Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 80 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 80 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ TÁM MƯƠI
Hán Việt giai huynh đệ
(Tiếp theo)

Dã Tượng hỏi:

– Dương Đại Uyển là người thế nào?

Kiêu kị thượng tướng quânNguyễn Văn Lập trình bầy:

– Y xuất thân từ giới võ lâm. Bản lĩnh của y nức tiếng Quan trung. Y dùng kiếm. Cạnh y còn Đặng Văn, nổi tiếng đệ nhất Thần quyền vùng Quan trung. Trong các tướng Tống vùng Tứ xuyên không ai địch nổi hai tên này. Tài dùng binh của Dương bình thường thôi.

Đô đốc Triệu Tử Minh tiếp:

– Tôi đã cho Tế tác quan sát các trại quân của y: cả hai cánh quân đều dựa vào ba mặt đồng lầy. Còn thủy đội vận tải trên Mân giang gồm 50 con thuyền lớn, y cho thuyền đậu thành hai hàng dài hai bên sông. Không có quân hộ vệ. Ban đêm lính thủy quân lên bờ ngủ, dưới mỗi thuyền chỉ có hai binh ngủ lại mà thôi.

Địa Lô hỏi:

– Thưa Đô đốc, xin Đô đốc cho biết Tế tác của mình làm thế nào mà biết chi tiết tình hình của bọn Uyển, Văn.

– Bọn Đại Uyển đi đến đâu thì tràn vào làng xóm bắt tráng đinh làm phu vác lương thảo, chẻ củi, phụ hỏa đầu quân. Chúng gọi là Lao binh. Lợi dụng, tôi cho Tế tác lẫn vào lao binh. Hiện hai đạo quân bộ, một đạo thủy của y , mỗi nơi tôi có khoảng 50 Tế tác.

Vũ Uy vương quyết định:

– Vì quân gốc Mông cổ đều ở hai đạo Mật Lý Hỏa Giả, với Mông Ca. Còn đạo của bọn Uyển, Văn toàn là quân của Tống tại Ích châu đầu hàng. Mỗi Thiên phu, có một Thiên phu trưởng và 10 Bách phu trưởng người Mông cổ chỉ huy, vì Mông cổ không hoàn toàn tin các tướng Tống mới đầu hàng.

Trước hết phải đánh chiếm hết lương thảo mà Uyển đã đem xuống thủy đội.

Sau đó thừa thắng ta chiếm Đông sơn, Mi sơn, đoạt lại Thành đô. Bấy giờ dù muốn, dù không, Mông Ca phải rút quân từ mặt Hợp châu, Ba trung về cứu Thành đô.

Vương nhấn mạnh:

– Binh pháp quan trọng nhất là biết mình, biết người. Tên Dương Đại Uyển, Đặng Văn này khinh thường lực lượng Tống tại Giang an, nên y không cho quân hộ tống đội vận chuyển trên sông. Y lại không biết Tống có viện binh. Đối với dân chúng, binh tướng Tống, ta hãy phao rằng hai hiệu binh Văn Bắc, Thiệu Hưng là quân Tống ở vùng Hành sơn tiếp viện. Còn tôi là Hành sơn vương. Ta không nên chính diện chia quân đánh vào hai nơi đóng quân của y là Thanh thần với Nga biên. Đánh hai nơi này, ta phải hy sinh không ít, nhất là lâm cảnh người Hán giết người Hán. Lợi dụng binh tướng của y đang rã ngũ, ta dùng tâm chiến kêu gọi họ trở về với ta. Ta đánh cảm tử.

Vương hỏi Địa Lô:

– Văn Bắc thượng tướng quân! Mình có mang theo nhiều Hủ cân nhuyễn cốt tán không?

– Khải vương gia có. Số thuốc thần mang theo có thể đầu độc được 10 vạn quân.

Vũ Uy vương hài lòng, nói với Nguyễn Văn Lập:

– Kiêu kị thượng tướng quân mau trở về cùng Tiết độ sứ Vương Kiên giữ chắc Điếu ngư, trình sự việc lên cho Tiết độ sứ biết.

Vương tiếp:

– Hôm nay là ngày 26. Đêm 30 là đêm trời tối, rất thuận tiện cho chúng ta hành sự. Văn Bắc thượng tướng quân trao thuốc Hủ cân nhuyễn cốt tán cho Đô đốc Triệu Tử Minh. Đô đốc chuyển thuốc này cho Tế tác của mình tại ba khu đóng quân của Đại Uyển. Chiều ngày 30 thì bỏ thuốc vào thức ăn, khiến cho binh tướng buồn ngủ, chân tay vô lực.

Vương nói chậm lại:

– Ta đánh cảm tử hai trại quân Nga biên, Thanh thần và thủy trại cùng một lúc. Trước hết trại Nga biên, y có ba Vạn phu, nhưng hao hụt trong các trận vừa qua, chỉ còn hai vạn. Dương Đại Uyển với bộ tham mưu không biết đóng tại đâu. Tuy vậy ta cũng cần người có võ công cao để đề phòng biết đâu y ở đây thì sao? Phùng sư phó đem 18 vị sư phụ, đệ tử của Thiên Phong đại sư, mang theo Vệ Đại đởm của hiệu Thiệu Hưng phục tại ngoài trại Nga biên. Chờ Tế tác đánh thuốc độc, binh tướng giặc mê man thì đột nhập trại chờ đợi. Khi thấy hỏa pháo tại trại thủy quân bắn lên thì đốt phá, khống chế, chiêu hàng bọn hàng binh Tống. Hôm sau, chỉnh bị binh mã đánh Mi sơn. Không nên đốt lương thảo. Lương thảo phải chuyển xuống thuyền chở về đây.

Vương ra lệnh cho vương phi, Thúy Hồng:

– Ngoài Phùng sư phó ra, thì vương phi, với Thúy Hồng đủ bản lĩnh trị Dương Đại Uyển, Đặng Văn. Có thể đêm 30 y không ở trại Nga biên mà ở trại Thanh thần. Từ Đông sơn tới Thanh thần không xa, lại có đường lớn, thuận tiện cho kị binh. Nếu Thanh thần bị đánh, kị binh Mông cổ chỉ cần mất hai khắc [30 phút ngày nay] là có thể cứu viện. Vương phi mang theo Vệ Đại đởm của hiệu Văn Bắc, phục ngoài trại Thanh thần. Đợi khi Tế tác đánh thuốc độc khiến binh tướng giặc mê man, thì âm thầm đột nhập trại. Khi thấy hỏa pháo từ trại thủy quân bắn lên thì đốt phá, chiêu dụ hàng binh Tống. Sau khi đoạt hết lương thảo chuyển xuống thuyền mang về Giang an, khẩn cấp chỉnh bị binh mã tiến lên đặt dưới quyền vương phi đánh Đông sơn. Đoạt được Đông sơn, thì hợp quân với Phúng sư phó tiến đánh Thành đô.

Vương nói với Địa Lô:

– Bây giờ Văn Bắc thượng tướng quân lĩnh nhiệm vụ của Trương Nghi, Tô Tần.

Vương phi gọi hai nàng Ngọc Đức, Ngọc Thiên vào trướng:

– Ngay từ khi gặp hai em ở phủ Vũ Uy, chị đã nói riêng với hai em là chị quyết định gả hai em cho hai đấng trượng phu. Hai em có nhớ không?

Ngọc Đức e thẹn:

– Em nhớ chứ! Chị nói chị gả em cho một người Việt ở Mông cổ tên Trần Mạnh Quốc. Còn Ngọc Thiên chị gả cho Vũ Cao San. Hai ông này lớn hơn bọn em bốn tuổi. Cả hai đang là Thiên phu trưởng Mông cổ.

– Bây giờ hai ông này đóng quân ở gần đây. Chị nhờ Văn Bắc thượng tướng quân đưa dâu. Hai em lên đường ngay bây giờ. Vì đường đi phức tạp, hai em phải giả trai, rồi làm như thế… như thế… Những gì chị với Thúy Hồng dạy các em về thuật bắt nai, phải ghi nhớ, chớ có quên.

– Hai anh ấy là người Việt mà cũng phải dùng thuật bắt nai ư?

Vương cười khúc khích:

– Chị Ý Ninh cũng phải dùng thuật bắt anh như bắt nai. Chị Thúy Hồng cũng phải dùng thuật bắt nai để bắt con Voi đồng quê!

Hai nàng chuẩn bị hành trang.

Vũ Uy vương gọi Sơn Cương, Sơn Trí là hai đệ tử của phái Mê linh, từng theo sứ đoàn mấy năm trước vào trướng. Vương phi Ý Ninh mời hai người ngồi rồi ôn tồn hỏi:

– Hồi chúng ta ở Yên kinh, hai em từng gặp, từng biết hai Vạn phu trưởng Mông cổ, được trao cho chỉ huy một vạn kị binh của Tây hạ. Hai em có nhớ không?

– Nhớ chứ! Hai ông đó là người Việt, giả tuân lệnh mụ Trần Hy Hà đứng sau sứ đoàn Việt. Một ông tên Trần Mạnh Quốc. Một ông tên Vũ Cao San.

Vương xuất ra năm cái thẻ bài của Cấm vệ Mông cổ, mà Đại Hành gửi cho:

– Hay lắm. Bây giờ hai ông này chỉ huy một vạn phu kị binh, đóng lại Đông sơn. Văn Bắc thượng tướng quân với hai em là đặc sứ của chúng ta, đưa dâu, âm thầm tới gặp hai ông. Khi đi đường nếu gặp quân tuần tiễu thì xưng là quân Cấm vệ Mông cổ, đưa thẻ bài này ra. Ba người đem theo một cặp chim ưng để liên lạc. Địa Lô thuyết phục hai ông ấy làm như thế… như thế… Cả năm phải lên đường ngay hôm nay mới kịp.

Địa Lô, Sơn Cương, Sơn Trí dẫn Ngọc Đức, Ngọc Thiên cầm thư lên đường.

Vương đưa mắt cho Thiên Sanh, Yết Kiêu:

– Nước sông Mân giang chảy theo chiều Tây- Đông. Đại đởm đại tướng quân, cùng Hữu thiên ngưu vệ thượng tướng quân Trần Quốc Vỹ, đem cả toán Đại đởm, hai Vệ Ngạc ngư Thiệu Hưng, Văn Bắc âm thầm phục hai bên sông. Chờ trời tối, đám binh lính thủy đội trúng độc mê man thì chiếm lấy các thuyền vận tải, nhổ neo, cho thuyền trôi về Giang an. Sau khi thuyền nhổ neo, thì đốt hỏa pháo lên cho Phùng sư phó, vương phi hành động.

Vương gọi Dã Tượng:

– Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân, đem Quân Văn sơn, Chiêu dương, phục dọc theo sông Mân giang, đề phòng lúc ta cướp lương thảo, giặc đuổi theo thì chặn lại. Sau khi lương thuyền rời bến, cho quân tiến về Thanh thần, đặt dưới quyền vương phi đánh Đông sơn.

Vương gọi các tướng của hiệu Thiệu hưng:

– Vì Thống lĩnh Trần Quốc Vỹ phải cướp lương, Phó thống lĩnh hiệu binh Thiệu Hưng là Đô thống Lý Long Đại (Trâu Đen), phu nhân là Vũ Trang Hồng thay thế chỉ huy. Đô thống Trần Long Nhất (Trâu Xanh), phu nhân là Phạm Trang Tiên đem Quân bộ ẩn vào phía Tây trại Nga biên. Đô thống Vũ Long Nhị (Trâu Điên) và phu nhân là Hoàng Trang Liên đem quân 2 ẩn vào phía Nam Nga biên. Đô thống Phạm Long Tam (Trâu Trắng) đem quân 3, ẩn vào phía Bắc Nga biên. Khi Phùng sư phó đã nhập trại giặc thành công, thì xuất hiện tràn vào trại khống chế hàng binh, tránh chém giết. Chuyên chở lương thảo của giặc xuống thuyền.

Lý Long Đại hỏi:

– Sau khi khống chế hàng binh, thì chúng tôi làm gì?

– Đặt dưới quyền Phùng sư phó đánh Mi sơn, tiến về Thành đô.

Vương gọi các tướng hiệu Văn Bắc:

– Đô thống Trần Nhị đem Quân Khâu Bắc âm thầm phục phía sau trại Thanh thần. Đợi khi vương phi nhập trại thì tràn vào khống chế tù binh. Tránh chém giết. Sau đó chuyên chở lương thảo thu được chở về Giang an. Chỉnh bị binh mã đặt dưới quyền vương phi đánh Mi sơn, Thành đô.

Vương hỏi cử tọa:

– Có ai thắc mắc gì không?

Phu nhân của Hữu thiên ngưu vệ thượng tướng quân Yết Kiêu là Vương Chân Phương đề nghị:

– Các thành Mi sơn, Đông sơn, Nga biên, cũng như Thành đô hiện do hàng tướng Tống chỉ huy những đội hàng binh trấn thủ. Khi các tướng tiến đánh thì trước tiên sai sứ vào thành, nhân danh Tống triều chiêu hàng họ. Hứa tha hết tội lỗi khi họ hàng Mông cổ. Lại cho họ giữ nguyên chức tước, phẩm hàm Mông cổ ban cho.

Hoàng Hiệp thắc mắc:

– Nếu như binh tướng ấy hàng, mà ta để họ đóng tại đất cũ, lỡ họ trở giáo thì nguy to. Còn như ta dùng người của hai hiệu binh Thiệu Hưng, Văn Bắc trấn thủ thì lực lượng xung kích bị chia sẻ. Hơn nữa binh tướng hai hiệu này chưa quen với phong tục, đời sống dân chúng Ích châu, thì e gặp nhiều khó khăn. Ta phải làm gì?

Chân Phương bàn:

– Ta dùng binh tướng hiệu binh Giang an chia nhau trấn thủ các thành trì này.

Đô đốc Tử Minh dẫy nẩy lên:

– Trần phu nhân ơi! Tại Giang an tôi chỉ có một hiệu binh với hai thủy đội. Nay đem hiệu binh này đi thì lỡ ra bọn hàng tướng Tống theo Mông cổ ở Độ khẩu, Hoa bình đánh úp thì ta mất đường về.

Chân Phương mỉm cười. Nàng vốn đẹp như hoa nở, nàng mỉm cười làm các tướng trẻ xao xuyến:

– Vậy tôi đề nghị như thế này: khi ta tiến binh thì phía Nam Giang an là vùng đất của Đại lý. Vương gia sai sứ giả sang Đại lý xin với Quốc công Tạ Quốc Ninh đem một đạo quân đóng ở Độ khẩu phòng phía sau cho Giang an. Còn đạo quân Giang an thì chia làm hai. Một nửa theo hiệu Thiệu Hưng, một nửa theo hiệu Văn Bắc. Khi hai hiệu này đánh được, hay chiêu dụ được thành nào thì quân Giang an tiếp quản trấn đóng. Còn binh tướng trước đây thuộc Tống, đầu hàng Mông cổ thì ta đưa về trấn tại Giang an, trong khi vợ con, gia thuộc họ vẫn ở trong các thành cũ, ta giữ họ như con tin, chồng họ không dám trở giáo nữa.

Cử tọa vỗ tay hoan hô.

Thúy Hồng đề nghị:

– Khi khởi hành, vương phi từ biệt sư phụ. Vô Huyền Bồ tát có gửi theo hai đội Kiếm trận Mê linh. Thần đề nghị vương gia gửi theo Phùng sư phó, vương phi, mỗi đạo một đội. Khi xung sát ta dùng hai đội này vây bắt tướng giặc.

oOo

Địa Lô, Sơn Cương, Sơn Trí dùng thuyền nhỏ lên đường đi Đông sơn. Trại kị binh Mông cổ đóng dựa theo chân núi. Khi gần tới nơi, năm người vừa lên bờ thì gặp một thập phu kị binh đi tuần. Viên thập phu trưởng vẫy tay, thập phu bao vây 5 người lại. Viên thập phu hỏi bằng tiếng Hán vùng Thục.

– Các người là ai? Có phải gian tế của Tống không?

Văn sơn Tử Địa Lô xuất trình 5 thẻ bài ra. Tử nói tiếng Mông cổ:

– Tôi là Y quan trong đội Cấm vệ hộ tống Đại hãn. Đại hãn được tin vạn phu chiến mã Đông sơn bị bệnh nên sai tôi tới điều trị. Còn đây là bốn huynh đệ hộ vệ tôi. Ngoài ra tôi còn mang mật chỉ của Đại hãn cho hai tướng chỉ huy vạn phu này.

Viên thập phu cầm năm thẻ bài lên xem. Y hỏi:

– Huynh đệ có biết tên của vạn phu trưởng chúng tôi không?

– Biết chứ, chánh tướng là A Ba La. Phó tướng là Ngột Đặc Thiết Cấp.

Để cho thập phu áp tải năm người. Viên thập phu trưởng phi ngựa đi trước để thông báo tin tức. Chỉ lát sau y trở lại, dẫn bọn Địa Lô vào trại. Nhìn trại kị binh: ngựa cột từng hàng, sạch sẽ. Quân sĩ ở trong những căn lều lớn hàng lối ngay thẳng. Khu này thông với khu kia bằng lối đi rộng rãi. Địa Lô chột dạ :

– Với quân khí này, chỉ cần một hồi trống, kị binh có thể lên ngựa, xuất trại xung trận.

Tới soái lều, viên thập phu hô lớn bằng tiếng Mông cổ :

– Năm Cấm vệ đã tới.

Có tiếng nói vọng ra:

– Mời vào.

Trần Mạnh Quốc, Vũ Cao San thoáng thấy Địa Lô, Sơn Cương, Sơn Trí và Ngọc Đức, Ngọc Thiên thì giật mình. Địa Lô nói lớn:

– Tôi là y quan Cáp Thiết Mật Hoa, xin kính chào nhị vị vạn phu trưởng. Tôi tuân chỉ Đại hãn trình mật chỉ đến nhị vị.

Vũ Cao San vẫy tay cho tùy tùng ra khỏi lều. Trần Mạnh Quốc ra lệnh cho Sơn Cương, Sơn Trí. Hai người vòng quanh lều kiểm soát một vòng, rồi đứng gác ở cửa.

Địa Lô trình thư của Vũ Uy vương cho Trần Mạnh Quốc. Mạnh Quốc đọc xong, hỏi chi tiết về việc Đại Việt quân viện cho Tống, kế hoạch của Vũ Uy vương. Cao San hỏi :

– Ý Vũ Uy vương muốn chúng tôi làm gì?

– Ý người không muốn sĩ tốt chết nhiều. Người muốn dùng tâm chiến, phá đạo binh đóng tại Thanh thần. Ta phải làm như thế… như thế…

– Tôi hiểu.

Đia Lô chỉ vào Ngọc Đức, Ngọc Thiên :

– Vương phi đã cưới vợ cho hai vị. Hai cô dâu này mặc y phục giả trai, để qua mặt thám mã Mông cổ. Chúng tôi lĩnh địa vị đưa dâu. Xin cho hai cô dâu thay y phục.

Hai nàng Ngọc ra sau lều, một lát trở lại: váy lụa Nghi tàm mầu hoa cà. Khăn cổ mầu xanh lá mạ. Áo cánh trắng, yếm đào, áo tứ thân cũng mầu hoa cà. Dây lưng xanh, đỏ.

Không những Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc ngây người ra nhìn, mà đến Sơn Cương, Sơn Trí dĩ chí Địa Lô cũng ngây ngất.

Văn sơn Tử Địa Lô cho Ngọc Đức đứng trước Trần Mạnh Quốc. Ngọc Thiên đứng trước Vũ Cao San, rồi hô:

– Bốn người quỳ xuống, hướng về Nam.

Rồi Tử cầm trục giấy ra đọc:

Thừa thiên khải vận, Đại Việt hoàng đế chiếu rằng:
Âm dương là đạo trời đất. Xưa Quốc tổ Lạc Long Quân, kết hôn với Quốc mẫu Âu Cơ tại hồ Động đình, sinh ra trăm con, lập thành tộc Việt, truyền tử lưu tôn mấy nghìn năm đến nay.
Hai dũng tướng Trần Mạnh Quốc, Vũ Cao San, do cha mẹ sinh tại Mông cổ, có tài được thọ lĩnh Vạn phu trưởng. Tuy phú quý, nhưng lòng vẫn hồi tưởng cố quốc. Thực xứng đáng con rồng, cháu tiên.
Nay hai hoa khôi Lý Ngọc Đức, Lê Ngọc Thiên, có tài cầm ca, lại thông thi, thư, đức hạnh khó bì.
Truyền gả:
– Lý Ngọc Đức cho Trần Mạnh Quốc,
– Lê Ngọc Thiên cho Vũ Cao San.
Cha mẹ Ngọc Đức, Ngọc Thiên có công nuôi dưỡng con, ban cho cha được phong tước Tam tư. Mẹ được phong tước ngũ phẩm phu nhân. Truyền ban cho 15 mẫu ruộng nhất đẳng điền, không phải nộp thuế.
Truyền Văn Bắc thượng tướng quân, Văn sơn tử làm Đào hoa dẫn sứ.
Này hai dũng tướng Trần, Vũ, hai hoa khôi Lý, Lê, triều đình ưu ái giúp cho thành duyên Quan thư, phúc Đào chi (*), phải ăn ở với nhau cho phải đạo phu thê tộc Việt.
Khâm thử
Niên hiệu Thiệu Long thứ 7, tháng 3 ngày sóc.
Kiến thiên, thể đạo,
Đại minh, quang hiếu hoàng đế“.

* Ghi chú:

“Duyên Quan thư”, chữ cổ. Quan thư là tên một bài thơ trong Kinh thi, phần Quốc phong, Chu phong, ngụ ý nói về người quân tử tương tư thục nữ đến quên ăn, mất ngủ, rồi thành giai ngẫu.
“Phúc Đào chi”, Đào chi là tên một bài thơ, trong Kinh thi, phần Quốc phong, Chu phong nói về người con gái xinh đẹp, đi lấy chồng hòa hợp với gia đình nhà chồng.

Bốn người hướng về Thăng long lậy tạ, lại hướng Địa Lô vái ba vái, tạ ơn đưa dâu.

Trần Mạnh Quốc, Vũ Cao San nhìn hai cô vợ: quả thực hai người chưa từng thấy ai đẹp hơn. Mạnh Quốc nói :

– Vương phi Ý Ninh giữ lời hứa nặng như núi. Hai anh em chúng tôi muôn vàn cảm tạ. Quả thực Ngọc Đức, Ngọc Thiên đẹp hơn cô Hoàng Liên, với hai chị Thanh Nga, Thúy Nga. Nghĩ chúng tôi chưa lập công gì với Đại Việt mà được hưởng diễm phúc này. Chúng tôi sẽ đời đời nhớ ơn vương phi Ý Ninh.

Mạnh Quốc mở chiếc rương đặt phía sau trướng, lấy ra con phụng trên dát 7 viên kim cương cài lên tóc Ngọc Đức:

– Hồi còn sinh tiền, bố anh thường nói: phong tục Đại Việt cực kỳ trọng phụ nữ. Nên khi một người con trai, muốn thành hôn với cô gái phải có sính lễ. Anh chỉ là một gã võ phu thô lỗ, nhờ vương phi Ý Ninh mà được thành hôn với tiên nữ như em. Anh chỉ có chút quà mọn này tặng em mà thôi.

Chàng lấy ra 10 nén vàng trao cho Địa Lô:

– Tôi kính cẩn nhờ Đào hoa dẫn sứ mang số vàng này gửi về Đại Việt để kính biếu nhạc gia của tôi.

Vũ Cao San lấy ra một cái hộp, trong hộp có chiếc vòng ngọc trai đến 5 vòng. Chàng quàng lên cổ Ngọc Thiên :

– Anh cũng tặng em vật này làm quà cưới.

Chàng cũng gửi Địa Lô 10 nén vàng nhờ mang về Đại Việt dâng nhạc gia.

Hai người đem ra ba thanh kiếm trao cho Địa Lô, Sơn Trí, Sơn Cương:

– Ba thanh kiếm này do người Đức Nhĩ Man [Germany] đúc, sắc bén, cứng vô cùng. Hai tôi xin tặng ba huynh để tưởng ơn đưa dâu.

Địa Lô hỏi hai tướng:

– Hai huynh có được phụ thân cho biết quê ở vùng nào trên đất Việt không?

Vũ Cao San nói :

– Người luôn tưởng nhớ quê hương. Đó là một làng ở ven biển, có đồi núi thuộc vùng Đông triều. Trên rừng có nhiều thú hoang, chim muông, dưới biển có nhiều tôm cá. Khí hậu ấm áp, không lạnh như Mông cổ. Hồi còn bé, bà nội thường hát ru cho cha tôi ngủ. Tôi hỏi hát ru thế nào thì người lắc đầu nói: không nhớ.

Ngọc Thiên mỉm cười liếc mắt, ánh mắt lung linh, làm Vũ Cao San xao xuyến. Nàng nói:

– Để vợ anh hát ru cho anh nghe nhá.

Địa Lô thổi tiêu, Ngọc Thiên kéo nhị, Ngọc Đức đánh đàn bầu. Rồi Ngọc Thiên cất tiếng hát:

Hôm qua tát nước đầu đình,
Để quên cái áo với cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà“.

Hết một đoạn, Địa Lô phải giảng về cái đình là gì cho hai người nghe.

Ngọc Đức hát tiếp:

Áo anh sứ chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Anh mượn cô ấy về khâu cho cùng.

Trần Mạnh Quốc góp ý:

– Tôi nghĩ cái anh chàng này chẳng hề quên áo gì cả. Anh ta bịa ra, để có cớ làm quen với cô gái mà thôi.

Địa Lô khen:

– Huynh thông minh thực. Để tôi hát tiếp.

Địa Lô cất tiếng hát ru:

Khâu rồi anh sẽ trả công.
Đến lúc lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp cho đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi tầm em đeo.
Giúp em quan tám tiền treo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.

Ngọc Đức giải thích xôi vò là gì, rượu tăm là gì. Thế nào là tiền treo. Vũ Cao San cười:

– À, thế thì hai đứa tôi có phải gửi tiền về quê vợ đóng tiền treo không?

Địa Lô cười:

– Hai anh được đức vua gả vợ cho thì miễn treo.

Nghe hát, nghe nói về quê hương, khiến hai dũng tướng mê mê, tưởng tượng về quê cha, mà chưa được thấy. Trước mắt họ chỉ thấy hai cô vợ đẹp tươi thắm, ánh mắt lung linh, nụ cười như mời, như gọi. Vũ Cao San mơ màng:

– Vương phi Ý Ninh thực là người mẹ thứ nhì của tôi. Phi giữ lời hứa, hỏi vợ cho chúng tôi. Hy vọng trận đánh đêm 30 này chúng tôi sẽ được gặp phi.

Trần Mạnh Quốc than:

– Quê cha! Biết bao giờ chúng tôi được thấy!!! Trước mắt tôi chỉ thấy đất Mông cổ với những đồng có mênh mông bất tận. Quanh năm gần như chỉ có tuyết, với những đàn bò, ngựa, cừu đếm không hết.

Ngọc Đức nghiêng đầu nhỏ nhẹ:

– Bây giờ Đại Việt còn là quê vợ của hai anh đấy! Tương lai hai anh sẽ được về quê cha, quê vợ.

Một tiệc nhỏ bầy ra.

Đêm ấy tại doanh trại kị binh Mông cổ, dưới chân núi Đông sơn xứ Thục, hai kiều nữ Ngọc Đức, Ngọc Thiên cùng Địa Lô tấu nhạc, ca hát tới khuya. Rồi hai cặp anh hùng, giai nhân động phòng hoa chúc, xuân tình phơi phới như vạn hoa nở.

Sáng hôm sau Mạnh Quốc hỏi Địa Lô:

– Vũ Uy vương muốn chúng tôi giúp vương như thế nào?

Địa Lô nói thực chậm:

– Hôm nay là ngày 27 rồi. Còn 3 ngày nữa là ngày 30. Đêm 30, người cho đánh úp trại Nga biên, đoạt các thuyền lương thảo, rồi phao rằng Dương Đại Uyển phản Mông cổ. Chính y sai chở lương về cho Tống. Trong khi đó nhị vị đem kị binh tới Thanh thần nói với tướng sĩ rằng tuân chỉ Đại Hãn bắt y. Sau khi y bị bắt, nhị vị tập trung binh tướng lại, tuyên bố: Ai muốn về với gia đình thì cho.

– Vậy thì tôi cần đại huynh ở lại đây làm quân sư cho chúng tôi.

– Dĩ nhiên là được.

– Nhưng tôi sẽ trả lời sao với Đại hãn?

– Phi mã đại tướng quân Đại Hành hiện chỉ huy đội Cấm quân sẽ tâu lên Đại hãn rằng: Đại Uyển bí mật trở về với Tống, nên đem toàn bộ 50 con thuyền chở lương đến Giang an cho Tống. Y định đem quân về đánh úp Thành đô, nên hai vị phải ra tay trước. Vả khi bắt được tù binh Mông cổ, chúng ta sẽ nói rằng “Dương Đại Uyển, Đặng Văn trước đây dùng khố nhục kế hàng Mông cổ, nay trở về với tộc Hán. Bọn này sẽ khai với Mông cổ. Như vậy nhị vị trở thành người có công lớn.

– Được! Chúng tôi vì di chúc của cha rằng: nếu có dịp thì trở về với Đại Việt. Đây là lúc chúng tôi thực hiện đây.

Đêm 30. Trời tối đen như mực. Yết Kiêu, Thiên Sanh dẫn đội Ngạc ngư, đội Đại đởm âm thầm lên đường.

Trước khi đi, hai tướng bàn định với nhau.

Trong hai người thì Thiên Sanh quân hàm là Đại tướng, cao hơn Yết Kiêu đến 4 bậc. Về tước thì Sanh tới Hầu, An xuyên Hầu, trong khi Yết Kiêu mới tước Tử, An biên Tử. Trên nguyên tắc thì Sanh chỉ huy Yết Kiêu. Nhưng về mưu kế thì Sanh tự biết rằng muôn ngàn lần mình không bằng viên thiếu niên can đảm này. Hầu bàn:

– Bây giờ ta đánh úp đám thuyền này thế nào? Em còn trẻ, nhiều mưu, lắm mẹo, lại được truyền Binh Thư Yếu Lược! Em thiết kế đi!

Yết Kiêu bàn:

– Chúng có 50 con thuyền chở lương. Tin tế tác cho biết bọn lính vận tải không ở trên thuyền. Đêm chúng vào làng ăn uống, tìm gái. Trên mỗi thuyền chỉ còn một hai tên canh gác. Vậy ta chia dũng sĩ Đại đởm, Ngạc ngư làm 50 toán. Mỗi toán ba Ngạc ngư, một Đại đởm. Đại đởm âm thầm tới ván cầu của thuyền phục sẵn. Còn Ngạc ngư thì bơi theo sông. Sau đó cùng đột nhập thuyền, giết quân canh. Mọi việc hoàn tất, ta đốt pháo hiệu cho quân của Dã Tượng biết. Họ tràn xuống thuyền, cắt dây buộc, chèo thuyền về hướng Đông. Hai bên bờ sông đã có hiệu binh Văn Bắc phục sẵn, chặn đánh quân truy kích.

(Hết Hồi 80)

Share this post