Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 85 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 85 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ TÁM MƯƠI LĂM
Con cháu của vua Trưng
(Tiếp theo)

Bạch Liên, Hồng Nga mở hộp “Giao chỉ vụ”. Những chỉ dụ, thư tín bên trong dầy tới hơn hai gang tay. Một cuốn sổ nhỏ tóm lược sự kiện, đánh số các tài liệu theo thứ tự năm, tháng.

Hai người mở ra đọc:

* Tập thứ nhất, tóm lược lịch sử An Nam từ khi lập quốc tới khi Ngột Lương Hợp Thai đem quân vào cướp. Trong ghi rõ dân số, tài nguyên, tổ chức cai trị, binh bị. Lại chép cả hành trạng các vương hầu.

* Tập thứ nhì chép lệnh chỉ của Hốt Tất Liệt cho Ngột Lương Hợp Thai đem 5 vạn Kị binh Mông cổ cùng 5 vạn hàng binh Đại lý đánh Đại Việt. Lệnh chỉ nói rõ: Vì Mông cổ đang đánh Tống bằng ba mặt Tứ xuyên, Tương dương, Ngạc châu. Cần mở mặt trận đánh vào sau lưng Tống, và đánh vào bờ biển. Nhưng Mông cổ chỉ có Kị binh, không có Thủy quân. Xét binh bị Đại Việt, Thủy quân rất mạnh. Bằng mọi giá Ngột Lương Hợp Thai phải chinh phục Đại Việt, rồi dùng hàng binh, thủy quân, lương thảo Đại Việt đánh Tống.

* Tập thứ ba chép bang giao Mông cổ Đại Việt. Có tới 20 sứ đoàn do Hốt Tất Liệt gửi qua Đại Việt.

Hồng Nga, Bạch Liên đọc tiếp:

Sứ đoàn thứ nhất: Đại vương (chỉ Hốt Tất Liệt) sai Ngột Lương Hợp Thai chinh An Nam. Bị đại bại chạy về Đại lý (Vân Nam), Đại vương nhân danh Đại hãn (Mông Ca) sai sứ sang dụ An nam quốc vương sang chầu, gửi con sang làm con tin. An Nam đuổi sứ về. Nhưng vẫn gửi sứ đoàn do Lê Phụ Trần làm trưởng, Chu Bác Lãm làm phó. Sứ đoàn tới Yên kinh. Đại vương không có mặt ở Yên kinh. Tuyên phủ ty (một triều đình do Hốt Tất Liệt lạm quyền lập ra ở Trung nguyên) sai ngựa trạm cáo với Đại vương. Đại vương ban chỉ định lệ ba năm cống một lần. (ĐVSKTT, bản kỷ, q5, NS, An nam truyện, Hiến tông bản kỷ)

Sứ đoàn thứ nhì, Đại vương nhân danh Đại hãn sai Nột Lạt Đinh (Nur Ud Dĩn) là người Tây vực, mang chiếu thư sang An Nam. Chỉ dụ cho sứ đe dọa: “Trước đây trẫm sai sứ sang thông hiếu, các người giam giữ trói trong ngục đến chết. Vì vậy mới có cuộc xuất quân, khiến chúa nước người phải chạy ra vùng thôn quê. Ta lại sai hai sứ sang, các người trói đuổi về. Nay ta sai đặc sứ sang, nếu các ngươi một lòng nội phụ thì quốc chủ phải thân đến chầu. Nếu như các người không sửa lỗi thì nói rõ cho ta biết” (NS q.209 An Nam truyện, ĐVSKTT, q5)

Hồng Nga cười nhạt:

– Cái vụ này do Hốt Tất Liệt Lạm quyền, nên y không biết vụ Đại Việt cử Vũ Uy vương với chúng mình sang sứ với Mông Ca. Đại Việt biết rõ y lạm quyền, cười thầm, không trả lời.

– Sứ đoàn thứ ba, Đại vương không dấu diếm việc muốn tách Trung nguyên ra khỏi Mông cổ. Vương đã lập Trung thư tỉnh Tuyên phủ ty 12 bộ. Trong khi Đại vương ở Quan trung thì Tuyên phủ ty, sai Lễ bộ lang trung Mạnh Giáp sung chức An nam tuyên dụ sứ; Lễ bộ viên ngoại lang Lý Văn Tuấn sung chức phó sứ sang lôi kéo An Nam vào phe vương, chống Mông ca. Chiếu thư dụ như sau: phàm mũ áo, điển lệ, phong tục cứ theo chế độ cũ của các người, không phải thay đổi… ta đã cấm các biên tướng Vân Nam không được tự tiện đem quân xâm lược nước người. Vua tôi, sĩ thứ các người cứ yên tâm làm ăn nhu cũ. Ta cử Nột Lạt Đinh (Nur Ud Dĩn) sang làm Đạt Lỗ Hoa Xích.

Dụ cho hai sứ đòi Đại Việt tăng đồ cống, tuân theo 6 điều: Một là đích thân quốc vương phải vào chầu. Hai là đem trưởng nam làm con tin. Ba là kê biên dân số. Bốn là phải chịu quân dịch. Năm là phải nộp thuế, lương thảo. Sáu là nhận Đạt lỗ hoa xích (Đa gu ra tri).

Đồ cống phú phải nộp:

Cống người: – Nho sĩ 3 người, – Thầy thuốc 3 người, – Người giỏi âm dương, chiêm bốc, 3 người, – Các loại thợ mộc, thợ nề, thợ kim hoàn, thợ may, thợ, thợ rèn, mỹ nữ. Mỗi loại 3 người.

Cống phẩm vật: – Dầu tô hợp, quang hương, trầm hương, đàn hương, – Vàng, bạc, chu sa, ngà voi, đồ sứ, lụa, gấm, – Sừng tê, đồi mồi, trân châu.

An Nam biết rõ mưu của Tuyên phủ ty, chúng xảo trá tiếp sứ ân cần, nhưng phớt lờ các điều kiện. Hai sứ bị Câu khảo cục đóng gông đem về giam ở Yên kinh. Bọn A Nan Đáp Nhi, Lưu Thái Bình vin vào cớ này giải tán Tuyên phủ ty gồm 12 bộ. (NS q4, Thế tổ bản kỷ)

Hồng Nga tức quá chịu không được, nàng chửi đổng:

– Xảo quyệt! Lúc này là lúc Hốt Tất Liệt đang bị giải binh quyền. Thế mà bọn mưu sĩ Tuyên phủ ty vẫn trơ mặt đá, sai sứ sang ta. Hai tên sứ này bị Lưu Thái Bình gông cổ, giam ở nhà ngục Yên kinh.

– Sứ đoàn thứ tư, Tháp Sát Nhi bị Tống đánh bại tại Ngạc châu. Đại Hãn truyền Đại vương trở lại Trung nguyên thay y. Vừa từ Hoa lâm tới Yên kinh, người truyền Tuyên phủ ty sai một sứ đoàn sang An Nam. Sứ đoàn gồm 13 người. Trưởng đoàn là người Tây vực Mã Hợp Bộ (Mahmũd).

– Chỉ dụ: phải thực hoạnh họe bất cứ cớ gì tìm ra.

– Hạch sách: tại sao An Nam quốc vương nhường ngôi cho con mà không có chiếu chỉ xin trước?

– Chỉ dụ: cần hạch sách, đòi cho được cống phẩm,

– Chỉ dụ: bắt thi hành 6 điều, nhất là phải nhận Đạt lỗ hoa xích.

Vua tôi bọn An Nam không coi sứ ra gì, chúng đồng ý nộp đồ cống phẩm, nhưng không nộp người. Không chịu nhận Đạt lỗ hoa xích. Nhưng sau đó Quang Bính [chỉ vua Trần Thái Tông] sai Dương An Dưỡng đi sứ, đến Yên kinh dâng lên Đại hãn ba đạo biểu. Bấy giờ Đại hãn đang đánh Tứ xuyên, Đại vương đang vây Ngạc châu. Tuyên phủ ty sai mang ba đạo biểu tới Ngạc châu.

Đạo thứ nhất: nói về tiến dâng phương vật,

Đạo thứ nhì: xin miễn cống người.

Đạo thứ ba: xin cho Nột Lạt Đinh (Nur ud Dĩn) làm Đạt Lỗ Hoa Xích.

Nột Lạt Đinh cùng tùy tùng 42 người được gửi sang An Nam. Chúng cấp nhà cho ở, sai người hầu hạ, nhưng đó là những tên Tế tác. Sứ đoàn liên lạc với bọn thương gia Hồi. Nhưng bọn An Nam xảo trá ngầm cấm dân Việt không được giao dịch mua, bán, thậm chí nói truyện với bọn Hồi với sứ đoàn. (NS q209, An Nam truyện)

Hai nàng tiếp tục đọc:

– Sứ đoàn thứ năm, Khu mật viện nhận được thư của hai thân vương An Nam. Cả hai cùng xin làm nội ứng nếu Thiên quốc kéo quân sang.

Hồng Nga ớn gia gà, nổi gai ốc, chỉ vào tập tư liệu than:

– Oái cha mẹ ôi! Tên của hai thân vương này đánh dấu bằng hình tròn và vuông! Không biết là ai? Nếu như vậy thì quốc kế Tây thi bị lộ hết. E mười một chị em mình sẽ bị giết chết.

Hai người đọc tiếp:

– Thân vương Vuông cung cấp tin rằng Nột Lạt Đinh cũng như sứ đoàn bị gài bẫy, bị mua chuộc. Người của sứ đoàn đeo hổ phù đi lại trong Thăng long, chúng sai võ sĩ giả làm kẻ vô lại móc túi ăn cắp hết vàng bạc, kể cả Hổ phù. Sứ đoàn lâm cảnh túng thiếu. Chúng giả nhân, giả nghĩa sai bọn thương gia giầu có cho vay không lãi, rồi hứa cho không để mua chuộc. Người sứ đoàn đi tìm kỹ nữ chúng âm thầm sai các chủ kỹ viện cung cấp cho những kỹ nữ bị bệnh Dương Mai, để truyền bệnh (*). Chúng lại cho con gái đẹp làm tình nhân của Nột Lạt Đinh, rồi lại sai kẻ vô lại xưng là chồng đánh ghen. Sự việc đưa đến Phủ thừa Thăng long xử. Nhận được tin này Đại vương nổi giận sai cách chức Nột Lạt Đinh, cử Hốt Long Hải Nha (Qurung Qaya) sang thay thế.

* Ghi chú của thuật giả: Dương mai, một loại bệnh hoa liễu, rất thông dụng, thường truyền qua đường giao hoan nam nữ. Tiếng Việt bình dân gọi là Giang mai. Tiếng Pháp là syphilis.
Dương là họ của Dương quý phi. Quý phi tên thực là Dương Thái Trân, người đất Lạc thủy, tiểu tự Ngọc Trân, nhan sắc tuyệt thế. Giỏi ca, múa. Được tuyển làm phi của Lộ vương Hoàn, con trai thứ 18 của Đường Huyền tông. Được Huyền Tông gọi vào cung làm nữ quan, rồi được sủng ái, phong làm quý phi. Do đó cha, anh được trọng dụng, quyền nghiêng nước. An Lộc Sơn làm loạn, Huyền Tông chạy vào đất Thục. Khi tới Mã ngôi, Lục quân không chịu tiến, nại cớ vì Quý phi, cha, anh mà có loạn, đòi xứ tử tất cả. Huyền Tông đành xử tử tất cả tông tộc họ Dương. Phi bị thắt cổ chết. Xác vứt bên thác. Tương truyền quân sĩ thấy xác chết đẹp, thay nhau hãm hiếp rồi bị bệnh, lây cho nhau chết đến hơn nghìn người. Đời sau gọi bệnh đó là Dương phi mai quế, hoặc gọi tắt là Dương mai. Người Việt đọc trại đi thành Giang mai.
Thời trước chưa có kháng sinh, khi bị bệnh này thì coi như án tử hình. Tiếng bình dân Việt Nam có nhiều tên gọi :
– Con chim có sữa, để chỉ bệnh gây cho đường tiểu tiện chảy mủ.
– Một tiếng gọi cha, ba tiếng gọi chó, khi người bị bệnh, lúc tiểu tiện bị xót, rên: cha ơi! rồi tặc lưỡi ba lần như gọi chó.
Ngày nay trị bệnh này rất giản dị. Thuốc trị bệnh này hiệu nghiệm nhất là họ Pénicilline.

– Sứ đoàn thứ sáu, Hốt Long Hải Nha mang chiếu thư sang. Chiếu thư thống mạ bọn An Nam:

“Trẫm đọc tất cả các tờ biểu của người. Người thường dùng chữ Thượng Hạ Nhất Gia. Nay Nột Lạt Đinh trở về tâu rằng người ra lệnh cấm không cho dân chúng giao đàm với sứ đoàn, với người Hồi hột. Thế thì cái nghĩa của Thượng Hạ Nhất Gia ra thế nào? Nghĩa vua tôi như cha con. Lẽ nào con lại trái với vua cha như thế ư? Nếu trẫm không nói ra thì không thành thực. Người nên nghĩ cho phải để không trái đạo với trẫm”.

Tuy nhiên bọn An Nam vẫn cứng đầu. Đại vương lại được tin do thân vương Tròn báo rằng An Nam gửi hai hiệu binh thiện chiến tới 5 vạn người cùng mấy chục vạn hộc gạo ngon, cá khô, thịt khô, tôm khô sang trợ Tống tại mặt trận Tứ xuyên. Người chỉ huy hai hiệu binh này là con trưởng của Quang Bính, tên Trần Nhật Duy tước phong Vũ Uy vương. Y thuộc loại tài trí ngang với Hưng Đạo vương. Đại vương ban chỉ cho Tuyên phủ ty: trong khi mình chưa thể đem quân sang đánh chúng, thì cứ sai sứ sang đe dọa, không cho chúng yên.

Tư liệu “Giao chỉ vụ” đến đây thì hết.

Bạch Liên bảo Hồng Nga:

– Em tóm lược các sự kiện, rồi giữ trong mình. Ta tìm dịp gửi về nước. Triều đình phải theo dõi để biết hai thân vương mà viên Mật thư tỉnh sự đánh dấu bằng hình Vuông và Tròn là ai? Này em!

– Dạ!

– Hồi ở Văn sơn, cô Kim Bình đã dậy chúng mình 10 nụ cười để bắt nai. Từ hồi sang đây chúng mình từng áp dụng mà thành công. Bây giờ chúng mình cần xử dụng nhiều hơn, sao tìm cho ra hai tên thân vương khả ố Vuông, Tròn.

– Em nghe lời chị.

– Trong các mưu sĩ của Hốt Tất Liệt, có một người chúng ta nên nhờ ông theo dõi xem hai tên khả ố Vuông, Tròn là ai?

– ?!?

– Vương Văn Thống.

– Có phải nhạc phụ của Lý Đảm, với Yết Kiêu không?

– Đúng vậy. Trong dịp đem cháu ngoại về Yên kinh làm con tin. Ông ta được Hốt Tất Liệt tiếp kiến. Hốt Tất Liệt hỏi ông về kế sách định thiên hạ. Ông ta ứng đối như mây trôi, như nước chảy. Ý kiến của ông hợp với Hốt Tất Liệt. Ông được Hốt Tất Liệt phong làm Tham tri chính sự Tuyên phủ ty. Tức phó tể tướng.

– Hiện ông ta ở đâu?

– Tại bản doanh của Hốt Tất Liệt, đang dóng ở Ngạc châu.

Hồng Nga trở về gặp A Truật, giữa lúc viên tướng này đang chuẩn bị lên đường tới Ngạc châu. Nàng kể cho chồng nghe về diễn biến Mông Ca chết. A Truật vội vã lấy ngựa đi trong đêm. Y đến Ngạc châu vào buổi chiều hôm ấy; tìm đến doanh Hốt Tất Liệt giữa lúc Hốt Tất Liệt hội tham mưu vừa xong.

Trong buổi nghị hội này, Hốt Tất Liệt đã cùng các mưu sĩ quyết định:

Ngày mai nghị với Tể tướng Tống là Giả Tự Đạo, Mông cổ cương quyết giữ vững lập trường là không trả 10 châu, 144 thành ở Nam Trường giang cho Tống. Tống không chịu thì Mông cổ quyết hạ Ngạc châu.

Bây giờ nghe A Truật tường trình nội vụ Mông Ca. Lập tức Hốt Tất Liệt với các mưu sĩ tất cả đổi hẳn thái độ. Vương Văn Thống nói lớn:

– Đại vương! Đúng luật lệ thì Đại vương là con thứ của tiên đế, khi Mông Ca băng thì Đại vương phải được kế vị. A Lý Bất Ca không thể nhận ngôi Đại hãn. Đây Mông Ca để di chúc trái luật lệ, Đại vương không cần tuân theo. Tuy biết là di chiếu thực, nhưng mình cứ cãi rằng khẩu thiệt vô bằng. Di chiếu thực là di chiếu viết. Trong di chiếu thì Đại Hãn truyền ngôi cho Đại vương. Hoàng hậu, tuyên phi, thái tử bị A Lý Bất Ca khống chế, nên dấu di chiếu thực, rồi nói rằng chỉ có di chiếu miệng.

Ông nhấn mạnh:

– Đại vương mau phái binh qua ngả Sơn Tây đón tử quan của Mông Ca, đoạt binh phù, ngọc tỷ, rồi hội tướng sĩ lên ngôi Cửu ngũ. Nếu A Lý Bất Ca chịu thần phục thì thôi. Còn như y chống lại, thì Đại vương đem quân về Hoa lâm, bắt y thoái vị.

Liêm Hy Hiến thêm vào:

– A Lý Bất Ca đang ngồi cầm quyền ở chính quốc. Bây giờ có di chiếu của Mông Ca, thì ắt y lên ngôi Đại Hãn. Sẽ có rất nhiều thân vương, đại thần, tướng lãnh theo y. Dù muốn dù không, Đại vương cũng phải đem quân về Hoa lâm tranh phuông với A Lý Bất Ca. Trong khi trọng binh của chúng ta phải vây Ngạc châu. Chúng ta không thể chịu được hai mặt trận một lúc. Trong hai mặt trận thì mặt trận A Lý Bất Ca là lẽ sống của Đại vương. Vậy Đại vương nên buông mặt trận Tống. Ngày mai, khi nghị với Tống, Đại vương giả kò kè đòi thêm vàng, bạc, gạo, lụa đổi lấy mình đồng ý trả hết đất cho Tống, lấy sông Trường giang làm biên giới. Như vậy Tống ắt vui lòng. Ta yên tâm rút quân, quay lên Bắc tranh thắng với A Lý Bất Ca.

Hốt Tất Liệt chấp nhận mưu của Vương Văn Thống, Liêm Hy Hiến; lập tức phát binh phù sai tướng cầm về Yên kinh trao cho Hành trung thư tỉnh A Lý Hải Nha.

A Truật khải:

– Trong lúc Đại vương không có nhà. Vương phi Bạch Liên nhận được tin, sợ rằng khi Đại vương biết thì A Lý Bất Ca đã truyền lệnh chỉ đến các đạo quân, các hành tỉnh. Vì vậy phi đã tùng quyền lấy binh phù, sai hai tướng Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu, đi Yên kinh rồi.

Từ khi Bạch Liên được Hốt Tất Liệt tuyển làm thứ phi, các mưu sĩ, thân vương, tướng lĩnh chỉ thấy nàng là một thiếu phụ ôn nhu văn nhã, xinh đẹp, suốt ngày ngồi học tiếng Mông cổ, học chữ Hán; không bao giờ xen vào việc của chồng như các bà phi khác; thảng hoặc họ có lỗi, bị Hốt Tất Liệt trừng phạt thì nàng tìm đủ lý lẽ xin chồng ân xá cho họ. Vì vậy những người xung quanh Hốt Tất Liệt đều kính nể nàng như một thiên tiên. Nay họ thấy nàng tùng quyền làm một truyện mà không ai dám tưởng tượng nổi. Họ càng thêm kính phục.

Nghe A Truật trình, Hốt Tất Liệt chắp tay hướng lên trời:

– Đa tạ trời đã sai nàng xuống trợ giúp tôi.

Sáng hôm sau, cuộc nghị hòa giữa Hốt Tất Liệt với Giả Tự Đạo diễn ra trong không khí cởi mở. Mới hôm trước Mông cổ đòi giữ 10 châu, 144 thành, mà nay lại không đòi nữa. Điều ước rất lợi cho Tống:

Mông cổ đồng ý trả lại Tống 10 châu 144 thành ở Nam Trường giang. 2, Mông cổ rút quân về Bắc, lấy sông Trường giang làm biên giới hai bên. 3. Việc đi lại trên sông thì Tống kiểm soát giũa sông về Nam. Mông cổ kiểm soát giữa sông về Bắc. 4. Mỗi năm, Tống phải nộp cho Mông cổ: năm vạn lượng bạc, hai vạn lượng vàng. Mười nghìn tấm lụa. Bốn trăm nghìn hộc gạo trắng. 5. Tống không được trả thù gia đình những người Hán từng theo Mông cổ, làm quan với Mông cổ tại 10 châu, 144 thành. 6. Mông cổ phải rút quân khỏi 10 châu, 144 thành trong vòng 20 ngày kể từ ngày ký. Tất cả các cuộc giao tranh chấm dứt sau 30 ngày ký.

Thế là thỏa ước Ngạc châu trong lich sử được ký ngay. Một bữa tiệc linh đình do Tống thiết đãi hai phái đoàn.

Rời bàn hội nghị, Hốt Tất Liệt cùng chư tướng sai ngựa trạm đi báo cho tất cả các đạo quân Mông cổ ở 11 châu, 144 thành ở Nam Trường giang rút về Bắc ngạn. Vương gọi Vương Văn Thống, Diêu Khu, Hách Kinh, A Truật, Liêm Hy Hiến cùng Bạch Liên lên dường về Yên kinh. Vương chỉ đem theo một bách phu Thị vệ người Hán hộ tống. Khi còn cách Yên kinh 100 dặm, thì đã thấy một vạn phu dàn ra nghênh tiếp. A Lý Hải Nha cùng 16 Thượng thư của Tuyên phủ ty đón chào. Không cần Hốt Tất Liệt hỏi. A Lý Hải Nha tâu:

– Khi được lệnh chỉ của Đại vương do Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu mang tới. Thần điều ngay một vạn phu, gốc người Mông cổ với Lý Hằng lên đường đón tử quan của Đại Hãn, đoạt ngọc tỷ, binh phù. Hiện chưa có tin tức gì. Ngoài ra thần đã phát lệnh tới 266 hành tỉnh, đô đốc, dĩ chí các vạn phu trưởng giữ vững quân lữ, không nghe bất cứ lệnh nào khác. Nếu có sứ thần của A Lý Bất Ca tới thì bắt giải về Yên kinh ngay.

Hốt Tất Liệt đưa mắt nhìn Bạch Liên như muốn nói:

– Khanh thực là người minh mẫn.

A Lý Hải Nha cho thiết triều tại điện Quang minh.

Vương Văn Thống tâu trình:

– Đại Hãn Mông Ca là con cả của tiên đế băng thì đương nhiên Đại vương là con thứ sẽ lên thay. Chắc chắn Mông Ca hãn đã để di chiếu cho Đại vương kế vị. Nhưng chân tay của A Lý Bất Ca dấu đi, rồi bịa ra rằng Đại Hãn không để di chiếu viết mà chỉ có di chiếu miệng cho ba người hiện diện là hoàng hậu, tuyên phi và thái tử. Mông Ca hãn là người cẩn thận, vì vậy không lý nào người bị thương ba ngày mới băng, mà ba ngày đó người không sai soạn di chiếu. Vậy ngay bây giờ Đại vương với chúng tôi về Khai bình, rồi tôn Đại vương lên ngôi. Không cần đại hội Quý tộc tôn phong. Cũng không cần ngọc tỷ, cung lệnh của Thành Cát Tư Hãn nữa.

Nghe Vương Văn Thống thiết kế, Bạch Liên nghĩ thầm:

– Hỏng bét, nếu Đại vương nghe theo kế này thì Mông cổ bị chia làm hai nước, sẽ không có nội chiến, thì Hốt Tất Liệt sẽ an tâm diệt Tống, đánh Đại Việt. Mình phải cản.

Nghĩ vậy nàng nở nụ cười Cúc hoa nhật mộ (Hoa cúc về chiều), nói:

– Quân sư ơi! Ý kiến của quân sư dù Khổng Minh sống lại cũng phải khen. Thưa quân sư, nếu chúng ta làm như lời của quân sư thì xong việc ngay. Nhưng chúng ta làm thế thì Đại vương chỉ có vùng Trung nguyên thôi. Trong khi Đại vương là người tài trí, là con thứ của tiên đế. Đại vương phải có ngọc tỷ, cung lệnh thì Đại vương mới khiến cho các Hãn vùng Tây vực, các Hãn vùng Thảo nguyên quy phục. Đại vương mới có cả lãnh thổ Mông cổ khắp cả gầm trời mênh mông! Tuy nhiên kế của quân sư vẫn phải dùng. Trước hết Đại vương về Khai bình lên ngôi Cửu ngũ như Cao tổ nhà Hán, nhà Đường, rồi Đại vương chỉ cờ về Hoa lâm bắt A Lý Bất Ca cúc cung xưng thần. Đại vương phải là một Đại Hãn vĩ đại.

Nghe Bạch Liên nói trúng ý mình. Hốt Tất Liệt gật đầu:

– Ta phải là người kế vị của Mông Ca, thừa hưởng công nghiệp của đại đế Thành Cát Tư Hãn.

Hách Kinh đề nghị:

– Trong khi chờ Lý Hằng, Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu đem tử quan, ngọc tỷ, lệnh phù, binh phù của Đại hãn về, Đại vương phải gửi sứ đi khắp các chư hầu báo tang, báo việc Đại vương lên ngôi.

Hốt Tất Liệt ban chỉ cho A Lý Hải Nha:

– Người điều động Tuyên phủ ty làm ngay đi.

A Lý Hải Nha tâu:

– Khi Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu đem lệnh phù về, thần và Tuyên phủ ty đã làm rồi.

Hốt Tất Liệt, Diêu Khu, Hách Kinh, Liêm Hy Hiến đưa mắt nhìn Bạch Liên, họ cùng nghĩ như nhau:

– Từ trước đến giờ ai cũng nghĩ rằng bà phi này chỉ có sắc đẹp như hoa, ca múa, nói năng ngọt ngào. Ai ngờ khi hữu sự lại hành sự như một Tể tướng.

Hai hôm sau, bọn Lý Hằng, Ô Mã Nhi, Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu trở về Yên kinh. Bốn người tâu rằng viên vạn phu trưởng trở cờ theo Tuyên phi Thanh Liên, nên chúng thất bại, không cướp được tử quan, ngọc tỷ. Chúng bị bắt, may được một tướng Việt theo hầu Tuyên phi, đêm cắt dây trói thả ra, với lời nhắn: Đại vương không cần Ngọc tỷ, chẳng cần Hội đồng Quý tộc tấn phong, phải lên ngôi Đại hãn ngay, rồi kéo quân về Hoa lâm hạ A Lý Bất Ca xuống.

Hốt Tất Liệt hỏi Bạch Liên:

– Viên tướng này ở Hoa lâm mà lòng dạ ở Đại đô. Phi có biết tên viên tướng Việt này là gì không?

– Y tên Nguyễn Địa Lô. Đây là một người tài trí phi thường, xạ, ngự, thư số đều thông.

Hốt Tất Liệt nghĩ thầm:

– Tại An Nam, ta đã có hai tên thân vương theo ta, cung cấp tin tức cho ta. Sau này có dịp ta sẽ ban chỉ truất phế tên Quang Bính, rồi phong cho một trong hai tên làm An Nam quốc vương. Ta sẽ có những đạo binh thiện chiến, những hạm đội hùng hậu đánh Tống. Bây giờ ta có người nằm trong tim, trong gan A Lý Bất Ca âm thầm theo ta.

Nhà vua ban chỉ cho viên Mật thư tỉnh sự:

– Hãy ghi công người này, để sau ta sẽ phong thưởng cho y.

Hốt Tất Liệt, ban chỉ: tất cả văn quan, võ tướng, 16 thượng thư thuộc Tuyên phủ ty phải lên đường đi Khai bình, làm lễ lên ngôi Đại Hãn.

Nhưng vương chưa khởi hành thì có sứ giả của A Lý Bất Ca từ Hoa lâm tới báo tang Đại Hãn Mông Ca băng hà, được tôn thụy hiệu là Tuyên Túc hoàng đế, miếu hiệu là Hiến Tông. Sứ giả cũng cáo tri việc hoàng đệ A Lý Bất Ca lên ngôi Đại Hãn. Hội đồng Qúy tộc họp tại sông Long Lý Hà tấn phong A Lý Bất Ca.

Hốt Tất Liệt nổi giận hò hét định chém đầu sứ giả. Vương Văn Thống khuyên:

– Đai vương nên tự chế, để hỏi sứ giả một số tin tức.

Hốt Tất Liệt nghe theo. Vương trầm tĩnh lại hỏi:

– A Lý Bất Ca có chỉ dụ gì khác không?

Sứ giả trao chỉ dụ của tân Đại Hãn A Lý Bất Ca, tấn phong Đại vương cho Hốt Tất Liệt. Chỉ cũng phong tất cả văn võ bách quan thăng lên một bậc. Chỉ lệnh cho Hốt Tất Liệt thống lĩnh mặt trận phía Đông; Tháp Sát Nhi thống lĩnh mặt trận phía Bắc; Mật Lý Hỏa Giả, thống lĩnh mặt trận Tứ xuyên. Tất cả ngừng tiến quân trong ba tháng. Đại Hãn sẽ có chỉ dụ mới.

Sau khi tra hỏi sứ giả về việc những Hãn nào theo A Lý Bất Ca, Hãn nào chống y? Hốt Tất Liệt hỏi chi tiết về việc Thanh Liên tấn phong, trao ngọc tỷ, cung lệnh cho A Lý Bất Ca.

Cho sứ giả ra ngoài.

Bạch Liên tâu:

– Dù sao thì A Lý Bất Ca cũng chiếm được tiên cơ, chiếm được chính thống. Sự thể như thế thì Đại vương không cần tới cái Hội đồng Quý tộc, cũng không cần tới cái ngôi Đại Hãn nữa. Đại vương về Khai bình làm lễ đăng quang, lên ngôi hoàng đế, tuyên cáo thành lập nước Đại nguyên, lấy Yên kinh làm Đại đô. Biến Tuyên phủ ty thành một triều đình, đổi Tuyên phủ ty thành Nội các với 16 bộ. Tại các châu, thành lập Bình chương chính sự hành tỉnh. Lại mang binh phù tới các đạo quân trên khắp Trung nguyên, Cao ly, Hồi cương, Tây tạng, Đại lý, An Nam, Chiêm thành chỉ tuân lệnh Đại nguyên Hoàng đế mà thôi.

– Nàng thực đúng là quân sư của ta!

Hốt Tất Liệt ban chỉ cho sứ giả của A Lý Bất Ca:

– Người về tâu với em ta rằng, mai này ta lên ngôi Hoàng đế, sẽ sắc phong cho y làm Quốc vương Mông cổ. Y phải tuân phục ta.

Ngay ngày hôm đó, Hốt Tất Liệt kéo văn võ quan Trung thư tỉnh đi Khai bình làm lễ đăng quang lên ngôi Hoàng đế. Lễ đăng quang bắt chước theo lễ đăng quang của Đường Cao tổ, Tống Thái tổ, định y phục cho các quan, lấy quốc hiệu là Đại Nguyên. Chữ Nguyên dùng ý trong kinh dịch: “Càn tai! Đại Nguyên“. Lấy năm đó là Trung Thống thứ nhất, với ý nghĩa: Chính thống của Trung quốc. Trung là Trung thổ. Thống là Chính thống.

* Ghi chú của thuật giả: Thế là nước Đại nguyên trong lịch sử Trung hoa được khai sáng, không còn là Mông cổ, không còn bị gọi là bọn rợ Thát đát nữa. Suốt chiều dài lịch sử Trung quốc cho đến nay (2005), các triều đại, các sử gia, các văn nhân coi Đại nguyên là triều đình của Hoa hạ, không phải bị Mông cổ chiếm đóng, cai trị. Tộc Hán trên toàn Hoa hạ hớn hở coi Đại Nguyên như triều Hán, Đường, Tống. Các danh sĩ, võ lâm theo Đại Nguyên không còn bị coi là Hán gian nữa. Do vậy Hốt Tất Liệt dễ dàng đem quân diệt Nam Tống. Kể từ đây tôi dùng Trung Thống hoàng đế thay cho Hốt Tất Liệt.

Về nội cung, Trung Thống hoàng đế phong chánh phi tước hoàng hậu. Nhớ công lao của Bạch Liên, nhà vua phong cho nàng tước Nguyên phi. Nghĩa là phi chỉ thua có hoàng hậu thôi.

Việc đầu tiên của Trung Thống hoàng đế là sai sứ tới tất cả các tướng, các Hành tỉnh, các nước chư hầu báo tin lên ngôi. Phong chức tước cho các quan văn võ. Triều Nguyên sai sứ tới Hoa lâm phong cho Đại Hãn A Lý Bất Ca tước Mông cổ quốc vương. Mông cổ đang là đại quốc, Trung hoa là thuộc quốc, bây giờ Trung hoa trở thành Thiên quốc, Mông cổ trở lại phiên quốc như thời Liêu, Kim.

Trung Thống hoàng đế vẫn hận vụ y sai Ngột Lương Hợp Thai đánh Đại Việt, bị bại. Y sai sứ sang Đại Việt đòi triều đình tuân theo sáu điều. Nhờ tin tức của Bạch Liên báo cho Đại Hành. Đại Hành tâu về triều. Nên sứ giả của Hốt Tất Liệt đi đi, về về, nườm nượp khi thì trách móc, khi thì đòi cống vật, khi thì hăm dọa; mà triều đình Đại Việt áp dụng ngoại giao cù nhầy là sai sứ sang từ chối tuốt tuột tuồn tuốt đòi hỏi của y. Mà y đành ngậm tăm.

Mối quan tâm nhất của Đại Hãn A Lý Bất Ca cũng như hoàng đế Trung Thống là Tháp Sát Nhi. Bởi vùng trấn nhậm của vị vương này là lãnh thổ của nước Liêu xưa kia, thêm lãnh thổ của Thát Đát, và một phần lãnh thổ Trung nguyên. Vùng này nằm sát nách Hoa lâm và Thượng đô tức Yên kinh. Vương được Mông Ca phong cho vừa trấn nhậm về quân sự, lại cai trị về chính sự độc lập như vua một nước, có triều đình riêng. Vương đóng đô trong thành Thẩm dương. Vùng cai quản của vương là vùng tài nguyên súc tích, bờ xôi, giếng mật. Cả hai sai sứ lên đường đi Thẩm dương ngay. Sứ giả của Đại hãn A Lý Bất Ca, của hoàng đế Trung Thống cùng tới Thẩm dương một lúc. Tháp Sát Nhi mật nghị với Trung Thành vương Trần Tử An, với vương phi Hồng Liên. Trần Tử An khuyên:

– Ta không cho hai sứ gặp nhau. Ta tiếp từng sứ một, rồi sẽ quyết định.

Tháp Sát Nhi truyền thiết triều rồi mời sứ của A Lý Bất Ca vào.

Lễ nghi tất.

Tháp Sát Nhi hỏi:

– Sứ tới đây có việc gì?

– Khải vương gia, triều đình sai thần tới báo tang Đại Hãn Mông Ca băng hà, tôn thụy hiệu là Tuyên Túc hoàng đế, miếu hiệu là Hiến Tông. Đại Hãn A Lý Bất Ca được di chúc của hoàng đế Hiến Tông, đã lên ngôi.

Thấy chồng có vẻ muốn ngả theo A Lý Bất Ca, Hồng Liên hỏi sứ giả:

– Khi sứ chưa tới, chúng tôi đã biết hết những gì diễn ra ở Hoa lâm, ở Yên kinh. Này, trước đây tiên đế băng thì hội đồng Quý tộc tôn con trưởng của người là Mông Ca lên kế vị. Nay Mông Ca hãn băng thì con thứ của tiên đế là Đại vương Hốt Tất Liệt sẽ đương nhiên kế vị. Tại sao Hội đồng Quý tộc lại tôn A Lý Bất Ca là con thứ ba lên thay?

Sứ giả trình:

– Khải vương phi! Do di chiếu của Hiến Tông hoàng đế, chỉ định hoàng đệ A Lý Bất Ca kế vị.

– À thì ra thế. Di chiếu đó do ai soạn? Bằng chữ Hán hay chữ Thổ phồn? Chữ Tây hạ?

* Ghi chú: Mông cổ hồi đầu là một bộ tộc có vũ dũng, mà không có văn hóa, không có chữ. Khi đánh chiếm Nãi man, Thành Cát Tư Hãn dùng văn tự của nước này. Khi chiếm Tây hạ, ông dùng chữ Tây hạ. Khi chiếm các nước Trung Đông, Nga sô, Đức, ông dùng văn tự các nước này. Cuối đời ông chỉ dùng văn tự Thổ phồn (Tây tạng), Tây hạ và Hán.

(Hết Hồi 85)

Share this post