Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 82 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 82 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ TÁM MƯƠI HAI
Nam thiên hoa khôi hữu nhị,
Thiên hạ thần kiếm vô song
(Tiếp theo)

Văn Thiên Tường khen:

– Thực là những người chính khí dọc ngang trời đất.

Thình lình ông đứng lên, rồi ứng khẩu dõng dạc đọc:

Thiên địa hữu chính khí,
Tạp nhiên phú lưu hình,
Hạ tắc vi hà nhạc,
Thượng tắc vi nhật tinh.
Ư nhân viết hạo nhiên.
Bái hồ tắc thương minh,
Hoàng lộ đương thanh di,
Hàm hòa thổ minh đình
Thời cùng tiết nãi hiện,
Nhất nhất thùy đan thanh.

Vì Văn Thiên Tường đọc bằng âm Lâm An, nên các tướng Việt hiểu không hết .Thúy Hồng xin phép diễn giải ra tiếng Việt:

Trong trời đất có chính khí,
Phân tán thành nhiều hình thể khác nhau.
Dưới thì là sông núi,
Trên là mặt trời và các sao.
Ở nơi người là khí hạo nhiên,
Đầy rẫy, tràn ngập bầu trời.
Khi đường vua gặp lúc thanh bình,
Ngậm hài hòa nhả trong sân sáng.
Lúc khốn cùng tiết mới hiện ra.
Tất cả đều để lại nét đẹp.

Giảng dứt, nàng vẫy tay, Ngọc Hồng đánh trống mảnh, Ngọc Kỳ kéo nhị, Ngọc Quốc thổi tiêu, Ngọc Trí đánh đàn tranh, Ngọc Cách đánh đàn bầu. Nàng cất tiếng ngâm. Thúy Hồng ngâm dứt, Địa Lô biến thành điệu hát Xẩm. Hát dứt Địa Lô khoanh tay một vòng, nhạc trỗi lên, tất cả cùng cất tiếng ngâm.

Nước mắt rưng rưng, Văn Thiên Tường cảm động:

– Đa tạ các tài tử, các tiên Đại Việt đã làm đẹp bài thơ của tôi.

* Ghi chú: Về nguồn gốc bài Chính khí ca, có hai thuyết:
– Thuyết thứ nhất nói, Văn Thiên Tường làm bài này trong thời gian bị giam tại Yên kinh.
– Lại có thuyết nói, ông làm 10 câu đầu trong lúc vào Ích châu duyệt tình hình. Phần còn lại ông làm tiếp khi bị giam tại Yên kinh.
Tôi thuật theo thuyết thứ nhì.
Bài “Chính khí ca” ảnh hưởng rất lớn trong văn học, tư tưởng Trung Quốc, Nhật Bản, Cao Ly và Việt Nam. Sau này cụ Nguyễn Công Trứ trong bài “Kẻ Sĩ” lấy ý hai câu trong bài này.
Hồi niên thiếu, khi thăm các vị tiền bối nho học, tôi thường thấy trong phòng sách của các ngưới có các bức trướng chép những bài sau:
– 2 bài Xuất sư biểu của Gia Cát Lượng,
– Bài Chính khí ca của Văn Thiên Tường,
– Bài Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo vương ,
– Bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.
Năm 9 tuổi, tôi được tiền nhân giảng rất kỹ bài Chính khí ca, rồi bắt học thuộc lòng. Bài thơ ảnh hưởng vào cuộc sống của tôi rất nhiều. Sau này lớn lên, tại văn phòng, tại phòng khách, tôi luôn trang trí các bức trướng trên viết: 2 bài Xuất sư biểu; Bài Chính khí ca; Bài Hịch tướng sĩ.

Văn Thiên Tường chỉ các tướng Việt:

– Từ Nam phương, các vị hiện diện tại đây giúp chúng tôi chống Thát đát, chính khí của các vị cao vòi vọi. Thiên Tường này không đủ chữ để tạ các vị.

Nói rồi ông chắp tay xá ba xá, với tất cả thành kính.

Vương Kiên hỏi Văn Thiên Tường:

– Thái phó nói vào Thục có hai điều. Điều thứ nhất là hỏi ý kiến tôi. Vậy còn điều thứ nhì?

– Điều thứ nhì là triều đình biết ơn Đại Việt trợ Tống. Nên đã sai sứ sang Đại Việt tạ ơn. Còn tôi vào đây xin Vũ Uy vương trao sổ ghi công, để triều đình còn phong chức tước lao tưởng cho chư tướng Việt!

Dã Tượng chắp tay xá Văn Thiên Tường:

– Đa tạ hoàng đế và Tống triều. Chúng tôi đã được triều đình Việt phong cho chức tước rồi!

Tạ Phương Đắc lên tiếng:

– Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân là đấng anh hùng nên không nghĩ đến chức tước. Nhưng thưa tướng quân, từ xưa đến giờ có không biết bao nhiêu anh hùng Việt đã từng nhận chức tước của Hoa hạ. Nay triều đình chỉ noi theo việc xưa mà thôi.

Văn Thiên Tường tiếp:

– Ấy là nói đến tướng sĩ Việt. Còn Phùng sư phó, còn hơn nghìn võ sĩ Trung nguyên với hơn vạn Hoa kiều ở Đại Việt đã lập đại công. Triều đình phải phong chức tước cho họ để lao tưởng, để khuyến khích.

Vũ Uy vương sai sao chép sổ ghi công từ khi chuẩn bị lên đường trợ Tống, trao choVăn Thiên Tường.

Trước khi Văn Thiên Tường, cùng Tạ Phương Đắc rời Thục. Tạ Phương Đắc chỉ nhóm Mê linh kiếm trận, nói với vương phi Ý Ninh:

– Trong những ngày ở đây, tôi được làm quen, được hiểu nhiều về tài năng của các em trong hai đội Mê linh kiếm trận. Các em xin học về văn chương, về thi phú, về Bách gia chư tử, về tiếng Hán vùng Lâm an. Tôi hết lòng truyền thụ sở học cho các em. Vì vậy giữa chúng tôi và các em đã thành bạn vong niên. Đường từ đây đi Lâm an không được an ninh cho lắm. Tôi lớn mật xin vương phi cho mượn hai em Sơn Đức, Sơn Cao theo, phòng bất trắc.

Vương phi Ý Ninh hướng Sơn Đức, Sơn Cao. Phi hỏi:

– Hai em được một đại danh sĩ dạy chữ thánh hiền cho. Sự việc như thế nào?

Sơn Cao bẽn lẽn:

– Hằng ngày chúng em chỉ dành có một giờ luyện kiếm, ở không cũng buồn. Vì vậy chúng em đem sách chữ Hán ra đọc. Chỗ nào không hiểu thì hỏi thầy Tạ Phương Đắc. Không những thầy chỉ bảo, mà thầy còn dạy cho tất cả chúng em về học thuật, tư tưởng, thi văn Trung nguyên. Nhưng thầy chỉ nhận kết bạn với chúng em, mà không chịu cho chúng em gọi bằng thầy.

– Ai dạy ta một chữ là thầy ta. Ai dạy ta nửa chữ cũng là thầy. Học thầy không tầy học bạn. Các em được một danh sĩ hết lòng dạy bảo. Bây giờ thầy muốn mượn hai em theo hộ vệ. Các em tính sao?

Sơn Cao vui vẻ:

– Sư phụ sai chúng em theo sư tỷ với mục đích đem võ công trợ Tống. Nay sư tỷ ban chỉ cho chúng em theo thầy Tạ Phương Đắc để bảo vệ thầy, thì đúng như chỉ dụ của sư phụ. Chúng em hứa sẽ làm tròn bổn phận.

Vũ Uy vương ban chỉ:

– Các em đều biết chỉ huy chim ưng. Vậy phi gửi theo các em một cặp để liên lạc với chúng ta.

Tiễn Văn Thiên Tường, Tạ Phương Đắc lên đường về Lâm an, Vương Kiên hội các tướng sĩ lại. Ông bưng ấn kiếm trao cho Vũ Uy vương:

– Xin vương gia trợ Tống.

Không khiêm tốn, Vũ Uy vương tiếp ấn kiếm. Vương nói:

– Từ khi chúng tôi sang đây đã đánh nhiều trận, song những trận đó chỉ là những trận giải quyết các vấn đề để chuẩn bị cho trận đánh chính. Trận này tôi ước tính sẽ diễn ra trong ít nhất ba ngày. Chúng ta sẽ trải qua 3 ngày trời sầu đất thảm. Nếu ta thắng hay hòa thì Mông Ca cũng phải rút binh. Còn như ta bại thì mất toàn bộ Ích châu. Triều đình sẽ hàng Mông cổ.

Các tướng im lặng nghe.

– Từ thời Thành Cát Tư Hãn đến giờ, trong mọi trận đánh, Mông cổ luôn chủ động, đặt đối phương vào thế bị động. Bắt đối phương phải chấp nhận chiến địa do họ chọn. Bây giờ ta lật ngược lại. Ta dành thế chủ động. Chiến trường do ta chọn.

Trong phòng họp tướng sĩ đến hơn trăm người, mà im phăng phắc. Vương tiếp:

– Chiến trường ta chọn là Hợp châu, Bồ lăng, Giang an, trên một tuyến dài hơn 500 dặm [250 km]. Hợp châu thì thành Điếu ngư rất chắc, đích thân Mông Ca đốc chiến. Khu dàn binh của họ có con sông khá sâu, mà họ không có thủy quân. Ta có thể lợi dụng sông này đánh vào lưng họ.

Vương tiếp:

– Chiến trường Bồ lăng, địa thế rất thấp, xung quanh là đồng lầy. Đây là ngã ba sông Trường giang với Ô giang. Kị binh vô dụng. Ta có thể dùng Ngưu binh. Còn chiến trường Giang an, là nơi bốn con sông giao nhau. Ta tận dụng thủy quân được.

Vương nói thực chậm:

– Hiện Mông cổ hết sạch lương rồi. Tin mới nhất cho biết, y sẽ sai Xích Nhân Thiết Mộc Nhi đem 4 vạn kị binh đánh Bồ lăng, Giang an. Y trao cho Mục Tương Ca chỉ huy 5 vạn kị binh, 5 vạn bộ binh đánh Điếu ngư. Còn ta, lực lượng ta có bao nhiêu?

Gia Huyễn Ông trình bầy:

– Bộ binh Tống tại Ích châu có 20 hiệu. Hiện 11 hiệu đang chiến đấu ở vùng Ba trung. Còn tại đây ta có 9 hiệu là Bồ lăng, Điếu ngư, Chiêu thông, Giang an, Dương bình quan, Thành đô, Kiếm các, Cẩm dương, Phổ khách. Ba hiệu Điếu ngư, Bồ lăng, Chiêu thông, lúc nào cũng sẵn sàng. Hiệu Giang an thì chia nhau trấn Thành đô, Mi sơn, Đông sơn, Phong đô không thể tham chiến. Năm hiệu mới tái lập là Thành đô, Kiếm các, Dương bình quan, Cẩm dương, Phổ khách; thì hiệu Thành đô, Dương bình quan chia ra trấn từ Giang an đến Độ khẩu. Còn ba hiệu Kiếm các, Cẩm dương, Phổ khách tinh lực khá mạnh.

Địa Lô trình bầy:

– Quân viện Việt có hai hiệu Văn Bắc, Thiệu Hưng trang bị cực kỳ hùng mạnh, tinh thần chiến đấu hăng say, nhất là hiệu Thiệu Hưng tinh thần Hoa kiều cao ngất trời.

Vũ Uy vương ban lệnh:

– Trong ba mặt trận, thì mặt trận Bồ lăng quan trong nhất. Mông Ca đã sai Xích Nhân Thiết Mộc Nhi chỉ huy. Với lệnh thép: bằng mọi giá xử dụng 4 vạn kị binh phải chiếm cho được Bồ lăng rồi sẽ đánh Giang an là hai kho lương.

Vương nói thực chậm:

– Mông cổ từ xa đến, không biết rõ địa hình, địa vật, tôi đề nghị để hiệu Bồ lăng trấn tại đây. Ta cũng cần một hiệu binh dũng cảm, thiện chiến hỗ trợ. Về tướng cần một người mưu trí. Nội trong chúng ta ở đây phi Long nhương thượng tướng quân Gia Huyễn Ông không ai đương nổi.

Gia Huyễn Ông khẳng khái:

– Đa tạ vương gia tin dụng. Địa thế Bồ lăng có nhiều đồng lầy, kị binh Mông cổ không dễ gì tung hoành được. Tôi xin vương gia viện cho hiệu Thiệu Hưng. Hiệu này gồm toàn Hoa kiều, chính khí cao ngất trời. Hơn nữa 8 tướng của hiệu này đều xuất thân từ Ngưu binh Đại Việt như Đô thống Lý Long Đại, Vũ Trang Hồng; Trần Long Nhất, Phạm Trang Tiên; Vũ Long Nhị, Hoàng Trang Liên, Phạm Long Tam; Hoàng Long Tứ . Các tướng này rất kinh nghiệm trong chiến tranh sình lầy. Hiệu Thiệu Hưng có một Vệ Ngưu binh, xin cho tôi thêm Vệ Ngưu binh của hiệu Văn Bắc. Như vậy tôi mới yên tâm.

Vũ Uy vương gật đầu:

– Gia Huyễn danh sĩ tính toán như vậy thực phải. Thống lĩnh hiệu Thiệu Hưng là Hữu thiên ngưu vệ thượng tướng quân là Trần Quốc Vỹ rất giỏi về thủy chiến sẽ chỉ huy các Ngưu tướng đánh địch. Tôi tăng viện hai Vệ Ngạc ngư theo Quốc Vỹ, nếu như Mông cổ dùng thủy quân từ Trường giang đánh vào hông Bồ lăng, còn có Ngạc ngư trị chúng.

Vương Kiên góp ý:

– Như vậy tổng trấn Bồ lăng là Hữu thiên ngưu vệ Thượng tướng quân Trần Quốc Vỹ. Phó là Thành tâm hầu Gia Huyễn Ông. Phụ trấn là Phùng sư phó. Quân cơ hữu là hiệu Bồ lăng, Thiệu Hưng. Tôi viện thêm hiệu Kiếm các đến trợ chiến. Tổng cộng mặt trận này có ba hiệu binh. Thêm hai vệ Ngưu binh, hai vệ ngạc Ngư.

Vũ Uy vương tiếp:

– Mặt trận Giang an thì tôi xin Đô đốc Triệu Tử Minh trấn thủ. Quân cơ hữu có hiệu Cẩm dương, Phổ khách. Đô đốc phải sẵn sàng, vì nếu mặt trận Bồ lăng vỡ thì Mông cổ sẽ tràn xuống đánh cướp lương thảo. Trường hợp này phải tử chiến. Nếu thấy nguy cơ bị tràn ngập, phải đốt hết lương, không cho lọt vào tay giặc. Phía sau Đô đốc, lực lương Cần vương Đại lý có hơn vạn người, sẵn sàng hỗ trợ Đô đốc khi cần.

Vũ Uy vương tiếp:

– Tất cả binh tướng còn lại sẽ dự trận Điếu ngư. Trận Điếu ngư sẽ do Vương Tiết độ sứ đốc chiến. Thêm Kiêu kị thượng tướng quân Nguyễn Văn Lập phòng thủ.

Các tướng rời thành, trở về điều quân.

Trong trướng thành Điếu ngư: ngồi chính giữa là Vũ Uy vương. Bên trái vương là Tổng trấn Ích châu Vương Kiên. Bên phải là Kiêu kị thượng tướng quân Nguyễn Văn Lập. Bên dưới các tướng Tống Việt ngồi im lặng nghe lệnh. Vương hỏi Vương Kiên:

– Quân cơ hữu của Điếu ngư có hiệu Điếu ngư, hiệu Chiêu thông rất thiện chiến, vẫn trấn tại đây. Không biết Tiết độ sứ có cần tăng thêm không?

– Thành Điếu ngư không rộng, hai hiệu binh đủ rồi.

Vũ Uy vương hỏi Địa Lô:

– Văn Bắc thượng tướng quân, thuốc làm cho ngựa nhuyễn cân mà tướng quân chế, hiệu năng như thế nào? Tướng quân đã chế được bao nhiêu cân rồi?

– Khải vương gia, thuốc này khi ngựa ăn phải thì hai giờ sau mới bị phản ứng. Đầu tiên ngựa bị đau bụng, tiêu chảy trong một giờ, nhưng vẫn chạy được như thường. Sau ba giờ thì gân cốt mềm nhuyễn, không phi được, phải nằm bẹp xuống đất trong suốt 6 giờ. Thần đã chế đủ để thuốc 4 vạn ngựa.

– Trao cho Đại Đởm đại tướng quân số thuốc đủ trị một vạn ngưa. Còn lại trao cho Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân Dã Tượng.

Vương hỏi Nguyễn Thiên Sanh:

– Tướng quân nói đã đột nhập doanh trại Mông cổ. Đó là doanh trại nào?

Nguyễn Thiên Sanh báo cáo:

– Sau khi đốt phá hai đoàn tải lương của Mông Ca. Chúng tôi rút về ẩn trong một con thuyền lớn. Chúng tôi đã đột nhập vào toàn bộ doanh trại của Mông cổ, biết rất rõ vị trí đóng quân của chúng. Không biết trong trận đánh này vương gia trao cho nhiệm vụ gì?

Vũ Uy vương ngợi khen:

– Đại tướng quân đã hoàn thành được trọn vẹn nhiệm vụ trao cho. Bây giờ tướng quân lại nhận nhiệm vụ kinh khủng nữa.

Mọi người im lặng nghe xem đó là nhiệm vụ gì?

– Sáng mai giờ Mão [4-6 giờ sáng] thì Mông cổ xuất binh. Đêm nay tướng quân lẻn vào tầu ngựa kéo xe của chúng, bỏ thuốc nhuyễn cân vào nước uống của ngựa vào giờ Sửu [2-4 giờ sáng].

Thiên Sanh hiểu:

– Như vậy ngựa đó sẽ vô dụng vào giờ Mão, giờ Thìn. Giờ đó là trọng điểm tấn công của giặc. Nhưng vương gia ơi! Tại sao không đánh thuốc độc vào tầu ngựa chiến mà lại đánh ngựa kéo xe?

– Ngày mai chúng sẽ dùng xe chở chất nổ phá thành và chở xe bắn đá. Chúng ta cần làm tê liệt hai đạo binh này. Ngoài việc đầu độc ngựa kéo xe, tùy nghi, tướng quân làm được việc gì khác, tùy sáng kiến của tướng quân. Thôi bây giờ trưa rồi, tướng quân có thể trở điều động anh em đi là vừa.

Vũ Uy vương nói với Nguyễn Văn Lập:

– Ngày mai Mông Ca sẽ dùng nhiều cao thủ leo lên thành Điếu ngư. Lực lượng cao thủ của y không nhiều so với ta. Ở đây có gần nghìn cao thủ Hán, từng theo Ngột Lương Hợp Thai đánh Đại Việt, nay xin trở về quê hương diệt Thát đát. Tôi đã chia làm 18 đội. Mỗi đội 50 người, do một sư phụ, đệ tử của Thiên Phong đại sư làm đội trưởng. Vậy tôi xin trao cho Kiêu kị thượng tướng quân 10 đội để giữ thành. Còn 40 đội, thì tôi viện cho Bồ lăng 20, Giang an 10, hiệu Văn Bắc 10. Ngoài ra tướng quân còn Hoa sơn ngũ hiệp 10 vị, Kim sơn tam kiệt ba vị. Không biết như vậy đủ chưa?

Nguyễn Văn Lập vui vẻ:

– Đủ rồi.

– Tôi tăng viện cho Điếu ngư Văn Bắc thượng tướng quân với 2 vệ Nỏ thần, 2 vệ Lôi tiễn, với số lượng tên, Lôi tiễn gấp 10 lần. Không còn sợ hết tên, hết Lôi tiễn như trận vừa rồi.

– Ngày mai, sau khi Mông Ca đem quân vây Điếu ngư, thì bốn vạn kị binh Mông cổ do Xích Nhân Thiết Mộc Nhi vượt Điếu ngư đi Bồ lăng. Còn Mông Ca sau khi Mục Tương Ca công thành một vài giờ không kết quả, ắt y sẽ đi Bồ lăng đốc chiến. Thói quen của y, khi thị sát, đốc chiến, bao giờ cũng chỉ có năm bách phu Cấm quân theo hộ tống. Giữa Bồ lăng và Điếu ngư có khu rừng cỏ Trường thảo dài khoảng 10 dặm, Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân đem đạo binh Văn Bắc ém tại đây. Đợi cho bốn vạn kị binh của Xích Nhân Thiết Mộc Nhi đi rồi phục trong khu rừng này. Khi Mông Ca qua thì đổ ra đánh, phải đánh thực mau, thực gọn, bằng không kị binh từ Điếu ngư, Bồ lăng kéo đến tiếp viện thì nguy. Sau khi diệt hết bọn này thì thiết lập chướng ngại, không cho bọn Xích Nhân Thiết Mộc Nhi rút về Điếu ngư. Cuộc phục kích Mông Ca không nguy hiểm cho lắm. Mà cuộc chặn đường bọn Xích Nhân Thiết Mộc Nhi mới thực sự nguy hiểm. Tuyệt đối tránh dàn trận giao chiến. Tuy quân số của chúng đông, nhưng chúng mang theo có một ngày lương. Dù chúng có tới bốn vạn kị binh mà phía trước tiến lên đánh Bồ lăng thì không được, nay rút về thì không xong. Chỉ cần trấn một ngày, chúng hết lương ắt phải tan.

Vương nói với vương phi:

– Bốn tướng chỉ huy Cấm vệ phi đều biết. Chúng chịu ơn phi cực sâu như mẹ chúng. Tuy nhiên bọn A Lý Hải Nha mới gửi thêm tên Ô Mã Nhi đem theo một bách phu Cấm vệ nữa để hộ vệ Mông Ca. Tên này võ công rất cao cường. Dã Tượng không phải đối thủ của y. Vậy vương phi với Thúy Hồng theo giúp Dã Tượng để khống chế y. Vương phi nên mang theo hai đội kiếm trận Mê linh để đối phó với võ sĩ của Ô Mã Nhi.

Tối hôm đó vương ngồi viết biểu, tấu trình chi tiết từ sau khi tái chiếm Thành đô; sai chim ưng mang về Đại Việt.

Trong khi Vũ Uy vương ban lệnh cho chư tướng, thì tại hành doanh của Mông cổ cuộc hội tham mưu chuẩn bị cho ba ngày đại chiến cũng chấm dứt. Mông Ca trở về ngôi soái lều của mình. Lều của Mông Ca bằng da lạc đà lớn như một dinh thự. Cách xa lều của y khoảng 100 trượng [200m] bốn bên là những dẫy lều của bốn bách phu Cấm vệ. Cấm vệ là những kị binh thiện chiến, trung thành, được tuyển chọn trong các con em thân vương, tướng lĩnh. Bốn bách phu do bốn tướng trung thành, võ công cao chỉ huy. Một là A Mít Lỗ Tề, người Tây vực, theo Mông Ca từ nhỏ, lĩnh chức Hùng uy tướng quân. Hai là Đi Mi Trinh, lĩnh Hổ uy tướng quân, người Nga la tư, là em của hoàng hậu Hốt Đô Đài. Ba là Kim Đại Hòa, lĩnh Ưng phi tướng quân, người Cao ly do chính Mông Ca tuyển chọn. Bốn là Đại Hành, lĩnh Phi mã tướng quân, do chính Mông Ca tuyển chọn, là người Việt, người thân tín của đệ nhất sủng phi Thanh Liên. Mới đây hoàng đệ Hốt Tất Liệt lại gửi thêm một bách phu nữa, gồm toàn các tay võ lâm cao thủ người Hán, do đại tướng vô địch Ô Mã Nhi chỉ huy.

Mông Ca gọi 5 tướng vào lều, ban cho rượu uống, Tuyên phi Thanh Liên sai cung nữ làm nem (chả giò) cho họ ăn. Mông Ca ban chỉ:

– Cuộc ra quân ngày mai sẽ cực kỳ khốc liệt. Năm người hộ tống ta cũng nên biết qua. Trước hết ta cho Mục Tương Ca dùng 2 vạn phu kị binh, 3 vạn phu bộ binh công thành Điếu ngư. Ta lại cho Xích Nhân Thiết Mộc Nhi đem bốn vạn phu kị binh đánh Bồ lăng. Hạ xong Bồ lăng sẽ đánh Giang an.

Y nói chậm cho 5 tướng nghe:

–Trước tiên Mục Tương Ca cho kị binh đánh Điếu ngư đi trước tới gần thành dàn ra bao vây, dùng cung tên bắn vào quân thủ thành. Sau đó bộ binh dùng xe bắn đá, xe chở chất nổ phá thành. Đúng lúc đó thì Xích Nhân Thiết Mộc Nhi đem 4 vạn kị binh đánh Bồ lăng, Giang an lên đường. Trong vòng 2 giờ nếu như thành Điếu ngư vỡ thì chúng ta vào thành, rồi đi Bồ lăng. Còn như đến giờ Thìn mà không vào được Điếu ngư thì chúng ta đi Bồ lăng điều động tướng sĩ quyết chiếm kho lương này.

Mông Ca quyết định:

– Đội hình ngày mai như sau: mở đường là Ô Mã Nhi. Đi trước là Kim Đại Hòa. Bên phải là A Mít Lỗ Tề. Bên trái là Đi Mi Trinh. Phía sau là Đại Hành. Tại mỗi bách phu có một Cấm vệ mặc y phục như ta để đánh lừa giặc.

Ô Mã Nhi tâu:

– Khi thần lên đường thì Tể tướng hành Trung thư tỉnh A Lý Hải Nha dặn rằng: Bọn Tống dùng binh pháp Tôn tử, hư hư, thực thực khó lường. Khi ta đem quân đi đâu thì phía sau 5 dặm, 10 dặm, 15 dặm nên duy trì một Thập phu. Khi thấy tiền quân bị trúng phục binh thì chạy về báo. Ta sẽ dùng Thiết đột tiếp viện.

– Được! Cẩn thận như vậy là phải!

Mông Ca trở về lều hành cung. Cửa lều mở ra, viên Đại Hãn khét tiếng đứng dừng lại, mở to mắt ra nhìn: Tuyên phi Thanh Liên trang điểm cực kỳ diễm lệ: áo cánh lụa trắng. Khăn quàng cổ mầu hồng nhạt. Áo ngoài mầu tím, váy mầu đen. Dây lưng mầu hồng, xanh. Từ khi được Hốt Tất Liệt cống Thanh Liên cho, Mông Ca từng được nàng tiếp khi mặc bộ y phục Đại Việt này nhiều lần. Mỗi lần như vậy, khiến cho đại đế như người say ruợu. Hôm nay, sau buổi hội quân mệt mỏi, y lại được thấy Tuyên phi mặc bộ y phục mà y thích nhất.

(Hết Hồi 82)

Share this post