nức nở:

– Da Cẩm Nhãn trắng mịn, mũi cao, mắt phượng. Không ngờ anh chàng Đại Hành lại có vợ đẹp như vậy.

Thái sư Thủ Độ tiếp:

– Bốn cặp trai gái hướng bàn thờ lễ Quốc tổ, Quốc mẫu, liệt tổ Đông A lậy tám lậy.

Lễ tất.

Thủ Độ hô:

– Được rồi. Bây giờ hướng Thượng hoàng lạy bốn lạy, tạ ơn quang lâm tác thành.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Được rồi. Các con hướng Trung vũ đại vương là trưởng tộc, hành lễ. Vợ chồng hướng vào nhau lậy 3 lậy, gọi là phu thê giao bái.

Thái sư Thủ Độ hài lòng:

– Bây giờ các con là vợ chồng rồi, vợ chồng đối với nhau trong là tình, ngoài khuyến khích, giúp đỡ nhau nhau trung với nước, hiếu với dân.

Tiếp theo, các vương hầu, tặng quà cho bốn cặp vợ chồng.

Từ đầu đến giờ, Thiệu Long hoàng đế ngồi im. Bây giờ nhà vua mới lên tiếng hỏi:

– Địa Lô đâu?

Tổng Thái giám Đại Lực đáp:

– Tâu, Văn Bắc thượng tướng quân vì có đại tang nên không thể đến dự tiệc cưới. (*)

* GHI CHÚ: Luật đời Trần, đời Lê, đời Nguyễn rất trọng chữ hiếu. Khi một vị quan có đại tang, thì phải cáo quan về cư tang. Sau ba năm mới được trở lại. Nếu vị quan nào có đại tang mà vẫn ngồi ở chức vụ, quan Ngự sử đại phu biết được đàn hặc, tâu lên sẽ bị cách chức. Ngay hồi 51, vì chú ruột chết, Địa Lô đang trên đường đi sứ, phải trở về cư tang. Hết tang mới lên đường.
Đại tang ba năm gồm: thầy, cha mẹ đẻ, cha mẹ chồng, chồng, vợ cả, con dâu cả.
Trọng tang một năm gồm: cha mẹ vợ, chú thím, bác, vợ bác; anh em ruột (chị dâu, em dâu), chị em ruột (chưa xuất giá).
Sơ tang gồm cô (nếu đã xuất giá), cậu. Người xưa đã đặt thành thơ để dễ nhớ:
Cô đi chín tháng,
Thím về một năm.
Chồng cô, vợ cậu, chồng dì,
Trong ba người ấy chết thì không tang.
Trong thời gian đại tang: không được cưới vợ, lấy chồng, không được dư đám cưới, không được dự tiệc vui mừng, hát xướng. Bởi vậy mới có tục cưới chạy tang.

Nguyên Địa Lô xuất thân là quan Trưởng sử phủ Thái tư Hoảng. Hai người ngang tuổi nhau, Địa Lô lại nhiều tài, nên giữa chúa tướng và thuộc hạ trở thành tương đắc. Ba năm trước, vì quốc sự, Thái tử phải cho Địa Lô lên đường theo sứ đoàn. Khi lên ngôi, nhà vua vẫn tưởng nhớ tới người thuộc hạ tài ba mà tính tình lại tinh, minh, mẫn, cán. Nay không thấy thuộc hạ cũ, nhà vua lên tiếng hỏi.

Nhà vua kinh ngạc:

– Song thân Địa Lô từ trần từ lâu rồi. Vậy đại tang ai? Sư phụ chăng?

Vương phi Ý Ninh giải thích:

– Nguyên Địa Lô có thề non, hẹn biển đính ước với Thần võ, Trung liệt, Trấn quốc, Linh anh công chúa Lý Như Lan. Công chúa Như Lan mới hoăng. Địa Lô coi Như Lan như vợ, nên đã làm lễ phát tang mấy hôm trước.

Nhà vua than:

– Địa Lô thực là người đa tài, đa năng, trời lại cho thân hình mười phần tươi đẹp, thì gặp gian truân trên tình trường cũng là sự thường. Trai không vợ như nhà không cột. Mong Thái sư tuyển cho Địa Lô một giai nhân khác.

Trung vũ đại vương Thủ Độ đã biết chi tiết mối tình của Địa Lô với Như Lan. Vương chợt nhớ: mối tình này hơi giống mối tình của vương với Linh Từ quốc mẫu. Hồi còn niên thiếu vương cùng người chị họ Trần Kim Dung, từng tư tình đính ước [xem: Anh hùng Đông A dựng cờ bình Mông]. Sau Kim Dung bị ép gả cho thái tử Sảm, rồi thái tử trở thành vua Lý Huệ Tông. Dù bà Kim Dung đã có hai con với nhà vua, một là vua Lý Chiêu Hoàng, hai là Thuận Thiên công chúa, gả cho An sinh vương Liễu. Mặc dù Thủ Độ là một đại quan, không thiếu gì những mỹ nhân xinh đẹp sẵn sàng dâng hiến, trong vương phủ lúc nào cũng có hằng chục cung nga, tỳ nữ xinh đẹp. Nhưng ông vẫn trung thành với Kim Dung. Khi vua Lý Huệ tông băng, ông với Kim Dung tái hồi. Vua Trần Thái tông thấy bà Kim Dung đã làm hoàng hậu rồi làm thái hậu, không thể để bà làm vương phi Trung vũ đại vương. Nhà vua mới ban chế tôn bà làm Linh Từ quốc mẫu. Suốt cuộc đời, Thủ Độ chỉ có mình bà Kim Dung, không nạp bất cứ thứ phi, thứ thiếp nào.

Vương lên đài nói:

– Địa Lô là đấng tài hoa nhất Đại Việt. Y lại là một thứ nòi tình hiếm có, nên không tới dự lễ cưới này. Thế nhưng hôm nay là ngày đầu tiên trình bày một điệu múa Trăm Hoa mà y không có mặt thực đáng tiếc.

Vương chỉ vào Chiêu Minh vương, Chiêu Văn vương:

– Hôm nay là ngày triều đình làm lễ cưới cho bốn đại tướng có nhiều huân công với tắc. Từ ngày bản triều tiếp nối chính thống, ngoài chống ngoại xâm, trong lập nền nội trị, an dân, khuếch trương học phong, khuyến khích nghệ thuật. Đặc biệt hai vương Chiêu Minh, Chiêu Văn đã sáng tạo ra điệu múa Trăm Hoa. Nào! Xin mời nhị vương.

Chiêu Minh vương Quang Khải, Chiêu Văn vương Nhật Duật bước lên đài. Chiêu Minh vương hướng Thượng hoàng, Tuyên thái phi Mai Đông Hoa hành lễ:

– Tâu phụ hoàng, tâu Thái phi! Từ khi Thái phi nhập cung, ngọn lửa văn học, ca nhạc bùng lên toàn quốc. Thực đúng là:

Bách hoa tề phóng, Bách gia tranh minh .
(trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng).

Từ kinh thành Thăng long cho tới các trấn, các lộ, các phủ, lập ra không biết bao nhiêu phường [ngày nay là trường], không biết bao nhiêu quán văn. Không ai dám coi thường, khinh khiến ca nhi nữa. Tuy vậy phải đợi 21 năm sau, trong một dịp đặc biệt, Vũ Uy vương, vương phi Ý Ninh gặp năm thiếu nữ của phường Đông hoa. Vương huynh sớm nhận ra ích lợi của âm nhạc trong việc bảo quốc, thu nhận năm thiếu nữ vào sứ đoàn. Vương tâu xin cho các ca nhi lĩnh hàm Vệ úy, cho cha mẹ được hưởng hàm, được cấp ruộng công điền. Tin này làm rúng động toàn quốc. Nhà nhà có con gái xinh đẹp đều cho đến các phường học ca, học múa. Những thiếu nữ tốt nghiệp các phường ra đều được yêu chuộng, được công tử con nhà danh gia cầu hôn. Rồi khi Vũ Uy vương dùng Tô lịch thất tiên, Đông hoa vào việc ngoại giao thành công, 12 giai nhân được phong tước quận chúa, công chúa thì luồng gió ca nhạc bùng lên như mây trời. Tuyên Minh thái hoàng thái hậu, Linh Từ quốc mẫu, Tuyên thái phi cùng đi khắp các phường trên toàn quốc, tuyển 50 thiếu nữ sắc nước hương trời, đem về dạy dỗ, rồi chia thành 5 đội, mỗi đội 10 người. Quốc mẫu đặt tên cho các đội là đội Kim, đội Ngọc, đội Ngân, đội Ngà, và đội Thúy. Quốc mẫu giữ đội Kim. Tuyên thái phi giữ đội Ngọc. Thần nhi giữ đội Ngân. Chiêu Văn vương giữ đội Ngà. Chiêu Quốc vương giữ đội Thúy.

Vương chỉ vào Chiêu Văn vương:

– Hằng ngày thần nhi với chú Chiêu Văn nghe đội Ngân, đội Ngà ca các điệu ca Trung nguyên, múa các điệu múa Trung nguyên. Mà các điệu này có từ đời Xuân thu chiến quốc, như Ly tao của Khuất Nguyên, Dương xuân bạch tuyết của Tống Ngọc, rồi những tác phẩm của Chiêu Quân, và gần đây là của Dương quý phi. Đại Việt ta là nước văn hiến, có tiếng nói, phong hóa riêng biệt, gần đây có chữ Nôm. Anh em thần bàn nhau: tại sao ta cứ phải vay mượn của người? Vì vậy anh em đã kết hợp hết các điệu ca, điệu múa cũ của ta có từ thời Lĩnh Nam (vua Trưng), thời Đinh, thời Lê, thời Lý, bao gồm các điệu Ru em, hát Lý, hát Nghêu, hát Quan họ, hát Xẩm, dĩ chí hát Chầu văn, hát Trống quân, hát Nói (Ca trù, hay Hát Ả Đào) rồi tạo ra những giai điệu mới…

Vương ngừng lại cho cử tọa theo kịp.

Nhân Huệ vương Trần Khành Dư hỏi:

– Suốt mấy năm qua, trong dân gian, đi đâu cũng nghe hát Xẩm. Thế hát Xẩm có từ bao giờ? Ai là người sáng tạo ra?

Chiêu Văn vương trả lời:

– Điệu hát Xẩm dường như có trước thời Lĩnh Nam. Bởi trong sử có ghi: hồi còn thơ ấu, Bắc bình vương Đào Kỳ cùng sư tỷ là Hoàng Thiều Hoa qua sông Hồng, thì Long biên công Nguyễn Tam Trinh giả làm người lái đò đã hát Xẩm cho hai vị nghe. Lại khi Bắc bình vương dạo chơi cố đô Cổ loa, khi qua sông, gặp Chu Thổ Quan cũng hát Xẩm cho nghe. Từ thời Lĩnh Nam đến giờ trải trên ngàn năm, thuật hát Xẩm đã biến đổi đi phong phú vô cùng. Hơn hai chục năm trước, Tuyên thái phi dùng điệu hát Xẩm mà được Thượng hoàng sủng ái. Rỗi gần đây, năm nàng Đông hoa dùng thuật hát Xẩm được Vũ Uy vương tuyển theo sứ đoàn mà rồng mây gặp hội. Vì vậy khắp dân gian đều học điệu hát này. Kết lại hát Xẩm không rõ ai là người sáng tạo ra, thời gian sáng tạo trước khi vua Trưng khởi binh. Nhưng gần đây nhờ Vũ Uy vương cùng Tô lịch thất liên, Đông hoa ngũ tuyệt đặt thành hệ thống, và làm cho quần chúng đều hưởng ứng (*).

* Xin đọc phần ghi chú ở cuối Hồi 79.

Chiêu Minh vương tiếp:

– Điệu múa Trăm Hoa mà thần nhi với hai chú Chiêu Văn, Chiêu Quốc sáng tạo để ca tụng cảnh đất nước thái hòa, âu ca sau khi đuổi giặc Mông cổ. Điệu múa bao gồm chín màn.

– Màn thứ nhất mang tên Khai hội hay giáo đầu. Mục đích giới thiệu chủ đích của vũ điệu Trăm Hoa. Như hôm nay chủ đích mừng đám cưới của bốn anh hùng.

– Màn thứ nhì mang tên Phong điều, vũ thuận. Ca tụng đức của triều đình, cảm tới trời nên mưa thuận gió hòa.

– Màn thứ ba mang tên Bình minh trên đồng lúa chín. Ca tụng dân chúng chăm chỉ chồng cấy, trúng mùa liên tiếp mấy năm qua.

– Màn thứ tư mang tên Đêm trăng đập lúa.

– Màn thứ năm mang tên Mục đồng hoan ca.

– Màn thứ sáu sẽ có tên tùy mục đích. Như giỗ tổ Hùng vương thì mang tên Tế quốc tổ. Như giỗ vua Trưng thì mang tên Lĩnh Nam. Còn hôm nay để mừng cho bốn cặp anh hùng, liệt nữ thành hôn. Mà bốn anh hùng là năm người kết bạn như Đào Viện kết nghĩa của Tam kiệt đời Tam quốc: Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi.

– Màn thứ bẩy mang tên Bốn mùa bình an. Có bốn bài khác nhau, tùy theo mùa lúc trình diễn. Như hôm nay là mùa Xuân thì trình diễn bài mùa Xuân vạn hoa nở.

– Màn thứ tám mang tên Tạ ơn tiên tổ. Màn này để tạ ơn Liệt tổ Đại Việt, phù hộ cho con cháu được hưởng cảnh thái bình.

– Màn thứ chín mang tên Hồi cung, là màn cuối, ca nhi, vũ công kính chào thính khán giả.

Nhân Huệ vương Khánh Dư góp lời:

– Thì ra thế. Trong suốt ba tháng qua, đến quán văn hay phường nào cũng nghe nói đang luyện cho ca nhi múa, hát điệu Trăm Hoa, nhưng họ nói chưa thể trình diễn. Hỏi tại sao vậy? Họ đáp chưa được phép.

Chiêu Văn vương đáp:

– Sau khi soạn ca khúc chế điệu múa, chúng tôi luyện cho 5 đội Kim, Ngọc, Ngà, Ngân, Thúy thành thạo rồi triệu hồi các phường trưởng, quán trưởng tới dạy cho họ. Lại dặn rằng: phải đợi khi nào chúng tôi cho trình diễn dâng Thượng hoàng rồi, thì họ mới được trình diễn cho dân chúng xem. Bây giờ tôi cho trình diễn tại đây, thì ngay chiều nay, các phường, các quán đồng loạt ra mắt dân chúng.

Nói dứt vương dơ tay vẫy. Lê Lựu là Nhạc quan phủ Chiêu Văn bước đến ngồi bên cái trống cái, hai tay cầm hai cái dùi sơn son thiếp vàng, múa tròn trước ngực rồi đánh ba tiếng. Đội nhạc hoàng cung hơn trăm nhạc công cùng tấu nhạc. Bốn bức màn trên sân khấu kéo lên cao, trên sân khấu, đội nhạc phủ Chiêu Văn đứng quay lưng vào nhau thành vòng tròn. Mười nàng mặc quần gấm mầu xanh lợt, áo mầu xanh sẫm, dây lưng hai lớp mầu đỏ, vàng. Khăn trên đầu cũng mầu xanh. Dầy mầu hồng lợt. Quần, áo, khăn, dầy đều thêu kim tuyến lóng lánh. Trên vai mỗi nàng đều có thanh gỗ. Hai đầu thanh gỗ là hai cái đèn hình hoa sen hồng.

Chiêu Văn vương hướng Thượng hoàng nói:

– Tâu Phụ hoàng đây là màn thứ nhất, khai hội, còn gọi là giáo đầu. Mười ca nhi trong đội Ngà đang đứng trên đài.

Lê Lựu cầm dùi đánh ba tiếng trống, các nàng Ngà cùng khom gối chắp tay vái khán giả rồi bước về trước ba bước, rồi lùi trở lại, cùng cất tiếng hát theo điệu hát Xẩm. Lời ca ngụ ý:

Hôm nay là ngày lành, Thánh hoàng giá lâm, mừng cho anh hùng, giai nhân thành đôi giai ngẫu. Anh hùng từng xông pha vào muôn vàn mũi tên Mông cổ, quyết chiến đuổi giặc. Anh hùng xứng đáng được Xã tắc lao tưởng, được thành hôn với những giai nhân xinh đẹp như tiên. Chúc anh hùng, giai nhân trọn đời sắt cầm hòa hợp.

Lê Lựu đánh ba tiếng trống, mười ca nhi đội Thúy từ bốn góc đài cùng cất tiếng hát hòa với ca nhi đội Ngà. Ca nhi đội Thúy mặc quần gấm mầu tím nhạt, áo lụa, khăn, dầy mầu tím sẫm, dây lưng mầu vàng, trắng quấn lấy nhau. Đèn trên lưng hình hoa sen trắng. Lên tới giữa đài, đội Thúy từng người xen vào với đội Ngà. Họ cùng ca lại điệp khúc trên một lần nữa.

Chiêu Văn vương hướng Thượng hoàng:

– Tâu phụ hoàng hết màn thứ nhất. Bây giờ tới màn thứ nhì, sẽ do cả năm đội Kim, Ngọc, Ngân, Ngà, Thúy cùng trình bầy.

Cứ như vậy, khán giả say mê theo dõi 9 màn, thời gian dài hơn 2 giờ trôi thực nhanh. Bởi vì: một là 50 ca nhi đều thuộc loại sắc nước hương trời. Hai là giọng ca thanh thoát, mượt mà, ngọt ngào. Ba là lời ca nói lên cảnh thanh bình, thịnh trị, nhất là ca tụng tình huynh đệ gắn bó của Thiên trường ngũ ưng trong đời sống bình nhật, trong việc xả thân giữ nước.

Nghe, xem hết chín màn, Thượng hoàng ban chỉ:

– Đây là tâm, là huyết của Khải nhi, Duật nhi. Dòng họ Đông A trị vì đất nước lấy dân làm gốc. Ngay chiều nay, các con hãy đem cả năm đội ra chợ Tây nhai trình diễn cho dân chúng xem. Ngày mai trình diễn ở Văn miếu, tiếp theo trình diễn ở cả năm cửa thành.

Tiệc bắt đầu.

Thiên Cảm hoàng hậu là chúa Hoàng thành, đứng chủ tiệc hôm nay. Hậu thân dẫn bốn cặp vợ chồng mới cưới đi khắp các bàn mời cử tọa. Khi tới bốn bàn dành cho phủ Hưng Ninh vương gồm vương, vương phi, hai thứ phi và các quận chúa, thế tử. Trong bốn bàn có một bàn cỗ chay dành cho vương. Thế nhưng hậu kinh ngạc khi thấy vương gắp cả thịt cá, cả món chay mà ăn. Hậu hỏi:

– Anh tu Thiền mà ăn thịt, ăn cá thì sao thành Phật được?

Mọi người lắng tai nghe xem vương trả lời sao.

Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung cười thản nhiên:

– Phật là Phật! Anh là anh! Anh không cần thành Phật. Phật không cần thành anh! Hậu chẳng nghe cổ đức nói: “Văn Thù là Văn Thù! Giải thoát là giải thoát” đó sao?

Tiệc tàn, Hoàng hậu cho bốn cỗ xe song mã đưa bốn cặp vợ chồng về nhà riêng. Động phòng.

Dã Tượng dặn Yết Kiêu, Cao Mang, Đại Hành:

– Sáng mai, các em hội tại chùa Chiêu thiền (còn gọi là chùa Láng), chúng ta cùng thăm Địa Lô.

Còn chư vương, hầu theo chỉ dụ của Thượng hoàng, thay y phục, tản ra khắp Thăng long xem các phường, các quán văn diễn ca điệu múa Trăm Hoa.

Sáng sớm hôm sau, Dã Tượng cùng Thúy Hồng đi trên chiếc xe tứ mã tới chùa Chiêu thiền, cũng đúng lúc ba cặp Yết Kiêu Chân Phương; Cao Mang Kha Li Đa; Đại Hành Cẩm Nhãn tới nơi.

Kha Li Đa hỏi Thúy Hồng:

– Bọn em đều đi xe song mã, duy anh chị thì đi xe tứ mã. Chắc để chở gì đây?

Thúy Hồng trêu:

– Để chở mấy con lợn quay mang đến nhà Địa Lô cúng Như Lan, rồi mời Kha Li Đa xơi.

Kha Li Đa trêu lại Thúy Hồng:

– Người Cao ly nuôi chó như mình nuôi gà để ăn thịt. Lát nữa mình mua mấy con chó thui mang đi cúng Như Lan, làm rựa mận cho ni sư Thúy Hồng thưởng thức.

Nghe Thúy Hồng đem lợn ra trêu Kha Ki Đa, vì Kha Ki Đa theo đạo Hồi, kiêng thịt lợn; ngược lại Kha Li Đa đem thịt chó trêu Thúy Hồng, vì Thúy Hồng là Phật tử thuần thành, kiêng ăn thịt chó; Khâu bắc Bá Dã Tượng vốn là người nghiêm nghị, Bá sợ rằng lát nữa tới nhà Địa Lô, vợ với em dâu đùa nhau sẽ làm Địa Lô đau lòng. Bá nói:

– Nhà Địa Lô ở bên Gia lâm. Nếu chúng ta đi một lúc bốn xe thì qua sông lâu lắm; do thế anh mới dùng xe tứ mã. Vậy các em gửi xe tại chùa, chúng ta cùng đi chung một xe.

Khi xe tới bến Bắc Ngạn, Thúy Hồng chỉ vào quán văn Thiên thư:

– Kia là quán văn Thiên thư. Chúng ta ai cũng có quyền vào. Duy ông chồng voi đồng quê của em thì không! Vì vào đó ruột voi sẽ đứt ra tùng khúc một vì tiếc nàng. Hỡi ơi! Nàng ở đâu rồi!

Kha Li Đa không biết truyện Thanh Nga tuyển phu tại quán này ba năm trước, rồi Dã Tượng trúng cách, nên ngạc nhiên:

– Chị ơi! Sao vậy?

Thúy Hồng cầm cây nhị kéo, rồi cất tiếng hát theo điệu Xẩm:

Xưa kia nói nói, thề thề!
Bây giờ bẻ khóa trao chìa cho ai?
Bây giờ nàng đã nghe ai,
Gặp anh ghé nón, chạm vai chẳng chào?
Bây giờ nàng ở phương nào,
Anh về chốn cũ, biết bao đau lòng.

Bị vợ trêu, Dã Tượng im lặng, trong tâm tưởng hiện ra những hình ảnh đầu tiên gặp Thanh Nga tại quán văn Thiên thư. Nay nàng ở đâu? Liệu có hạnh phúc không? Tuy đã có vợ, vợ là đấng tài hoa, sắc nước hương trời, nhưng trong tâm Bá cũng đau nháy một cái. Chiêu dương Tử Cao Mang thấy Thúy Hồng trêu chồng, nhưng không biết đến tâm sự của chồng: vẫn còn thương nhớ Thanh Nga. Tử từng là tiểu sa di, nên hiểu rõ người anh cả. Tử chỉnh bà chị dâu:

– Thanh Nga đâu có bỏ anh Dã Tượng? Nhà Phật dạy chúng ta: tất cả đều vô thường. Mới hôm nào Công chúa Như Lan còn là một thiếu nữ tươi như hoa, bác học đa năng, võ công tuyệt đỉnh, mà bây giờ hồn ở đâu? Xác ở đâu? Tất cả đều là vô thường. Cái thân chúng ta đều là thân xác vô thường cả. Rồi đây, chúng ta cũng trước sau đều phải về với cát bụi. Thanh Nga tuyển phu, anh Dã Tượng trúng cách, mà có bao giờ anh ấy chú ý đến cô nàng đâu? Cái hồi chị với anh Dã Tượng đóng vai vợ chồng sang Tống, thì nhân duyên chị là vợ anh ấy đã manh nha. Như ông Thủ Độ nói: đường xa diệu vợi, trai thì hùng vĩ, gái thì đẹp như hoa nở, dọc đường ắt đã thành hảo sự rồi. Nhưng sự thực đêm qua anh chị mới thành hảo sự. Bây giờ chị là vợ của anh ấy, thì nhắc truyện cũ làm gì? Ghen ư? Ích gì nữa mà ghen? Để yên cho Thanh Nga làm nhiệm vụ Tây Thi.

Lời nói của Cao Mang tuy giản dị, nhưng cũng kéo Dã Tượng ra khỏi cái u uất. Còn Thúy Hồng cảm thấy mình thực vô duyên, đã gây ra khẩu nghiệp giữa ngày tân hôn nồng thắm. Trong lòng nàng sám hối.

Xe đi khoảng nửa giờ thì rẽ vào ngôi làng của Địa Lô. Vừa tới cổng làng, Cẩm Nhãn nói với hoàng nam gác cổng:

– Anh vào báo với Đại tư rằng có Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân, Khâu Bắc bá muốn vào làng thăm Văn Bắc thượng tướng quân, Văn sơn Tử.

Nghe báo danh, hoàng nam cúi rạp người xuống hành lễ, rồi cầm dùi đánh vào mõ ba tiếng. Khoảng nhai dập miếng trầu, Đại tư, Câu đương khăn áo chỉnh tề ra chào. Cẩm Nhãn chỉ từng người giới thiệu. Đại tư nói:

– Mấy hôm trước Văn Bắc thượng tướng quân trở về thăm quê. Cả xã chúng tôi cùng tới mừng. Khi đi thì tướng quân chỉ là Đô thống thôi. Sau ba năm lo quốc sự tướng quân được phong hàm Văn Bắc thượng tướng quân, Văn sơn Tử, thực hân hạnh cho làng chúng tôi. Nhưng tướng quân lại vô cùng buồn rầu vì phu nhân qua đời. Tướng quân nhờ chúng tôi mời sư cụ làm chay cho phu nhân. Hiện sư cụ cùng các sư ông đang tụng kinh tại nhà của tướng quân.

Đại tư, Câu đương đi trước dẫn đường. Khu nhà của Địa Lô khá đồ sộ khang trang. Ngôi nhà chính mái lợp ngói đỏ, tường bằng đá xanh, có 5 gian. Trái bằng gạch, trong vườn trồng rất nhiều hoa. Phía sau còn hai căn nữa. Trước nhà dựng một cái rạp. Trong rạp có bàn thờ Phật, cạnh bàn thờ Phật là bàn thờ Như Lan, một tấm hình Như Lan vẽ trên lụa sống động như người sống.

Trong nhà rạp, khá đông người. Hầu hết là người trong xã, do Đại tư gọi đến giúp việc cho Địa Lô. Trước bàn thờ Phật, một vị sư cao niên ngồi bên cái mõ. Phía sau bốn nhà sư trẻ hơn. Tất cả đang tụng kinh. Cao Mang nhận ra các sư đang tụng kinh A Di Đà, giọng trầm, đều đều. Khi kinh A Di Đà hết thì chư tăng lại tụng kinh Bát Nhã rồi ngừng.

Địa Lô chạy ra đón khách:

– Em xin đa tạ bốn anh, bốn chị đã đến thăm em.

Thúy Hồng cầm cây nhị đến trước bàn thờ Như Lan kéo thành những âm thanh thê lương, rồi cất tiếng ca não nùng:

Cái tình là cái chi chi?
Thương nhau, thương cả đường đi lối về.
Chim khuyên đậu núi non kề,
Khóc thương, thương khóc gửi về cõi âm.
Đêm đêm anh ngắm sông Ngân,
Đau lòng xót ruột ướt khăn, lệ nhòa.
Nếu như khoảng cách không xa,
Hồn cho anh biết, anh về thắp hương.
Nàng nghe tiếng khóc tỏ tường,
Thì nàng trở lại lấy vàng mà tiêu.

Thúy Hồng kinh ngạc, vì khi nàng vừa kéo nhị, thì có một cô bé xinh xinh, tươi như hoa, đánh trống mảnh hòa theo. Tiếng hát của Thúy Hồng làm bao nhiêu người có mặt đều nhỏ lệ. Trời tối dần, chư tăng cũng như người trong làng cáo biệt ra về. Dã Tượng hô các em tiễn chư tăng. Trong nhà rạp chỉ còn lại một thiếu nữ, tuổi khoảng 13-14, tóc dài, óng mượt. Địa Lô giới thiệu:

– Đây là bé Ngọc Hồng. Người hàng xóm của em. Chính em là thầy khai tâm dậy cho bé hồi mười năm trước. Khi em đi vắng thì cha mẹ với Ngọc Hồng trông coi nhà cho em.

Chỉ thoáng nhìn Ngọc Hồng, với kinh nghiệm của người từng trải buôn bán trong giới bình dân, Cẩm Nhãn thấy dường như giữa cô bé với Địa Lô có một cái gì khác khác ngoài tình thầy trò. Nàng mở to mắt nhìn Ngọc Hồng từ đầu đến chân, rồi nghĩ thầm:

– Cái anh Địa Lô này thực vô tình như anh Đại Hành. Hồi hồi trước mình tuy mới 13 tuổi, nhưng đã yêu anh ấy, mà bây giờ sau ba năm, phải chờ Thái sư Thủ Độ nói toẹt ra, anh ấy mới biết tình yêu của mình. Cứ như đôi mắt của cô bé này, thì cô ấy cũng yêu Địa Lô, mà Địa Lô không biết. Mình phải can thiệp mới được.

Nàng hỏi Ngọc Hồng:

– Thầy Địa Lô nhiều tài quá. Không biết thầy dậy em những gì?

Ngọc Hồng mở đôi mắt đen như hạt nhãn long lanh nhìn Địa Lô:

– Thưa chị, thầy Lô dạy chữ cho em, thầy dạy em hát, dạy em đánh đàn.

– Em bắt đầu học thầy Lô lúc mấy tuổi?

– Dạ 6 tuổi. Đến năm em 10 tuổi thì thầy đi sứ, em lại học chữ với thầy Năng trong làng. Còn đàn hát thì em vẫn tự luyện.

– Ban nãy em đánh trống mảnh hay quá. Em thử hát một bài cho chị nghe nào!

Ngọc Hồng chỉ Thúy Hồng:

– Em xin hát lại bài Công chúa Thúy Hồng đã hát, nhưng đổi lời đi một chút cho hợp truyện tình của thầy với cô Như Lan. Cứ như thầy Lô thuật, thì bọn Thị vệ Mông cổ trở về báo rằng chúng đã giết được cô. Em cho rằng chúng không giết được cô, mà cô đã chạy thoát. Nếu quả chúng giết được cô, chúng đã đem đầu cô về tấu trình. Em tin cô vẫn còn sống. Biết đâu cô chẳng về nước tìm thầy?

Nói rồi cô bé đến ngồi trước cây đàn bầu, mắt mơ màng nhìn lên bàn thờ, tay cô bật mấy cái, tiếng đàn buồn man mác kéo dài. Thúy Hồng cầm cây nhị kéo, hòa âm với tiếng đàn bầu. Cô bé cất tiếng hát:

Thương em, lệ nhỏ đôi hàng,
Công anh dan díu với nàng bấy lâu.
Bây giờ nàng lấy chồng đâu?
Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng.
Năm trăm anh hóa cho nàng,
Còn năm trăm nữa giải oan lời thề.
Xưa kia nói nói thề thề,
Bây giờ bẻ khóa trao chìa cho ai?
Bây giờ nàng đã nghe ai?
Gặp anh ghé nón chạm vai chẳng chào?

Mọi người đều kinh ngạc, vì giọng cô bé mượt mà, mấy âm phải lên cao, cô vượt ra dễ dàng. Thúy Hồng khen:

– Giọng em tốt thực. Em lại thông minh, từ bài hát của chị, em biến đổi đi đúng với truyện tình của ông thầy Lô.

– Đa tạ cô đã quá khen em. Em xin hát tiếp:

Khóc em, lệ nhỏ đôi hàng,
Công anh dan díu với nàng bấy lâu.
Bây giờ hồn ở nơi nao?
Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng.
Năm trăm anh hóa cho nàng,
Còn năm trăm nữa giải oan lời thề.
Chim khuyên đậu núi non kề,
Nàng mà còn sống, nàng về thì thôi!
Hay là khuất núi đi rồi,
Nàng cho anh biết, anh về thắp hương.
Nàng nghe tiếng khấn tỏ tường,
Thì nàng trở lại lấy vàng mà tiêu.

Mọi người mơ mơ màng màng theo tiếng hát não nuột của cô bé. Còn Địa Lô thì nước mắt đầm đìa. Bỗng Cẩm Nhãn chỉ lên bàn thờ Như Lan:

– Các anh, chị có thấy gì khác không?

– !?!

– Con gà trống luộc trên cái đĩa đi đâu mất rồi? Bốn phẩm oản cũng không còn trong đĩa nữa.

Địa Lô kinh hoảng:

– Không lẽ cáo, hay mèo tha đi chăng?

Cô bé Ngọc Hồng xua tay:

– Thưa thầy! Nhà này không nuôi mèo. Hàng xóm cũng không nuôi mèo. Trong làng này làm gì có cáo?

Dã Tượng quan sát bàn thờ rồi lắc đầu:

– Nếu cáo hay mèo tha con gà này thì phải có vết chân trên bàn thờ chứ? Cáo chỉ có thể tha con gà, chứ đâu tha cả bốn phẩm oản. Nhất định là người rồi. Còn như người thì chúng ta 10 đứa tại đây phải thấy chứ?

Yết Kiêu chạy vòng quanh bàn thờ, hít hít, thở thở rồi lắc đầu kinh hoảng:

– Nếu người thì phải là một đại cao thủ, mới hành động mau như vậy! Người này là phụ nữ, vì thoang thoảng có hương thơm nước hoa Trung nguyên giống như Chân Phương. Dường như người này muốn trêu ghẹo Lô đệ đây. Chúng ta cứ chờ, họ sẽ xuất hiện. Hay là hồn ma Như Lan?

Cẩm Nhãn có hơi sợ, nép vào sau chồng:

– Đúng rồi, hồn chị Như Lan hiện về ăn gà, ăn oản!

Thường ngày Kha Li Đa hay trêu Địa Lô. Nhưng hôm nay thấy Địa Lô buồn quá, khóc sưng mắt, thì cô gái Hồi lại an ủi:

– Người chết không sống lại được. Chị Như Lan chết đi, theo đạo Phật thì sau 49 ngày sẽ đầu thai. Anh Địa Lô cứ chờ 13 năm sau, chị Như Lan thành một thiếu nữ, lại tái hợp với anh. Bây giờ anh 23 tuổi, 13 năm sau anh mới 36 tuổi, chị Như Lan là cô gái 13 tuổi, đẹp đôi chán.

Ngọc Hồng xin lỗi:

– Xin quý khách ngồi chơi. Em xin xuống bếp làm cơm mời khách.

(Còn tiếp Hồi 79)

Share this post